Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Malaysia
giai đoạn 2000 - 2010 và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam Phạm Xuân Huy
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ kinh tế Quốc tế
Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Thị Thanh Bình
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về FDI. Phân tích thực trạng,
những cơ hội và thách thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Malaysia. Xác định các
quan điểm, phương hướng qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Keywords: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; Malayxia; Nguồn vốn FDI; Quan hệ kinh tế Content
l. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế
thế giới và khu vực, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động chiếm vị trí
ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Việc thu hút, khai thác và
sử dụng FDI một cách có hiệu quả đang là mục tiêu hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới,
nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Malaysia và Việt Nam.
Việc gia nhập WTO (1995) đưa đến nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại những thách thức
cho Malaysia trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) nói riêng. Nguồn vốn FDI đem lại những lợi ích to lớn, có vai trò là chìa khóa
Ở nước ngoài:
Điển hình là bài nghiên cứu: "Malaysia: An Overview of the Legal Framework for
Foreign Direct Investment", của nhà kinh tế Malaysia, Arumugam Rajen, đăng trên tạp chí
Economics and Finance, số 5 (Oct/2002). Tác giả đã đề cập đến hệ thống luật pháp nhằm thu hút
FDI của Malaysia.
Cuốn sách "Invest in Malaysia: Investor’s Guide" của Ủy ban phát triển công nghiệp
Malaysia được xuất bản năm đã đưa ra cụ thể những chỉ dẫn cơ sở, luật pháp, chính sách thu hút
FDI của chính phủ Malaysia.
Công trình "Competitiveness, FDI and Technological Activity in East Asia" của chuyên
gia kinh tế Sanjaya Lall, đăng trên tạp chí Edward Elgar Express năm 2002. Tác giả nghiên cứu
tác động của FDI đối với việc nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của một số
nước Đông Á, trong đó có Malaysia.
Ngoài ra còn có một số bài viết đáng chú ý như "Malaysia Needs to Attract New Avenues of
FDI" của nhà kinh tế Angie Ng, xuất bản trên tạp chí Star Publications năm 2011 và "Malaysia’s
FDI Plunge: Who’s talking it seriously" của tác giả Ding Jo-Ann, đăng trên tạp chí Báo cáo đầu tư
thế giới (World Investment Report), năm 2010. Trước thực trạng FDI tại Malaysia đang suy giảm,
các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải thu hút nhiều FDI vào Malaysia và phân tích đưa ra những
phương hướng, chính sách ưu tiên thu hút FDI của chính phủ, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu năm 2008.
Các công trình nghiên đã phần nào đề cập và đánh giá được hiệu quả của đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Malaysia. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu khái quát
và tổng hợp các nguồn vốn FDI vào Malaysia từ năm 2000 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng và những thay đổi trong chính sách thu hút
FDI của Malaysia, rút ra một số bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Malaysia cho Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về FDI.
Phân tích thực trạng, những cơ hội và thách thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Malaysia.
Xác định các quan điểm, phương hướng qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho
Việt Nam.
tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận
được từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản
vay trong nội bộ công ty".
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là khoản đầu tư mà chủ
sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản
tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi
với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and
Development - OECD) cũng đưa ra khái niệm : "Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở
hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp
là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty".
Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 2007 đưa ra khái niệm: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam".
Tóm lại, từ những định nghĩa nêu trên cùng một số quan niệm và khái niệm khác nhau,
chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một
quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc
gia đó để có được quyền sơ sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại
quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình".
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, FDI chủ yếu được đầu tư với mục đích đầu tiên là tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp
định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc
tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
Thứ ba, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về lỗ lãi.
Thứ tư, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý cho các
nước tiếp nhận đầu tư
trình độ kỹ thuật cao cho các đối tác trong nước tiếp nhận đầu tư.
Thứ ba, FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm.
Đội ngũ lao đông trong khu vực FDI được đào tạo tay nghề, được trang bị kiến thức mới
về khoa học, quy trình công nghệ, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, kiến thức thi trường, khả năng
tư duy sáng tạo, ý thức tổ chức kỷ luật. FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong
các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, dệt, điện tử, chế biến …
Thứ tư, FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
FDI có vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn. Đối với ngành công nghiệp và dịch
vụ, dòng vốn FDI chủ yếu tập trung vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,
làm tăng nhanh tỷ trọng sản lượng công nghiệp, dịch vụ, hơn nữa còn tạo ra những sản phẩm
hàng hóa có hàm lượng tri thức cao.
Thứ năm, thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế
giới.
Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh
được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Thông qua FDI
họ có thể tiếp cận được với thị trường thế giới vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty
đa quốc gia thực hiện.
1.2.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, FDI cũng mang lại một số tác động tiêu cực, đó là:
Thứ nhất, vốn đầu tư FDI với công nghệ và kỹ thuật lạc hậu.
