Báo cáo " Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ và những điểm khác biệt cơ bản so với pháp luật Việt Nam " doc - Pdf 11

Tìm hiểu hệ thống pháp luật Hoa Kỳ tạp chí luật học số 12/2010 11
TS. Vũ Thị Lan Anh *
1. Ngun phỏp lut iu chnh quan h
hp ng
Phỏp lut hp ng l mt trong nm ni
dung ln ca phỏp lut dõn s Hoa K, bờn
cnh phỏp lut v bi thng thit hi ngoi
hp ng, s hu, tha k v gia ỡnh. Ngun
lut ch yu iu chnh quan h hp ng
Hoa K l ỏn l. n l l nhng bn ỏn ó
c to ỏn tuyờn trong quỏ kh, c ỏp
dng nh tin l cho nhng v vic tng t
v sau. n gia th k XIX, cỏc to ỏn
Hoa K mi bt u xõy dng mt cỏch h
thng nhng nguyờn tc phỏp lớ v hp
ng. Nhng thnh qu t c trong lnh
vc phỏp lut hp ng to nn tng phỏp lớ
cho cỏc hot ng kinh doanh phỏt trin
t nc non tr ny, ỏp ng nhu cu ca
nn kinh t th trng t do v nng ng.
Vỡ th, th k XIX c coi l thi hong
kim ca phỏp lut hp ng Hoa K.

h kinh doanh, bao gm mua bỏn hng hoỏ,
thuờ ti sn, chng khoỏn trong ú cú cỏc
quy nh v hp ng gia cỏc thng nhõn
nh giao kt hp ng, iu kin mua bỏn,
cỏc bin phỏp m bo cho ngi bỏn
(3)

Ngoi ra, mt s quy nh liờn quan n hp
ng cú th tỡm thy trong cỏc lut liờn
bang,
(4)
cỏc o lut ca cỏc bang v nhng
lnh vc c th
(5)
v B lut dõn s mt s
bang nh Louisiana, California. Tuy nhiờn,
vai trũ ca lut thnh vn trong lnh vc hp
ng khỏ hn ch vỡ khụng phi l ngun
lut c bn iu chnh quan h hp ng.
* Ging viờn Trung tõm lut so sỏnh
Trng i hc Lut H Ni
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 12 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010

Ngoài pháp luật quốc gia, các điều ước quốc
tế cũng được coi là nguồn pháp luật hợp đồng
của Hoa Kỳ. Công ước Liên hợp quốc về hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980

2. Khái niệm hợp đồng
Pháp luật về hợp đồng của các nước theo
dòng họ pháp luật Anh - Mỹ nói chung và
Hoa Kỳ nói riêng không có sự phân biệt giao
dịch và hợp đồng. Hợp đồng được hiểu theo
nghĩa rộng, bao gồm cả giao dịch đơn
phương và hợp đồng theo cách hiểu truyền
thống của dòng họ pháp luật châu Âu lục
địa. Theo luật án lệ của Hoa Kỳ thì hợp đồng
được hiểu là một hoặc một số lời hứa, nếu vi
phạm thì pháp luật buộc phải bồi thường
hoặc buộc thực hiện lời hứa như một nghĩa
vụ.
(6)
UCC phân biệt “thỏa thuận” và “hợp
đồng”, theo đó, thoả thuận là sự mặc cả giữa
các bên trên thực tế được thể hiện bằng lời
nói hoặc các hình thức khác (Điều 1-201-3),
còn “Hợp đồng là tổng hợp nghĩa vụ pháp lí
phát sinh từ thỏa thuận
(7)
giữa các bên do
Luật này xác định và được bổ sung bởi các
luật khác” (Điều 1-201-12).
(8)
Về bản chất,
theo cách hiểu của người Mỹ thì hai khái
niệm “hợp đồng” nêu trên là tương đồng.
Trên thực tế, do án lệ là nguồn luật quan
trọng và chủ yếu trong lĩnh vực hợp đồng

Nam khác nhau ở chỗ: 1) Theo pháp luật Hoa
Kỳ, lời hứa của một bên (giao dịch đơn
phương) cũng có thể là hợp đồng, trong khi
đó, ở Việt Nam, hợp đồng bắt buộc phải có sự
thoả thuận của hai bên; 2) Hợp đồng theo
pháp luật Hoa Kỳ thường phải có consideration
nhưng đây là khái niệm xa lạ với pháp luật
Việt Nam. Sự khác biệt này xuất phát từ quan
niệm khác nhau về hợp đồng giữa hai dòng
họ pháp luật mà hai hệ thống pháp luật này
trực thuộc. Tuy nhiên, xét về bản chất, cho
dù có theo dòng họ pháp luật nào thì quan
niệm về hợp đồng của Hoa Kỳ và Việt Nam
đều có những điểm chung sau: Thứ nhất, có
sự thoả thuận (hoặc cam kết) giữa các bên
tham gia quan hệ; Thứ hai, sự thoả thuận
(hoặc cam kết) của các bên làm phát sinh sự
ràng buộc pháp lí (nghĩa vụ pháp lí).
3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Theo luật án lệ của Hoa Kỳ, hợp đồng có
hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau: 1) Có
sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên
một cách tự nguyện; 2) Các bên có năng lực
kí kết hợp đồng;
(10)
3) Có nghĩa vụ đối ứng,
trừ một số trường hợp ngoại lệ; 4) Mục đích
của hợp đồng phải hợp pháp hoặc không trái
với chính sách công; (v) Hình thức hợp đồng
phải phù hợp với quy định pháp luật.

