Giải pháp phát triển vùng nguyên liệu tại công ty cổ phần mía đường lam sơn đến năm 2010 - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU.
Thời gian thực tập 15 tuần là khoảng thời gian giúp cho sinh viên tiếp
xúc với điều kiện thực tế cũng như thực hành các chuyên ngành đã được đào
tạo. Trên tinh thần đó, qua 5 tuần thực tập tại Xí nghiệp nguyên liệu của Công
ty cổ phần mía đường Lam Sơn đã giúp cho em có những hiểu biết về quá
trình hình thành, phát triển, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
công tác lập kế hoạch nguyên liệu của công ty; nhận thức được những vấn đề
còn tồn tại hiện nay và định hướng giải quyết của công ty trong thời gian tới.
Dưới đây là phần trình bày của em về những kiếm thức đã thu thập và tìm
hiểu được trong giai đoạn thực tập tổng hợp tại Xí nghiệp nguyên liệu.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Vận giảng viên trường
đại học kinh tế quốc dân cùng các cán bộ trong xí nghiệp nguyên liệu đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ để em hoàn thành bản báo cáo này.
Chương 1:
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG LAM SƠN- LASUCO.
I. Quá trình thành lập và các giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần
mía đường Lam Sơn.
Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn (Lamsơn sugar Join Stock
Corporation) -Lasuco- có trụ sở chính đặt tại thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hoá, đế nay đã trải qua 25 năm xây dựng và phát triển.
Trong chặng đường 25 năm, Lasuco đã có nhiều lần thay đổi tên gắn với
những chương trìnhh mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm và đa dạng hoá chủng loại sản phẩm sản xuất; tiến tới thành lập tập
đoàn kinh tế Lam Sơn. Quá trình hình thành và phát triển của Lasuo có thể
chia làm 3 giai đoạn:
1. Giai đoạn 1980- 1988.
Ngày 12/1/1980; Phó Thủ Tướng Đỗ Mười ký quyết định số 24/TTg phê
duyệt nhiệm vụ thiết kế, xây dựng nhà máy đường Lam Sơn, công suất 1.500
Tấn mía/ ngày, thiết bị và công nghệ của hãng FCB cộng hoà Pháp.
Ngày 31/3/1980; Bộ trưởng lương thực, thực phẩm Ngô Minh Loan ký

hùng lao động thời kỳ đổi mới” và nhiều phẩn thưởng cao quý.
3. Giai đoạn 2000-2006.
Ngày 5/12/1999; Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 1133/QĐ-TTg
chuyển Công ty đường Lam Sơn thành Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn.
ngày 19/12/1999 đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty cổ phần mía đường
Lam Sơn . Ngày 1/1/2000 công ty đã đi vào hoạt động theo hình thức công ty
cổ phần; vốn điều lệ là 186 tỷ đồng trong đó vốn Nhà nước chiếm 37,5%; cán
bộ công nhân viên là 32,4%; nông dân trồng mía 22,5%; vốn ngoài doanh
nghiệp là 7,6%. Sau 6 năm thực hiện cổ phần hoá, sản xuất kinh doanh liên
tục tăng trưởng với tốc độ cao, bình quân 18%/năm, lợi nhuận, nộp ngân sách
Nhà nước, thu nhập người lao động và cổ tức đều tăng cao vượt mục tiêu đề
ra. Sản lượng mía vụ ép 2000-2001 là 665,026 nghìn tấn, vụ 2004-2005 là
945,832 nghìn tấn với năng suất tương ứng là 55 và 58,5 tấn/ ha.
Hiện nay công ty có 5 phòng ban với đội ngũ cán bộ công nhân viên là
1685 người trong đó có 302 kỹ sư; 156 người có trình độ cao đẳng, trung cấp;
1217 công nhân kỹ thuật lành nghề.
II. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn.
1. Chức năng:
Tổ chức sản xuất, chế biến đường, cồn, sữa, bánh kẹo…đảm bảo số
lượng và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Phấn đấu tiết kiệm chi phi sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm.
2. Nhiệm vụ:
- Công tác kế hoạch: Căn cứ vào chiến lược phát triển của công ty, năng
lực thiết bị máy móc, lao động và nhu cầu thị trường, tiến hành xây dựng các
kế hoạch năm; tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch tới các đơn vị và giám
sát, đánh giá kế hoạch thông qua các báo cáo.
- Công tác nhân sự: Chấp hành nghiêm túc điều lệ, nội quy, quy chế của
pháp luật Nhà nước.
- Công tác tài chính: Tuân thủ theo các quy định của Nhà nước về công
tác quản lý tài chính, kế toán.

