Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––– TRẦN QUANG KHỞI
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TỈNH TUYÊN QUANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn An Hà THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn An Hà, đã tận tình
chỉ bảo, hƣớng dẫn khoa học nhiệt tình, chu đáo và trách nhiệm giúp tôi thực hiện
và hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban tổ chức Tỉnh uỷ, Sở
Nội vụ tỉnh Tuyên Quang, Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ
Tuyên Quang, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân 7 huyện, thành phố đã giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi suốt
quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Trần Quang Khởi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
2.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu 30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập thông tin 30
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý thông tin 31
2.2.4. Phƣơng pháp phân tích thông tin 32
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ Ở TỈNH TUYÊN QUANG 35
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
ở tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.2. Tình hình cán bộ nữ và cán bộ nữ LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang 37
3.2. Đánh giá ƣu điểm, hạn chế về chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tỉnh
Tuyên Quang 76
3.2.1. Ƣu điểm về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL tỉnh Tuyên Quang 76
3.2.2. Hạn chế về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL tỉnh Tuyên Quang 77
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 79
3.3.1. Nguyên nhân khách quan 79
3.3.2. Nguyên nhân chủ quan 81
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH
ĐẠO, QUẢN LÝ Ở TỈNH TUYÊN QUANG 84
4.1. Yêu cầu của việc nâng cao chất lƣợng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh
Tuyên Quang 84
4.1.1. Yêu cầu của sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc 84
4.1.2. Yêu cầu của việc phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 85
4.1.3. Yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay 86
4.1.4. Yêu cầu của quá trình của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đối với
thức hoạt động của Hội LHPN và Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ 105
4.4.7. Bản thân cán bộ nữ không ngừng vƣơn lên về mọi mặt 106
4.5. Một số kiến nghị 107
4.5.1. Với Trung ƣơng 107
4.5.2. Với tỉnh 107
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
Ban Chấp hành
BTV
Ban Thƣờng vụ
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐTBD
Đào tạo, bồi dƣỡng
HĐND
Hội đồng nhân dân
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
LĐQL
Bảng 3.1: Cán bộ, công chức, viên chức nữ tỉnh Tuyên Quang năm 2005 - 2013 38
Bảng 3.2: Số lƣợng cán bộ nữ LĐQL của Tuyên Quang 39
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của cán bộ nữ LĐQL 43
Bảng 3.4: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ nữ LĐQL 44
Bảng 3.5: Trình quản lý nhà nƣớc của cán bộ nữ LĐQL 45
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về đánh giá năng lực cán bộ nữ lãnh đạo quản lý 48
Bảng 3.7: Kết quả điều tra năng lực tham gia quyết định công việc trong cơ quan 49
Bảng 3.8 : Kết quả đánh giá phân loại cán bộ cấp tỉnh, huyện hằng năm 50
Bảng 3.9: Tỷ lệ cán bộ nữ quy hoạch vào chức danh trƣởng, phó phòng, ban,
đơn vị trực thuộc sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh 52
Bảng 3.10: Quy hoạch nữ vào chức danh lãnh đạo sở, ngành, cơ quan cấp tỉnh 53
Bảng 3.11: Tỷ lệ cán bộ nữ quy hoạch BCH, BTV các huyện, thành ủy 53
Bảng 3.12: Quy hoạch cán bộ nữ các chức danh chủ chốt của các huyện, thành phố 54
Bảng 3.13: Quy hoạch cán bộ nữ vào BCH Đảng bộ tỉnh và BTV Tỉnh ủy 55
Bảng 3.14: Quy hoạch cán bộ nữ vào các chức danh chủ chốt của tỉnh 56
Bảng 3.15: Kết quả tuyển dụng cán bộ nữ cấp tỉnh, cấp huyện 59
Bảng 3.16: Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức từ năm 2005-2013 60
Bảng 3.17: Tỷ lệ cán bộ nữ giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm ở các cơ quan cấp
tỉnh, huyện 63
Bảng 3.18: Tỷ lệ giới tham gia LĐQL năm 2013 66
Bảng 3.19: Nữ cán bộ LĐQL tham gia cấp ủy Đảng các cấp 67
Bảng 3.20: Cán bộ nữ là LĐQL các ban Đảng tỉnh Tuyên Quang 68
Bảng 3.21: Cán bộ nữ tham gia LĐQL cấp tỉnh, cấp huyện 68
Bảng 3.22: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội 69
Bảng 3.23: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu và giữ chức danh chủ chốt của HĐND 69
Bảng 3.24: Tỷ lệ nữ LĐQL các ngành kinh tế cấp tỉnh, cấp huyện 69
Bảng 3.25: Cán bộ nữ cấp tỉnh đƣợc khen thƣởng từ năm 2005 - 2013 74 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vai trò của phụ nữ Tuyên Quang trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc, do vậy
công tác cán bộ nữ luôn đƣợc các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Các cấp uỷ Đảng đã nhận thức đƣợc vị trí, vai
trò của phụ nữ, cán bộ nữ và xác định công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị nên đã cụ thể hóa và quán triệt chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các chủ
trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về công tác cán bộ nữ.