không bên nào có thể thực thi nghĩa vụ hợp
đồng, ví dụ ở Hoa Kỳ, một số loại hợp đồng
bắt buộc phải kí bằng văn bản, nếu các bên
không tuân thủ quy định này thì hợp đồng bị
coi là không thể thực thi. BLDS năm 2005
của Việt Nam cũng lần đầu tiên đưa ra căn cứ
hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể
thực hiện được (Điều 411). Tuy vậy, với cách
quy định tại Điều 411 “Trong trường hợp
ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng
không thể thực hiện được vì lí do khách quan
thì hợp đồng này bị vô hiệu” có thể tạo ra sự
hiểu nhầm là trong mọi trường hợp, khi có lí
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 14 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010

do khách quan làm cho đối tượng của hợp
đồng không thể thực hiện được thì hợp đồng
sẽ bị coi là vô hiệu. Ví dụ: A kí hợp đồng mua
hàng của B nhưng không may, số hàng này
gặp hỏa hoạn và bị tiêu huỷ toàn bộ. Rõ ràng
đối tượng của hợp đồng này không thể thực
hiện được nhưng không thể nói hợp đồng bị
vô hiệu. Hợp đồng vẫn có hiệu lực, bên bán
vi phạm hợp đồng (không giao được hàng
cho bên mua) nhưng do gặp phải lí do bất khả
kháng nên được miễn trách nhiệm hợp đồng.
4. Hình thức hợp đồng

sản vô hình có giá trị trên 5.000 USD; 2)
Thoả thuận mua bán đất đai; 3) Thoả thuận
không được thực hiện đầy đủ trong vòng 01
năm kể từ ngày xác lập; 4) Thoả thuận bảo
lãnh nợ thay cho người khác; 5) Thoả thuận
về của hồi môn hoặc cấp dưỡng cho con; 6)
Thoả thuận cho thuê tài sản với giá trị hợp
đồng từ 1.000 USD trở lên
Như vậy, theo pháp luật Hoa Kỳ, hình
thức hợp đồng do các bên tự định đoạt. Các
quy định về hình thức văn bản của hợp đồng
chỉ bảo vệ những lợi ích công cần thiết, tránh
các hiện tượng gian dối, lừa đảo.
(12)
Tòa án
chỉ can thiệp buộc bên có nghĩa vụ phải thực
hiện cam kết của mình, nếu các quy định về
hình thức đã được tuân thủ. Pháp luật Hoa
Kỳ còn quy định những trường hợp ngoại lệ
khi hợp đồng không tuân thủ hình thức văn
bản nhưng vẫn có hiệu lực pháp lí.
(13)

Điều 401 BLDS năm 2005 của Việt Nam
quy định hợp đồng có thể được giao kết bằng
văn bản, lời nói hoặc hành vi, nếu pháp luật
không yêu cầu hình thức nhất định. Trường
hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được
công chứng, chứng thực, đăng kí hay xin
phép thì bắt buộc phải tuân thủ yêu cầu này.

hợp đồng vô hiệu nếu pháp luật có quy định.
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng
thời gian qua cho thấy toà án đã tuyên bố
nhiều hợp đồng bị vô hiệu do vi phạm về
hình thức (ví dụ: hợp đồng mua bán nhà
không có công chứng, chứng thực hợp lệ).
5. Thủ tục giao kết hợp đồng
Cũng giống như Việt Nam, thủ tục giao
kết hợp đồng ở Hoa Kỳ gồm hai bước: đề
nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
(GKHĐ). Sự khác biệt giữa pháp luật hai
nước trong thủ tục GKHĐ thể hiện ở cách
xác định thời điểm GKHĐ. Hoa Kỳ - đại
diện điển hình của dòng họ pháp luật Anh -
Mỹ theo thuyết “gửi” (Mail box theory), coi
thời điểm GKHĐ là thời điểm bên chấp nhận
đề nghị GKHĐ gửi chấp nhận đề nghị đi. Còn
Việt Nam, cũng giống như nhiều nước thuộc
dòng họ pháp luật châu Âu lục địa, coi hợp
đồng được hình thành vào thời điểm bên đề
nghị nhận được chấp nhận đề nghị GKHĐ. Ví
dụ, ngày 1/11/2010, A gửi đề nghị bán một
lô hàng cho B. Ngày 7/11/2010 B gửi thư
qua bưu điện đồng ý mua lô hàng. Ngày
10/11/2010 A nhận được thư chấp nhận đó.
Theo pháp luật Hoa Kỳ, hợp đồng được giao
kết vào ngày 7/11 nhưng theo pháp luật Việt
Nam thì lại là ngày 10/11. Do quan niệm về
thời điểm hình thành hợp đồng khác nhau
nên trong thực tiễn kinh doanh quốc tế giữa