Phòng KH
đầu tư
TT NC
giống mía
Phòng
TC-KT
Ban DA
bò sữa
Văn phòng
TH
Nhà máy
cồn I
Nhà máy
cồn II
Phòng VT
TTSP
Xí nghiệp
NL
Ban văn
hoá, y tế,
giáo dục
Nhà máy
đường I
Nhà máy
đường II
trại
TNKHKT
CN bò ữa
LS
Phòng

phí, hạ giá thành sản phẩm so với định mức giao, khoán.
- Du nhập các loại giống mía đảm bảo cơ cấu phù hợp với vùng mía Lam
Sơn, vừa đáp ứng yêu cầu rải vụ, chín sớm, chín muộn, chín trung bình, chịu
hạn, chịu sâu bệnh vừa có năng suất cao.
- Tổ chức thu hoạch, vận chuyển đảm bảo ổn định và đủ công suất ép
của các Nhà máy theo kế hoạch của công ty và cam kết với hai Nhà máy
đường trong mọi thời tiết.
• Nhiệm vụ của Xí nghiệp Nguyên liệu.
Công ty giao trách nhiệm cho Xí nghiệp Nguyên liệu quản lý, khai thác
có hiệu quả toàn bộ tài sản cố định và lực lượng lao động để thực hiện nhiệm
vụ sản xuất theo kế hoạch của công ty giao hàng năm, cụ thể như sau:
- Công tác kế hoạch: Căn cứ các chiến lược phát triển của công ty, khả
năng vùng nguyên liệu công ty giao các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm
(vụ). Trên cơ sở đó xí nghiệp xây dựng các kế hoạch và biện pháp thực hiện
trình tổng giám đốc duyệt. Tổ chức triển khai, thực hiện và báo cáo tình hình
thực hiện các kế hoạch đã được phê duyệt (Hàng năm bộ phận kế hoạch tham
mưu cho Tổng Giám Đốc giao kế hoạch hàng năm cho Xí nghiệp Nguyên
liệu và tổ chức hướng dẫn xí nghiệp xây dựng các kế hoạch).
- Công tác tổ chức nhân sự: Xí nghiệp tuân thủ các quy định của công ty
về tổ chức và nhân sự (chi tiết trong tổ chức bộ máy và quản lý lao động của
công ty).
- Công tác đầu tư, thu mua mía: Tuân thủ các quy định của công ty và
pháp luật. Xí nghiệp có trách nhiệm huy động tối đa toàn bộ các năng lực
được giao để tổ chức đầu tư, thu mua, cung ứng mía nguyên liệu theo kế
hoạch. Trong trường hợp thấy cần thiết phải bổ sung tài sản phục vụ hoạt
động sản xuất, Xí nghiệp Nguyên liệu có quyền lập phương án báo cáo Tổng
Giám Đốc xem xét và trình Hội đồng quản trị quyết định.
- Công tác tài chính: Tuân thủ các quy định của công ty và Nhà nước về
công tác quản lý tài chính- kế toán. Căn cứ vào tình hình hoạt động, các mức
định khoán, hàng tháng xí nghiệp lập kế hoạch chi tiền mặt trình Tổng Giám

thành một trong những doanh nghiệp sản xuất mía đường hàng đầu ở phía
Bắc.
Ngoài sản phẩm đường, với hai nhà máy cồn với công suất lên tới 27
triệu lít/năm, trong đó nhà máy cồn số II với công suất 25 triệu lít/ năm được
xây dựng năm 2004 chuyên sản xuất cồn phục vụ cho xuất khẩu. Năm 2005
đã sản xuất được 11,86 triệu lít cồn.
Nhà máy bánh kẹo (công ty cổ phần chế biến thực phẩm Lam Sơn)
hàng năm sản xuất một lượng bánh kẹo tới 5000 tấn và phục vụ chính cho
việc xuất khẩu.
Nhà máy sữa (Công ty TNHH sữa Milas) tuy mới được xây dựng và đi
vào hoạt động năm 2005 nhưng hàng năm đã cung cấp cho thị trường 100
nghìn tấn sữa tươi.
2. Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất của Lasuco trong những năm
gần đây.
Một số chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2000-2005.
TT Chỉ tiêu ĐVT 2000 2001 2002 2003 2004 2005
I Sản phẩm SX
chủ yếu
Tấn
1 Mía ép ” 970.945 745.000 810.167 933.728 1.038.180 757.430
2 Đường các
loại
“ 111.718 83.293 83.162 102.370 119.140 84.609
3 Cồn các loại 1000L 1.776 1.704 1.949 1.920 4.372 11.956
II Sản phẩm
tiêu thụ
Tấn
1 Đường các
loại
“ 113.962 83.965 83.539 97.478 124.407 94.439

