Mục lục
M c l cụ ụ 1
I.M uở đầ 2
II.N i Dungộ 3
1.Tri t h c l gì?ế ọ à 3
2.Ph ng Tây v ph ng ôngươ à ươ Đ 3
3.So sánh các i m khác bi t c b n gi a tri t h c ph ng tây c i v đ ể ệ ơ ả ữ ế ọ ươ ổ đạ à
tri t h c ph ng ông c iế ọ ươ đ ổ đạ 7
4.Liên h th c t ệ ự ế 13
III.K t lu nế ậ 15
IV.T i li u tham kh oà ệ ả 16
16
I. Mở đầu
Triết học đã trải qua hàng nghìn năm phát triển đã đạt được những thành tựu
to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Dù triết học phương Đông và phương Tây ra đời gần như cùng thời điểm
(khoảng thế kỉ VIII đến VI trước công nguyên) nhưng giữa chúng có những
điểm khác biệt căn bản. Những sự khác biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về
điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội,… từ sự khác nhau về quan
niệm sống, cách sống của người phương Tây và người phương Đông.
Triết học phương Tây và phương Đông đều giải quyết mặt của vấn đề cơ
bản của Triết học tuy nhiên lại có sự khác nhau trong cách giải quyết cũng như
sự tập trung giải quyết mặt thứ nhất hay mặt thứ hai.
Nghiên cứu sự khác biết giữa triết học phương Tây và triết học phương
Đông sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về triết học cũng như năm bắt được
rõ hơn vấn đề cơ bản của triết học.
Chúng ta hãy xem xét rõ hơn về sự khác nhau này.
II. Nội Dung
1. Triết học là gì?
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời
gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số
đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận từ đó xây
dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ
ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới
là vũ trụ quan, bản thể luận ). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông
- Tây.
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà
khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên
thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà
giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.
Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải
thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải
tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho
con người hoà đồng với thiên nhiên.
Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc
đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết
định đến thượng tầng kiến trúc.
Phương Đông Phương Tây
Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng cảm
nhận các mối quan hệ
Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, quyết
liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức —
Con người, đạo học
Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự
vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh
quanh những lối cũ, bề ngòai
Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng
phong phú, cụ thể
khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết
hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.
Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức
cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và
đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy
chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề,
biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học
phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn để không bị lưới
giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương
Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác
nhau.
Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi
bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.
Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến
hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau
phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng
có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng
tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển
theo hướng đi lên.
Một nét nữa của triết học Tây - Đông là theo thống kê thì triết học phương
Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn,
hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận,
khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực
giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn,
tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý
nhiều tới quan hệ
3. So sánh các điểm khác biệt cơ bản giữa triết học phương tây cổ đại và triết
hội.
ở ấn độ tư tưởng triết học ấn độ cổ đại được hình thành từ cuối thiên niên kỷ
II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan thần
thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất
tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại. ở
ấn độ nguyên tắc “thiên nhiên hợp nhất” lại có màu sắc riêng như:
Xu hướng chính của Upanishad lànhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm, tôn
giáo trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sángtạo và
chi phối thế giới này. Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất, là căn
nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ nhận thức được
mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn khỏi sự lo âu khổ nào của
đời sống trần tục và ràng buộc của thế giới này là “tinh thần vũ trụ tối cao”
Brahman, là thực thể duy nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là
cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về với nó sau khi chết. Tóm
lại Brahman là tinh thần vũ trụ, là đấng sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại
đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồn tại thực sự, là khách thể.
Còn Atman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hoá, là
chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ cư trú trong con người mà thôi.
Linh hồn con người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “tinh
thần tối cao”. Vì Atman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xác con người ở
đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linh hồn, “cái ngã”
là cái khác với “linh hồn vũ trụ”, khác với nguồn sống không có sinh, không
có diệt vong của vũ trụ.
Vậy nên kinh Vêđa nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn, cúng tế bắt
chước hoà điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành lễ ở hình thức bên ngoài. Còn
kinh Upanishad quay vào hướng nội để đi từ trong ra, đồng nhất cá nhân với
vũ trụ bằng tri thức thuần tuý kinh nghiệm.
Đối với phương Tây lại nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con
người là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giới khách
quan. Và cũng chính từ thế giới khách quan khách nhau nên dẫn đến hướng
với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau
triết học. Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồn tại phải
khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội.
Thứ ba, Lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy vọt về
chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp
xen kẽ. ở ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đại vẫn
giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công nguyên
đến thế kỷ 19).
Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi
sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở
nhân – lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó ví
như Lễ thời tiền Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá, thời Hán biến thành tam
cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ,
bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó
hơn là vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thức triết học
mới. Do vậy nó không mâu thuận với các học thuyết đã được đặt nền móng
từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong
các trường phái không gay gắt và cũng không triệt đêt. Có tình trạng đó
chính là do chế độ phong kiến quá kéo dài và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai
cấp trong xã hội đan xen cộng sinh bên nhau.
Ngược lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt. ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ,
bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính
chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường phái Talét, Hêraclit đến
Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hà lan, triết học cổ
điển Đức Và hơn nữa cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật mang tính
chất quyết liệt, triệt để hơn.
Thứ tư, Sự phân chia trường phái triết học cũng khác:
ở phương Đông đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy tâm biện
chứng, siêu hình không rõ nét. Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn đi sâu
Thứ sáu, Tuy cả hai dòng triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng về
giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có liên
quan. Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên dẫn
đến hai phương pháp tư duy khác nhau.
Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nênlà tư duy tất định – tư duy vật
lý chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫu nhiên xuất hiện. Còn
phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những
cấu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xác nhưng lại hiểu cách nào cũng
được, nó gói được cả cái ngẫu nhiên mà ngày nay khoa học gọi là khoa học
hỗn mang – dự báo.
4. Liên hệ thực tế
ở thời đại chúng ta, hệ thống tư tưởng phương Đông dù đã trải qua hàng
ngàn năm lịch sử vẫn không mất đi ánh hào quang rực rỡ, vẫn được tiếp tục
nghiên cứu ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thừa hưởng những giá trị của triết học phương
Đông và phương Tây; đặc biệt là của triết học Mác - Lênin và phát triển
thành một triết học mang sắc thái Việt Nam. Các sách của Khổng Tử và
Mạnh Tử có những luận điểm tương đồng với tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhân cách người làm quan và người cán bộ cách mạng và về lấy dân làm
gốc, v.v… Khổng Tử cho rằng có bốn điều kiện cơ bản tạo thành nhân cách
của người làm quan: “Một, trước hết phải có trí tuệ. Hai, có trí tuệ nhưng
đức nhân không đủ duy trì trí tuệ, thì tuy làm được quan, nhưng rồi cũng
đánh mất trí tuệ và mất chức. Ba, có trí tuệ, có nhân đức đủ duy trì trí tuệ,
nhưng không thành tâm trân trọng con người, thì dân chúng cũng chẳng ai
kính trọng nào. Bốn, có đủ trí tuệ, có đức nhân đủ duy trì trí tuệ, lại thành
tâm trân trọng con người, nhưng hành động không theo phép nước thì cũng
chưa phải người xứng đáng làm quan”.
Nhân cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên thời đại ngày nay đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói đến nhiều trong các trước tác của Người và nói một