Thứ hai, vốn đầu tư FDI gây tổn hại đến môi trường.
Thứ ba, FDI góp phần làm gia tăng khoảng cách thu nhập.
Thứ tư, FDI có thể tạo ra sự cạnh tranh lao động và gây ra sự bất ổn xã hội.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1.3.1. Môi trường chính trị - xã hội
Ổn định kinh tế, chính trị là nhân tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư
1.3.2. Chính sách kinh tế vĩ mô
Có thể nói, đây là các nhân tố tác động mạnh hơn các chính sách khuyến khích ưu đãi về
tài chính của nước chủ nhà đối với các nhà đầu tư nước ngoài
1.3.3. Chất lượng cơ sở hạ tầng
Malaysia thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung ưu tiên phát triển mạnh
các ngành công nghiệp mũi nhọn.
2.1.5. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng
Malaysia tiếp tục chú trọng đầu tư mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại.
2.1.6. Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Malaysia có những chính sách đầu tư và liên kết đào tạo nhằm đưa Malaysia trở thành
một trung tâm giáo dục chất lượng cao trên thế giới, tạo ra đội ngũ nhân lực có trình độ, thích
ứng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức.
2.1.7. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Nhằm khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Malaysia, đặc
biệt là thông qua hình thức FDI, Malaysia có chính sách định hướng các dự án FDI sử dụng công
nghệ cao, tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm hoặc các hoạt động quan
trọng của quốc gia, tham gia vào chương trình kết nối công nghiệp
2.1.8. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về FDI
Malaysia bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến FDI theo các nguyên tắc và
quy định của luật pháp quốc tế, kể cả vấn đề trọng tài nhằm tạo sự yên tâm, tin tưởng cho các
nhà đầu tư.
2.2. Tình hình thu hút FDI của Malaysia giai đoạn 2000 - 2010
Nền kinh tế của Malaysia đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những bước thăng
trầm. Tuy ở mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng, nhưng đều có mục tiêu chung là đẩy mạnh
phát triển các ngành công nghiệp chế tạo và coi đây là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Các nước và vùng lãnh thổ đầu tư chính vào Malaysia gồm Nhật Bản, Mỹ, Singapore, Hà
Lan, Anh và Đài Loan. Đầu tư nước ngoài ở Malaysia chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản
xuất, tài chính và bảo hiểm, thông tin và truyền thông, lĩnh vực khai thác mỏ, dầu và khí đốt.
2.3. Đánh giá thực trạng thu hút FDI vào Malaysia
2.3.1. Những kết quả đạt được
2.3.1.1. Khối lượng FDI thu hút được ngày càng tăng
Theo đánh giá của UNCTAD, trong số các nước đang phát triển, Malaysia lọt vào Top 10
nước thu hút FDI nhiều nhất năm 2002.
2.3.1.2. FDI góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu.
Sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng.
Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ
sư:
Công tác giải phòng mặt bằng còn chậm.
Hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà
nước còn yếu và thiếu.
Chưa đảm bảo về bảo bệ môi trường.
Chương 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA MALAYSIA CHO VIỆT
NAM
3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa Malaysia và Việt Nam
3.1.1 Những điểm tương đồng
Malaysia và Việt Nam đều ở điểm xuất phát thấp
Hai nước đều có lợi thế về nguồn lực tài nguyên, nhân lực.
Malaysia và Việt Nam đều rất quan tâm phát triển hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, bưu chính viễn thông, điện, nước, xây dựng các khu công nghiệp, phát triển cơ sở hạ
tầng xã hội như y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội. Qua đó tạo nên những yếu tố môi trường thuận
lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Hai nước đều chủ trương tăng cường phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại theo xu hướng
tự do hóa thương mại và đầu tư.
3.1.2 Những điểm khác biệt
Malaysia kế thừa những nhân tố cho sự phát triển kinh tế của thời kỳ thuộc địa do người Anh
để lại. Nhà nước Malaysia được xây dựng theo chế độ dân chủ dựa trên thể chế chính trị đa nguyên.
Đối với Việt Nam, sau ngày giành độc lập dân tộc, bước vào thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã
hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời điểm hội nhập kinh tế quốc tế của Malaysia khá sớm, Malaysia đã thực hiện mở cửa, hội
nhập kinh tế quốc tế và chú trọng thu hút FDI ngay từ khi giành được độc lập. Đối với Việt Nam,
gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế năm 1978 đánh dấu bước đi đầu tiên trong quá trình hội
nhập vào nền kinh tế thế giới.
phép hoặc đất được cấp để vay của các tổ chức tài chính, sau đó lẩn tránh hoặc không đủ “lực”
thực hiện dự án, đã để lại hậu quả nặng nề cho các ngân hàng.