so với năm 2003 tương ứng với 13,14% thì năm 2005 con số này là 32.316
triệu đồng tăng 3.595 triệu đồng so với năm 2004 tương ứng với 12,52%, có
thể thấy qua 3 năm thì nộp ngân sách nhà nước tương đối đồng đều.
Lợi nhuận thu được của công ty từ kinh doanh không có lãi năm 2003 thì
đến năm 2004 lợi nhuận thu được là 77.556 triệu đồng và con số này đã tăng
lên tới 85.130 triệu đồng năm 2005tăng 7.574 triệu đồng tương ứng với tốc độ
tăng là 9,77%.
Đặc biệt năm 2004 nhà máy cồn số 2 bắt đầu đi vào sản xuất đã tăng sản
lượng cồn từ 1.920 nghìn lít năm 2003 lên tới 4.372 nghìn lít năm 2004,
nhưng trong giai đoạn đầu do thiếu nguyên liệu sản xuất nên nhà máy vẫn
chưa đạt công suất đề ra là 25 nghìn lít/ năm, năm 2005 sản lượng cồn mới
chỉ là 11.956 nghìn lít tăng 5,91 lần so với năm 2003 và 3,75 lần so với năm
2004, tuy đã tăng vọt so với những năm trước tuy nhiên vẫn chưa đạt được
công suất như thiết kế. Năm 2005 khối lượng cồn mới chỉ đạt 88% kế hoạch
đề ra. Giá bán cồn bình quân có thuế là 5.879 đồng/lít, tăng 1.815 đồng/ lít so
với năm 2004 và 2.276 đồng/ lít so với năm 2003.
Doanh thu và lợi nhuận tăng đã khiến cho thu nhập bình quân của người
lao động cũng tăng đáng kể và đạt 2,5 triệu đồng/ người/ tháng tăng 1,14 lấn
so với năm 2004 và 1,12 lần so với năm 2003.
3. Về vùng nguyên liệu mía Lam Sơn.
Năm 2005 công ty đã triển khai dự án thay đổi cơ cấu giống mía. Vụ
2006-2007 đã trồng được 4.409 ha mía giống mới, chiếm 23% diện tích mía
toàn vùng, dự kiến sẽ thu hoạch trên 300.000 tấn mía nguyên liệu. Vụ thu
năm 2006 đã trồng 409 ha giống mía mới đảm bảo cung cấp đủ mía vụ 2007-
2008.
Công ty đã có những chính sách đối với nguyên liệu mía và điều chỉnh
kịp thời đáp ứng nguyện vọng của người trồng mía như: Trợ giá bằng phân
bón, tập trung chỉ đạo từng bước khắc phục một số vấn đề còn tồn tại trong
các khâu làm đất, trồng mới và chăm sóc mía…. hạn chế các thiệt hại do thiên
nhiên gây ra, giữ được sản lượng mía có tụt giảm song không nhiều, vùng

- Về đầu tư xây dựng cơ bản:
Nhà máy sản xuất cồn số II với công suất 25 triệu lít/ năm đã hoàn
thành đưa và sử dụng, nhưng thiếu nguyên liệu sản xuất, giá cả vật tư tăng
cao, kinh doanh đang gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm.
Dự án phát triển chăn nuôi bò sữa cơ bản đã được thực hiện đúng kế
hoạch đề ra, mặc dù có nhiều sự quan tâm trong đầu tư, trong quản lý và điều
hành nhưng cũng đã đặt ra nhiều vấn đề phải được giải quyết kịp thời về quy
mô, về thị trường tiêu thụ, về bù đắp chi phí vốn đầu tư.
- Về bộ máy quản lý và vấn đề lao động:
Lao động dôi dư nhiều nên việc bố trí việc làm gặp nhiều khó khăn trong
tình hình công ty giảm biên chế ở các đơn vị, bộ máy nhân sự chậm đổi mới,
trì trệ, cơ chế tiền lương còn nhiều bất hợp lý.
Bộ máy tổ chức quản lý từ HĐQT, đến các phòng ban đơn vị còn nhiều
bất cập, trách nhiệm phân công không rõ ràng, hiệu lực quản trị và điều hành
thấp. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2001 đã được chứng nhận nhiều
năm nhưng vận hành thiếu nghiêm túc, còn mang tính hình thức thập chí đối
phó.
2. Nguyên nhân của các tồn tại.
- Về nguyên liệu: Nguyên liệu mía không ổn định một mặt do nhận thức
chưa đúng đắn của người dân trồng mía, họ chưa thực sự hiểu về những biến
động trên thị trường, những khó khăn mà công ty phải đối mặt trong thời gian
qua, họ chỉ quan tâm tới lợi ích của bản thân mình và sẵn sàng chuyển đất
canh tác sang trồng cây khác thay cho cây mía khi thấy lợi nhuận thu về cao
hơn. Mặt khác cũng do yếu tố chủ quan trong quá trình quản lý và điều hành
phát triển vùng mía.
- Về sản xuất:
Chương trình thị trường và xuất khẩu chưa được chú trọng và vẫn còn là
khâu đáng quan tâm nhưng không có nhiều chuyển biến mới.
Công tác thị trường và tiêu thụ sản phẩm của công ty cho đến nay chưa
tổ chức thực hiện tập trung đầu mối, tổ chức quản lý và điểu hành vẫn còn