Bố trí sử dụng cán bộ nữ LĐQL nữ tƣơng đối phù hợp với điệu kiện phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Các nhiệm vụ, mục tiêu tiếp tục cải cách kinh tế, đổi
mới hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị đang đòi hỏi phải xây dựng, đào tạo và rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đủ
phẩm chất chính trị, có năng lực chuyên môn, có tài, có đức, đáp ứng thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, trong đó có cán bộ nữ mà đặc biệt là
cán bộ nữ LĐQL trong các tổ chức của hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, số lƣợng cán bộ nữ giữ các vị trí LĐQL ở Tuyên Quang vẫn chƣa
tƣơng xứng với tiềm năng và đóng góp của họ. Nhiệm kỳ 2010-2015, tỷ lệ nữ giữ chức
vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện và các sở, ban, ngành còn thấp; nhiều lĩnh
vực số lƣợng cán bộ nữ hạn chế và có những ngành có đông cán bộ nữ lại không có
LĐQL là nữ Bên cạnh việc tham gia LĐQL với một tỷ lệ còn hạn chế thì chất lƣợng
của đội ngũ cán bộ nữ ở tỉnh Tuyên Quang cũng còn bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu
của nhiệm vụ đặt ra. Trình độ học vấn, năng lực LĐQL, phẩm chất đạo đức, lối sống,
khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân giao phó của một bộ
phận cán bộ nữ tham gia LĐQL còn hạn chế.
Là một cán bộ công tác trong cơ quan tham mƣu của Tỉnh ủy Tuyên Quang về
công tác tổ chức cán bộ, nhận thấy việc nghiên cứu, đƣa ra giải pháp để tiếp tục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ nữ là một việc làm có ý nghĩa, góp phần nâng
cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của CNH-HĐH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xem xét, nghiên cứu thực trạng chất lƣợng cán bộ, công chức nữ
lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh ở Tuyên Quang.
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2005 đến nay và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
Địa điểm nghiên cứu ở 7 huyện, thành phố và một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần hệ thống rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về
chất lƣợng của nữ cán bộ LĐQL và vai trò của phụ nữ trong LĐQL nói chung và ở tỉnh
Tuyên Quang nói riêng.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn chỉ ra những ƣu điểm, hạn chế về chất
lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL ở tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời, đề xuất hệ thống các
giải pháp đồng bộ bảo đảm phát huy vai trò của phụ nữ trong LĐQL, đáp ứng yêu cầu
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nƣớc.
Về mặt thực tiễn:
- Luận văn ở mức độ nhất định góp phần làm rõ tính đặc thù của công tác cán
bộ nữ, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện của các cơ quan
Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức đoàn thể trong việc tuyển chọn, đánh giá, quy hoạch,
đào tạo, bồi dƣỡng và quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ LĐQL.
- Các giải pháp nêu trong luận văn có thể áp dụng để đổi mới và nâng cao
chất lƣợng đội ngũ cán bộ nữ LĐQL ở Tuyên Quang.
- Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng quy
hoạch cán bộ, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, từ đó góp phần xây dựng đội ngũ
cán bộ công chức trong sạch, có năng lực, đáp ứng yêu cầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 4 chƣơng, gồm:
Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng cán bộ nữ LĐQL.
Khoản 1 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Khoản 2 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính
trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan
chuyên nghiệp và trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công
chức trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ
quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Khái niệm cán bộ nữ
Từ khái niệm cán bộ, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn tham gia
hoạt động của phụ nữ vào các cơ quan công quyền, có thể đƣa ra một định nghĩa khái
quát về cán bộ nữ nhƣ sau: cán bộ nữ là một bộ phận trong tổng thể đội ngũ cán bộ của
Đảng, là một bộ phận tiên tiến của phong trào phụ nữ Việt Nam, đƣợc bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức
cƣơng vị nòng cốt trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân
đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ
sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy LĐQL của đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.1.5. Cán bộ LĐQL theo phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh Tuyên Quang
Theo Quy định số 07-QĐ/TU ngày 12/02/2008 của BTV Tỉnh uỷ Tuyên Quang về
phân cấp quản lý cán bộ thì đối tƣợng cán bộ LĐQL gồm 4 nhóm đối tƣợng sau:
* Đối tượng 1 là cán bộ LĐQL diện BTV Tỉnh uỷ quản lý toàn diện bao gồm:
- Uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh (bao gồm cả Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ)
- Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Trƣởng, phó các ban
Đảng, Chánh, phó Văn phòng Tỉnh uỷ.
- Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng Trƣờng Chính trị tỉnh, Tổng biên tập, phó tổng
biên tập Báo Tuyên Quang.
- Bí thƣ, Uỷ viên Đảng đoàn HĐND tỉnh; Phó chủ tịch, Uỷ viên thƣờng trực
HĐND tỉnh; Trƣởng ban, Phó trƣởng ban HĐND tỉnh, Chánh văn phòng, Phó
chánh văn phòng Đoàn Đại biểu quốc hội và HĐND tỉnh.
- Bí thƣ ban cán sự đảng; giám đốc, phó giám đốc sở, trƣởng phó, ban ngành
cấp tỉnh và tƣơng đƣơng.
- Bí thƣ đảng đoàn; chủ tịch, phó chủ tịch: UBMTTQ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh,
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh; Bí
thƣ, phó bí thƣ Tỉnh đoàn.
- Bí thƣ, phó bí thƣ, uỷ viên BTV huyện, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ;
chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên thƣờng trực HĐND huyện, thành phố; chủ tịch, phó
chủ tịch UBND huyện, thành phố.
- Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng các trƣờng chuyên nghiệp và dạy nghề của tỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
quyền lực, địa vị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
- Giới nữ có tính kiên trì, thuyết phục, thận trọng, tiết kiệm và có tinh thần
trách nhiệm cao, ít sai phạm nên "Phụ nữ là nhân tố làm lành mạnh hóa chính trị và
xã hội". Tính đoàn kết tăng lên, dân chủ hóa tăng lên, chống tham nhũng có hiệu
quả hơn. Phụ nữ quản lý tài chính rất công minh chính trực. Hiệu quả giải quyết các
xung đột xã hội cũng tốt hơn
- Phụ nữ nếu làm cùng một công việc, đặt đúng vị trí, thì phụ nữ phát huy có
khi còn tốt hơn nam giới, do phụ nữ có tính thuyết phục cao hơn, chu đáo hơn. Ở vị
trí lãnh đạo, việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nữ có ƣu trội hơn, nhƣng ở vị trí chỉ huy
nhƣ ra trận, cần sự xông xáo, quyết đoán thì nam ƣu trội hơn.
- Thế mạnh của cán bộ nữ LĐQL là tính kiên trì, thuyết phục, vận động quần
chúng hiệu quả. Triển khai kế hoạch cụ thể, chi tiết và chu đáo.
Tham gia LĐQL vừa là dịp thử thách năng lực, phẩm chất của ngƣời phụ nữ, vừa
là cơ hội tốt cho sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Nhờ đó, từng bƣớc tiến của phụ nữ
trong hoạt động chính trị sẽ là từng bƣớc thúc đẩy quá trình giải phóng phụ nữ, thực hiện
bình đẳng nam - nữ. Đó là mặt tích cực, mặt thuận của đối tƣợng đƣợc xem xét. Trong
việc tham gia LĐQL, phụ nữ do nhiều lý do, nguyên nhân cũng có những mặt hạn chế,
những khó khăn, những yếu tố nghịch. Điều đó biểu hiện ở một số điểm sau:
- Phụ nữ có những hạn chế về thể lực và do đó là hạn chế về sức chịu đựng
những căng thẳng của hoạt động chính trị (hoạt động LĐQL).
- Tính quyết đoán mạnh mẽ trong những trƣờng hợp cần thiết thì khả năng đáp
ứng của nữ LĐQL nhiều khi không theo kịp.
- Dù ở đỉnh cao quyền lực hay giữ những cƣơng vị, trọng trách lớn, phụ nữ cũng
không thể sao nhãng thiên chức làm vợ, làm mẹ cũng nhƣ chăm lo đời sống gia đình -
đây là nét đặc trƣng của ngƣời phụ nữ Á Đông nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng.
- Khác với nam giới, những đặc trƣng nữ tính cẩn trọng, chu đáo, kiên trì chịu
Công ƣớc này qui định, phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử,
ứng cử, quyền đƣợc nhận vào làm việc và giữ các chức vụ trong các cơ quan nhà nƣớc.