Hai là, tỷ lệ giải ngân thấp dần.
Ba là, khối doanh nghiệp FDI cũng chính là khối có kim ngạch nhập khẩu rất lớn và là
một trong những nhóm doanh nghiệp đóng góp “tích cực” vào việc nhập siêu tăng cao
Bốn là, nguồn vốn FDI vẫn tập trung vào “bất động sản”. Ngoài ra, lĩnh vực dịch vụ cũng
đã có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD; chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn
đầu tư đăng ký.
3.2.2. Quan điểm, định hướng thu hút FDI
Quan điểm thu hút FDI: Chủ trương tăng cường thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài
đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: "Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006 - 2010).
Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút đầu tư nước ngoài, hướng vào những thị trường giàu
tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất
lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài".
Để thực hiện thành công mục tiêu thu hút FDI vào thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
nhanh, bền vững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế mạnh mẽ hiện nay đòi hỏi phải có sự chuyển biến cơ bản và mạnh mẽ cả trong nhận thức
và hành động của tất cả các ngành, các cấp. Đối với lĩnh vực FDI, cần khẳng định và quán triệt
các quan điểm sau:
Thứ nhất, phải coi thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI là một bộ phận khăng khít của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, của các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Trong đó, FDI đóng
vai trò là động lực tạo sự đột phá, là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và quá
trình CNH, HĐH đất nước.
Thứ hai, thu hút và sử dụng vốn FDI với phát huy nội lực có mối quan hệ hữu cơ với
nhau, không độc lập nhau mà kết hợp chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp
để phát triển.
Thứ ba, gắn việc thu hút và sử dụng FDI với việc giữ vững an ninh quốc phòng và với
quá trình xây dựng nền kinh tế tự chủ, có khả năng ứng phó với những diễn biến bất lợi của kinh
tế thế giới.
3.2.2.2. Theo đối tác chiến lược
Căn cứ vào thế mạnh của các đối tác đầu tư nước ngoài và các lĩnh vực cần thu hút đầu
tư, có thể xác định các ngành mục tiêu ứng với các quốc gia như sau:
Nhật Bản: ưu tiên thu hút các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao (điện tử, công nghệ
thông tin) cơ khí chế tạo, hoá chất, xây dựng hạ tầng KCX - KCN, đầu tư vào ngành công nghiệp
phụ trợ, kết hợp thu hút các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu giải quyết nhiều việc làm như
giày dép, chế biến thực phẩm.
Hàn Quốc: Ưu tiên đối với đầu tư từ Hàn Quốc là các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và
ngành công nghiệp phụ trợ.
Đài Loan: Tập trung thu hút các dự án của Đài Loan vào các lĩnh vực sản xuất: thép, cơ
khí chế tạo, xe máy, xe đạp; các thiết bị điện, điện tử, linh kiện máy tính; xi măng; sợi tổng hợp,
dệt, may, giày thể thao xuất khẩu; trồng và chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và chế biến
thực phẩm phục vụ xuất khẩu.
Trung Quốc: việc thu hút đầu tư từ Trung Quốc vào lĩnh vực khai khoáng hạn chế xuất
khẩu nguyên liệu thô. Khuyến khích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào các lĩnh vực sản
xuất hàng xuất khẩu, các dự án có trình độ công nghệ cao, các dự án đặc thù như y học truyền
thống, các trung tâm dạy tiếng Trung
Ấn Độ: khuyến khích đầu tư của ấn Độ vào các lĩnh vực mà ấn Độ có thế mạnh như: sản
xuất năng lượng, công nghệ thông tin, tin học, sản xuất cơ khí, phát triển công nghệ sinh học
phục vụ nông nghiệp, sản xuất dược phẩm.
Hoa Kỳ: Lĩnh vực mà các nhà đầu tư Hoa Kỳ quan tâm và có thế mạnh, đó là: thăm dò,
khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất thép, điện, điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo,
sản xuất, lắp ráp ô tô, hoá chất - phân bón, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng khu đô
thị, các trung tâm du lịch quốc tế, nông nghiệp và chế biến nông sản, một số lĩnh vực dịch vụ tiên
tiến.
Châu Âu (EU): Tập trung thu hút mạnh đầu tư vào các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu
khí; khai thác và chế biến sâu khoáng sản; sản xuất hoá chất cơ bản, phân bón; chế tạo máy công
cụ, cơ khí, cơ khí chính xác, thiết bị điện, điện tử có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp phụ
trợ; xây dựng cơ sở hạ tầng; sản xuất hàng tiêu dùng, đồ gỗ, đồ sứ, vật liệu xây dựng, thiết bị vệ
3.3.5. Giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp
3.3.6. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực
KẾT LUẬN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã, đang và sẽ còn là nguồn vốn đầu tư quan trọng cho sự
tăng trưởng và phát triển của toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế từng quốc gia nói
riêng, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Malaysia và Việt Nam.