thông qua các hình thức hỗ trợ giá một cách gián tiếp như: Cung cấp phân
bón cho người dân, hỗ trợ cho các địa phương các xã có mía theo phương
thức 1 tấn mía tương ứng với 1% giá mía.
- Về bộ máy quản lý và vấn đề lao động: Lasuco luôn xác định nguồn lực
đầu tiên và quan trọng nhất là con người, vì thế công ty luôn chú ý quan tâm
đặc biệt tới người lao động bằng các cơ chế, chính sách: Đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ hiểu biết mọi mặt phù hợp với tiến
trình hội nhập. Tiến hành soát xét, đánh giá, tổ chức lại và phát huy tốt nhất
đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật giỏi, có trình độ
tay nghề kỹ thuật cao một cách thường xuyên. Như cơ chế thu hút và đãi ngộ;
cơ chế tiền lương, tiền lương đúng mức sẽ gắn hưởng thụ với trách nhiệm và
cống hiến, với kết quả và hiệu quả công việc được giao.
Tích cực nâng cao việc chấn chỉnh, lập lại kỷ cương trong công tác quản
lý, lấy hiệu quả làm thước đo để đánh giá năng lực tổ chức điều hành của đội
ngũ cán bộ .Thực hiện cơ chế gắn trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc
hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ được giao với chính sách đãi ngộ, trả
lương, thưởng, đề bạt, đào tạo…Thực hiện triệt để khoán sản phẩm, thưởng-
phạt nghiêm túc cho tất cả các đơn vị sản xuất, các phòng ban và bộ phận
quản lý điều hành. Dành 1-1,5% lợi nhuận sau thuế để thưởng cho bộ phận
quản lý nếu thực hiện tốt kế hoạch được giao. Triển khai thực hiện quy chế
tiền lương, thu nhập gắn với sắp xếp định biên lao động. Đẩy mạnh các phong
trào thi đua, chống mọi biểu hiện bình quân, cào bằng, ỷ lại, trông chờ.
- Về đầu tư, xây dựng cơ bản:Thực hiện soát xét và hoàn chỉnh cơ chế
quản lý và sử dụng thiết bị, cơ chế chế cấp phát vật tư đúng quy trình hiệu
quả.
II. Trong dài hạn.
• Về nguyên liệu:
- Tổ chức thực hiện tốt chương trình hợp tác liên kêt “công - nông - trí”
cùng với các huyện, các xã, các nông trường xây dựng và nâng cao chất
lượng, hiệu quả vùng mía đáp ứng đủ công suất của các nhà máy đường, cồn.