Thứ hai là Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự
nguyện (thông qua năm 1962). Công ƣớc này khẳng định phụ nữ có quyền tự do lựa chọn
ngƣời phối ngẫu, phụ nữ đƣợc bảo vệ chống lại các tệ nạn tảo hôn và cƣỡng ép kết hôn…
Thứ ba là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) (thông qua năm 1979, có hiệu lực năm 1981). Công ƣớc quy định về quyền
con ngƣời và những tự do cơ bản khác, theo đó, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành các
biện pháp gồm cả pháp luật trong những lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá để
đảm bảo sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ, để họ có thể đƣợc đảm bảo việc thực hiện
và hƣởng thụ những quyền cơ quản và những tự do khác trên cơ sở bình đẳng với nam
giới. Điều 10(a) của công ƣớc đặc biệt kêu gọi các quốc gia thành viên phải đảm bảo sự
tham gia bình đẳng của nam giới và phụ nữ trong mọi lĩnh vực đào tạo ở các cấp.
Bên cạnh các công ƣớc của Liên Hợp quốc, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã
ban hành một số công ƣớc nhằm bảo vệ sự bình đẳng trong trả công, bảo hộ việc làm
và hỗ trợ các lao động đặc thù nhƣ Công ƣớc về phân biệt đối xử trong việc làm và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
nghề nghiệp (1958), Công ƣớc về bình đẳng trong trả công lao động (1951), Công ƣớc
về chính sách việc làm (1964), Công ƣớc về bình đẳng cơ hội (về việc làm) và đối xử
với lao động nam và nữ, những ngƣời lao động có gánh nặng gia đình (1973) v.v…
1.1.5. Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ nữ LĐQL
1.1.5.1. Khái niệm chất lượng cán bộ nữ LĐQL
- Chất lƣợng của từng cán bộ, cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ
năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lƣợng của từng cán bộ là yếu tố cơ
bản tạo nên chất lƣợng của cả đội ngũ.
- Chất lƣợng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ
đƣợc tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lƣợng và độ tuổi bình quân đƣợc
Làm cách mạng với khát vọng giải phóng dân tộc, điều mà Hồ Chí Minh quan
tâm trƣớc hết ở ngƣời cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức. Ngƣời cho rằng, đạo đức
chính là cái gốc quan trọng hàng đầu của ngƣời cách mạng, đối với ngƣời cán bộ, nếu
thiếu hoặc yếu về đạo đức cách mạng thì không thể làm tốt những công việc đƣợc
giao. Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi ngƣời và đặc biệt cần thiết cho ngƣời
cán bộ. "Ngƣời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành
đƣợc nhiệm vụ cách mạng vẻ vang". Ngƣời đòi hỏi ngƣời cán bộ phải giữ đƣợc đạo
đức cách mạng, đó mới là ngƣời cán bộ chân chính. Chỉ khi có đầy đủ đạo đức cách
mạng thì cán bộ mới có đủ điều kiện làm cách mạng.
Đạo đức của ngƣời cán bộ, nhất là cán bộ LĐQL mà trong đó cán bộ nữ
LĐQL là một bộ phận có tác động rất lớn đối với nhân dân, có ảnh hƣởng rất lớn
đối với hiệu quả lãnh đạo và quản lý của ngƣời cán bộ. Nếu ngƣời cán bộ có đầy đủ
các phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ thì nhân dân sẽ tin tƣởng họ,
tin tƣởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, từ đó nhân dân tự giác thực hiện chủ
trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Ngƣợc lại nếu
ngƣời cán bộ không đủ các phẩm chất trên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân,
ảnh hƣởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, họ trở thành sâu mọt hại
dân, hại chính quyền.
Ngƣời cán bộ LĐQL chỉ tuyên truyền, phổ biến chủ trƣơng, đƣờng lối, chính
sách thôi chƣa đủ mà họ phải là ngƣời tiền phong gƣơng mẫu trong việc chấp hành
chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách đó, nói đi đôi với làm, họ phải là tấm gƣơng sáng
để nhân dân noi theo, nhƣ Bác Hồ đã dạy: Một tấm gƣơng sáng còn giá trị hơn một
triệu bài diễn văn tuyên truyền.
Ngƣời cán bộ có đạo đức cách mạng là ngƣời phải tích cực đấu tranh chống lại
các tiêu cực của xã hội nhƣ: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, sa sút về đạo
đức lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội
bộ, dối trá, lƣời biếng, suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, phai nhạt lý tƣởng cách mạng
Ngƣời cán bộ có tinh thần đạo đức cách mạng là ngƣời cán bộ hội tụ đủ 5 đức tính,
đó là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Những đức tính tốt đẹp đó phải thể hiện ra bên ngoài
là hiệu quả.