Tuy nhiên, nguồn vốn FDI mà chúng ta thu được còn chưa tương xứng với tiềm năng của
đất nước. Để tăng cường và nâng cao hiệu quả thu hút FDI của các nước trong khu vực và trên
thế giới, nhằm phát triển nền kinh tế Việt Nam, chúng ta cần phát huy những thành tựu đã đạt
được, đồng thời giải quyết những tồn tại, vướng mắc cũng như những yếu kém. Cụ thể là, cần
xây dựng phương hướng thu hút FDI từ nay đến năm 2020, thực hiện đồng bộ những giải pháp
cơ bản, khai thác triệt để những tiềm năng, thế mạnh và các lợi thế so sánh của Việt Nam trong
thu hút và quả sử dụng FDI, góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, thực hiện thành công sự
nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”. References
Tiếng Việt
1. Ban Kinh tế Trung ương (2003), “Những chủ trương và giải pháp cơ bản nhằm thu hút
mạnh hơn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội IX“, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
2. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2008), Một số văn bản pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
3. Phạm Thị Thanh Bình (2005), "Phát triển khoa học công nghệ ở các nước ASEAN", Tạp chí
Những vấn đề Kinh tế thế giới. (2)
4. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Nguyễn Ngọc Dũng (2006), Tìm hiểu Luật Đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị
nhân, hậu quả và những bài học kinh nghiệm với Việt Nam, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ
Chí Minh.
23. Hà Thị Ngọc Oanh (2006), Đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, NXB
Lao động - xã hội, TP. Hồ Chí Minh.
24. Quốc hội khóa VIII (1987), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
25. Quốc hội khóa VIII (1990), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam.
26. Quốc hội khóa IX (1992), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam.
27. Quốc hội khóa IX (1996), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam.
28. Quốc hội khóa X (2000), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam.
29. Quốc hội khóa XI (2005), Luật Đầu tư.
30. Nguyễn Hồng Sơn (2006), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Triển vọng thế giới và thực
tiễn Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6, tr.3-12
31. Nguyễn Huy Thám (1999), "Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các
nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
32. Võ Thanh Thu (2005), Quan hệ Kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, TP. Hồ Chí Minh.
33. Phạm Mạnh Thường (2006), "Xử lý nợ tồn đọng nhằm khắc phục khủng hoảng tài chính ở
Malaysia", Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới (5), tr 35-45.
34. Phạm Hồng Tiến (2005), "Hoạt động FDI của các Công ty xuyên quốc gia trong hơn một
thập kỷ qua" Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới (12), tr 50-58.
35. Lê Minh Toàn (2004), Tìm hiểu đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
36. Tổng cục thống kê (2004), Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN, NXB Thống kê, Hà
Nội.
37. Tổng cục thống kê (2005), Toàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21,
NXB Thống kê, Hà Nội.
54. JICA (2003), The Study on FDI Promotion Strategy in The Socialist Republic of Vietnam
(final report), Hà Nội.
55. Malaysia Industrial Development Authority (2007), Invest in Malaysia: Investor’s Guide.
56. Ministry of International Trade and Industry Malaysia (1995, 1998, 1999, 2002, 2004),
Malaysia Invesment in the Manufacturing Sector: Policies, Incentives and Facilities, MIDA,
Kuala lumpur.
57. Ministry of International Trade and Industry Malaysia (1998), Ministry of International Trade
and Industry Malaysia Report 1997/98, Kuala lumpur.
58. Prema - Chandra Athukorala (2002), Capital Account Regimes, Crisis and Adjustment in
Malaysia, The Economic Development of Southeast Asia; Edward Elgar Express.
59. Prema - Chandra Athukorala (2002), Export-led Industrialisation, Employment and Equity:
The Malaysian Case, Research School of Pacific and Asian Studies, JEL Classification 053,
F14, F43.
60. Ross Garnaut (2002), Exchange Rates in the East Asian Crisis, The Economic Development
of Southeast Asia; Edward Elgar Express.
61. Sanjaya Lall (2002), Competitiveness, FDI and Technological Activity in East Asian,
Edward Elgar Express.
62. UNCTAD (1998-2003), Word Investment Report, New York and Geneva.
63. UNCTAD (2004-2008), Word Investment Report, New York and Geneva.
Website
64. Website: www.mpi.gov.vn
65. Website: www.dei.gov.vn
66. Website: www.gso.gow.vn
67. Website: www.hapi.gov.vn
68. Website: www.vneconomy.com.vn
69. Website: www.fia.mpi.gov.vn
70. Website: www.fdiworldental.org
71. Website: wto.nciec.gov.vn
72. Website: www.mof.gov.vn