• Về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
- Xúc tiến kêu gọi đầu tư và liên doanh, liên kết mở rộng thêm một số
mặt hàng có lợi thế về thị trường trong nước và xuất khẩu như: Sản xuất thức
ăn chăn nuôi, giấy bao bì cao cấp; công nghiệp chế biến gỗ; chế biến nước
quả và nhà máy cung cấp nước sạch cho khu công nghiệp và dân cư…Tăng
thêm các mặt hàng sản phẩm mới, tăng thu nhập và tạo việc làm cho công
nhân.
• Về bộ máy quản lý:
- Tập trung chỉ đạo soát xét, tổng kết, đánh giá hệ thống cơ chế quản trị
doanh nghiệp hiện hành, sửa đổi bổ sung hoàn chỉnh ban hành và áp dụng có
hiệu quả hệ thống quy chế mới “minh bạch, công khai, cởi mở”, đưa công
nghệ thông tin vào quản lý điều hành sản xuất kinh doanh, thích ứng với cơ
chế thị trường khi niên yết chứng khoán, đáp ứng yêu cầu của xu thế hội nhập
toàn diện. Cần tập trung ban hành các quy chế sau: Quy chế quản lý lao động
và tiền lương; quy chế đầu tư xây dựng cơ bản; quy chế quản lý đầu tư tài
chính; quy chế quản lý mua bán vật tư hàng hóa sản phẩm.
Chương 4:
CÔNG TÁC KẾ HOẠCH NGUỒN NGUYÊN LIỆU TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG LAM SƠN.
I. Quy trình lập kế hoạch.
1. Các loại Kế hoạch nguyên liệu của Lasuco.
Kế hoạch nguyên liệu tại Lasuco được chia thành 3 loại:
Kế hoạch 5 năm (kế hoạch dài hạn): Gồm các nội dung và chỉ tiêu nhằm
cụ thể hoá chiến lược pháp triển của công ty. Đây được coi là cơ sở để xây
dựng các kế hoạch trung và ngắn hạn.
Kế hoạch 2 năm (kế hoạch trung hạn): Chi tiết cho kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch năm (kế hoạch ngắn hạn): Cụ thể hoá kế hoạch 5 năm và 2
năm, được lập cho 1 vụ ép.
Kế hoạch năm được coi là các chỉ tiêu bắt buộc, mang tính chất cố định,
khó thay đổi. trong khi đó kế hoạch 2 năm và kế hoạch 5 năm mang tính chất

này xác định các chỉ tiêu về:
- Diện tích mía cần bón thúc.
- Diện tích mía cần phun thuốc sâu.
- Các chỉ tiêu về kế hoạch chăm sóc mía.
- Diện tích mía cần bóc lá.
Các kế hoạch chi tiết: kế hoạch phun thuốc sâu cho mía; kế hoạch tập
huấn kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh; kế hoạch tập huấn kỹ thuật luân canh…
II. Công tác đánh giá, giám sát, điều chỉnh Kế hoạch nguyên liệu.
1. Mối quan hệ giữa Kế hoạch nguyên liệu và các kế hoạch khác của
công ty.
Kế hoạch nguyên liệu có quan hệ trực tiếp với các kế hoạch khác như kế
hoạch vận chuyển mía; kế hoạch sản xuất tại các nhà máy đường; kế hoạch cơ
giới làm đất; kế hoạch nghiên cứu giống mới và trồng mía. Đây được coi là
các kế hoạch bộ phận trong kế hoạch sản xuất tổng thể của công ty. Các kế
hoạch trên có mối quan hệ mật thiết tã động qua lại lẫn nhau và giữa chúng
cần có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, nếu một kế hoạch thay đổi có thể
dẫn tới sự thay đổi của các kế hoạch khác. mối quan hệ này được biểu hiệu
qua sơ đồ 2.
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa Kế hoạch nguyên liệu và các kế hoạch khác
trong kế hoạch sản xuất kinh doanh của Lasuco.
2. Đánh giá, giám sát và điều chỉnh kế hoạch.
Việc giám sát, đánh giá và điều chỉnh Kế hoạch nguyên liệu do ban lãnh
đạo công ty , phòng kế hoạch công ty và Xí nghiệp Nguyên liệu đảm nhiệm.
Công việc này được thực hiện thường xuyên theo tháng, theo tuần thậm chí
KH sản xuất tổng
thể của Lasuco
KH
nguyên
liệu
KH

năng suất mía.
- Đánh giá công tác điều hành và vận chuyển mía.
- Đề ra kế hoạch và biện pháp thực hiện kế hoạch cho vụ sau để tăng
diện tích, năng suất khối lượng mía và đem lại thu nhập cao cho người trồng
mía.
- Nêu lên các kiến nghị đối với công tác nguyên liệu.
Do nguyên liệu sản xuất chính là cây mía, do đó hoạt động sản xuất chịu
ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố bên ngoài như: Thời tiết, giao thông vận
tải…Do đó đòi hỏi Kế hoạch nguyên liệu phải linh hoạt và cần có sự điều
chỉnh theo các tình huống cụ thể như trong trường hợp mưa kéo dài làm cho
lượng mía thu mua không đảm bảo đủ số lượng và chất lượng so với kế hoạch
đề ra. Khi đó Xí nghiệp Nguyên liệu phải có thông báo gửi lên tổng công ty.
Ban lãnh đạo công ty sẽ xem xét báo cáo này và có thông báo kịp thời gửi tới
các đơn vị thành viên để điều chỉnh kế hoạch của đơn vị mình cho phù hợp
với điều kiện hiện tại, tránh tình trạng lãng phí kinh phí và lao động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status