bên bị vi phạm dự kiến có thể đạt được khi
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 16 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010

hợp đồng được thực hiện. Đây là cách xác
định thiệt hại phổ biến nhất được biết đến
dưới tên gọi “thước đo kì vọng” (expectation
measure). Cách tính toán thiệt hại này tương
đương với việc bồi thường thiệt hại bị bỏ lỡ
theo pháp luật Việt Nam (Điều 302 Luật
thương mại năm 2005).
+ Thiệt hại do tín nhiệm: Bên vi phạm sẽ
phải bồi thường những chi phí và tổn thất
phát sinh do đã tin tưởng là hợp đồng sẽ
được thực hiện. Loại bồi thường này chỉ
được áp dụng khi không thể chứng minh
thiệt hại kì vọng và số tiền bồi thường không
được vượt quá mức lợi nhuận dự kiến.
+ Thiệt hại ấn định: Khi kí kết hợp đồng,
các bên có thể ấn định trước khoản tiền bồi
thường cố định khi hợp đồng bị vi phạm, dựa
trên sự tính toán mức thiệt hại dự kiến hoặc
thực tế. Có thể nói về hình thức, bồi thường
thiệt hại ấn định gần giống chế tài phạt hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam nhưng về bản
chất thì khác hẳn. Ở Hoa Kỳ, hình thức bồi
thường này chỉ được áp dụng nếu nhằm mục
đích dự kiến thiệt hại có thể phát sinh trong

việc bồi thường bằng tiền tỏ ra không hợp lí
mà thôi. Trong khi đó, ở Việt Nam, buộc
thực hiện đúng hợp đồng là chế tài khá phổ
biến, được quy định tại Điều 297 Luật
thương mại năm 2005.
- Huỷ bỏ hợp đồng: Đối với những vi
phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, bên bị vi
phạm có quyền lựa chọn: hoặc yêu cầu thực
hiện hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại,
hoặc yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng và bồi thường
thiệt hại. Đối với những vi phạm không cơ
bản, bên bị vi phạm không được quyền yêu
cầu huỷ hợp đồng mà chỉ có thể đòi bồi
thường thiệt hại. Quy định này khá tương
đồng với Điều 425 BLDS và Điều 312 Luật
thương mại Việt Nam năm 2005. Pháp luật
Việt Nam còn quy định một trường hợp nữa
có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng, đó là khi
các bên đã thoả thuận trước trong hợp đồng
điều kiện huỷ bỏ.
Như vậy, nếu như ở Việt Nam có nhiều
chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp
đồng thì ở Hoa Kỳ chỉ có ba chế tài, trong đó
chế tài chủ yếu lại là bồi thường thiệt hại. Kể
cả hình thức phạt hợp đồng khá phổ biến ở
Việt Nam thì Hoa Kỳ lại không có khái niệm
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 17

đồng Hoa Kỳ và Việt Nam mang những nét
đặc trưng cơ bản về hợp đồng của dòng họ
pháp luật mà mình trực thuộc./.

(1). Alan Scott Rau, Robert F. Windfohr & Anne
Burnett Windfohr (The University of Texas at Austin
School of Law), Contract law in the United States: An
overview, Nguồn: http://www.jurisdoc tor.adv.br/legis/
contract.htm

(2). UCC do Viện luật Mỹ kết hợp với Hội nghị quốc
gia các uỷ viên Hội đồng thống nhất pháp luật bang
(NCCUSL) để soạn thảo ra. NCCUSL là hiệp hội
chuyên xây dựng các bộ luật mẫu để các bang thông
qua. Viện luật Mỹ là tổ chức phi lợi nhuận gồm các
giáo sư, thẩm phán, luật sư uy tín, có nhiệm vụ làm rõ
pháp luật về mặt học thuật, hiện đại hoá và hoàn thiện
pháp luật.
(3).Xem: TS. Vũ Thị Lan Anh, “Hợp đồng thương
mại và pháp luật về hợp đồng thương mại các nước
trên thế giới”, Tạp chí luật học, số 11/2008, tr. 5.
(4). Ví dụ: Luật về chữ kí số trong thương mại quốc tế
và trong nước (Electronic Signatures in Global and
National Commerce Act).
(5). Ví dụ: Luật thống nhất về giao dịch điện tử (Uniform
Electronic Transactions Act).
(6). §1 Restatement (Second) of the law of contracts.
Nguồn: http://www.lexinter.net/LOTWVers4/definition
_of_contract.htm
(7). Thoả thuận được hiểu theo nghĩa của Điều 1-201-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status