Năng lực đầu tiên mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở ngƣời cán bộ cách mạng là năng
lực LĐQL, là khả năng tổ chức động viên quần chúng thực hiện tốt chủ trƣơng,
đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Vì cán bộ là cầu nối, là
ngƣời đem chính sách của Đảng, của Chính phủ đến với nhân dân, nên đòi hỏi cán bộ
phải có năng lực này, nếu không thì không xứng đáng là cán bộ cách mạng. Và để
tuyên truyền thực hiện tốt đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
luật của Nhà nƣớc trong quần chúng, đòi hỏi cán bộ phải có năng lực thực hành dân
chủ, nghĩa là phải có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tin ở quần chúng và học
hỏi chính quần chúng, "Không học hỏi dân thì không lãnh đạo đƣợc đƣợc dân và cần
phải có sự giúp đỡ của dân, vì "dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm đƣợc. Dân
chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên".
Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của ngƣời cán bộ thể hiện ở những
điểm: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng và tổ chức kiểm
soát cho đúng. Để quyết định vấn đề một cách cho đúng cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm
đƣợc thông tin và xử lý thông tin, đƣa ra phƣơng án để lựa chọn, quyết định.
Có thể nói năng lực là yếu tố rất quan trọng, nó quyết định hiệu quả công việc của
ngƣời cán bộ. Thực tế năng lực của chủ thể (cán bộ) bao gồm nhiều yêu tố nhƣng trong
đó có hai yếu tố quan trọng cơ bản tạo thành hai điều kiện cần và đủ cho chủ thể, đó là
năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực chủ thể chỉ xuất hiện và tồn tại ở con
ngƣời, phát triển dần theo lứa tuổi, đồng thời nó phụ thuộc vào sức khỏe, kỹ năng điều
khiển hành vi, trình độ văn hóa, nhận thức và trình độ giao tiếp của mỗi ngƣời.
Năng lực thƣờng có quan hệ mật thiết với quyền lực, hiệu lực và hiệu quả.
Quyền lực chỉ là tiền đề cho năng lực, năng lực là thƣớc đo hoặc là chuẩn mực biểu
thị quyền lực của bộ máy nhà nƣớc trong thực tiễn đời sống xã hội. Nếu một cá
nhân hay một tổ chức nào đó có một khối quyền hạn to lớn do cơ quan nhà nƣớc có
quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của tổ chức và nhân dân
theo chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Đặc biệt
trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng đang hình thành ở nƣớc ta với sự tác động
không nhỏ của nó (cả tích cực và tiêu cực) tới cuộc sống của mỗi ngƣời trong đó cả
đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc, thì việc giữ vững tác phong lối sống của
ngƣời cán bộ là vấn đề rất quan trọng. Thực tế đã không ít cán bộ bị sa ngã trƣớc
những cám dỗ vật chất, lối sống thực dụng, vị kỷ làm giảm uy tín của ngƣời cán bộ
"là công bộc của dân", làm mất lòng tin của nhân dân. Vì vậy để nâng cao năng lực
của cán bộ cần thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị.
Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính nhà nƣớc là sự tác
động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội. Đó là những thủ pháp mà nhà quản
lý sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc
cụ thể đặt ra. Hoạt động quản lý vừa đƣợc coi là một khoa học, vừa là nghệ thuật.
Để thực hiện đƣợc hoạt động này, đòi hỏi cán bộ cần phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng
những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nƣớc thì mới có đƣợc kỹ năng, phƣơng pháp
quản lý. Thực tế cho thấy có những cán bộ nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết
nhƣng thiếu kiến thức quản lý thì năng lực hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế. Vì
thế những kiến thức quản lý hành chính nhà nƣớc cũng là yếu tố quan trọng trong
năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ.
Để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao, ngƣời cán bộ còn phải có kiến thức về
nhiều lĩnh vực khác nhƣ quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Bên cạnh những tiêu chí nêu trên thì sức khỏe (thể chất tâm lý) cũng là một
tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ. Sức khỏe của mỗi ngƣời đƣợc đánh giá qua
nhiều tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
Nếu chỉ có trình độ năng lực chuyên môn mà không có sức khỏe dẻo dai, bền
bỉ thì cũng không thể biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạt động thực tiễn đƣợc.
b) Năng lực tổ chức, quản lý và điều hành
Năng lực tổ chức thể hiện ở việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ
phận cấu thành cơ quan, đơn vị hoặc toàn ngành, cùng với đó việc tuyển dụng cán