1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung trước đây gọi là dị sản cổ tử cung
hay nghịch sản cổ tử cung hay loạn sản cổ tử cung là những tổn thương tiền
ung thư của tế bào biểu mô cổ tử cung. Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
có thể tồn tại lâu hay tự khỏi nhờ hệ miễn dịch của bệnh nhân. Một số nhỏ
trường hợp có thể tiến triển thành ung thư, điều trị tổn thương ở giai đoạn
tiền ung thư thì có thể phòng ngừa ung thư cổ tử cung.
Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung là tình trạng tế bào bao phủ cổ tử
cung phát triển bất thường. Những thay đổi này mới diễn ra ở phần trên lớp tế
bào đáy, chưa xâm lấn vào mô đệm cổ tử cung. Đa số tổn thương xảy ra ở
vùng chuyển tiếp của cổ tử cung (vùng biểu mô chuyển sản tái tạo). Từ thập
niên 90, qua nhiều nghiên cứu dịch tể người ta đã xác định vai trò gây bệnh
dẫn đến tổn thương tiền ung thư của HPV (Human Papilloma Virus), là tác
nhân gây biến đổi tế bào cổ tử cung( loạn sản cổ tử cung) và tổn thương tiền
ung thư thường phát hiện trong khoảng 25-35 tuổi[ 35],[36],[17], [18], [28].
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tần suất mắc ung thư cổ tử cung
có xu hướng tăng lên. Nếu không đưa ra các biện pháp dự phòng, can thiệp
sàng lọc định kỳ và có hệ thống để phát hiện các tổn thương tiền ung thư
cũng như điều trị kịp thời và hiệu quả thì trong vòng 10 năm nữa, tỷ lệ mới
và chết do ung thư cổ tử cung sẽ tăng thêm 25 % [39]. Tỷ lệ sống 5 năm
sau phẫu thuật là 90 % đối với ung thư CTC tại chỗ và giảm đáng kể còn
14 % đối với ung thư cổ tử cung giai đoạn IV. Tỷ lệ ung thư CTC xâm lấn
đã giảm đáng kể trong 40 năm qua do những chương trình tầm soát phát
hiện sớm[45].
Theo thống kê, trên thế giới mỗi năm có khoảng 260.000 ca tử vong
do ung thư cổ tử cung với 85% phụ nữ ở những nước nghèo, là ung thư
đứng hàng thứ hai sau ung thư vú [41]
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIẢI PHẪU HỌC ỨNG DỤNG CỔ TỬ CUNG
1.1.1. Giải phẫu đại thể [30].
Cổ tử cung là phần hẹp và thấp nhất của tử cung, có nguồn gốc từ
đoạn cuối ống cận trung thận, có cấu trúc mô - sợi, bao phủ bởi biểu mô lát
ở cổ ngoài và biểu mô trụ ở ống cổ tử cung, chiều dài khoảng 3 cm, đường
kính khoảng 2,5 cm, nhô vào trong âm đạo, có hình trụ của người chưa đẻ,
hình nón cụt của người đã đẻ, teo nhỏ hình chóp nhọn ở phụ nữ mãn kinh.
Cổ tử cung bao gồm 2 phần: phần dưới nằm trong âm đạo gọi là cổ ngoài
chiếm khoảng ½ độ dài, là phần có thể thấy được khi khám bằng mỏ vịt,
phần trên tiếp nối với thân tử cung bằng eo tử cung. Ống cổ tử cung thông
với buồng tử cung qua eo tử cung ở phía trên, đi từ lỗ trong ra lỗ ngoài cổ
tử cung mở vào khoang âm đạo.
Hình 1. Sơ đồ đường sinh dục nữ:
Âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, thân tử
cung, vòi tử cung và buồng trứng
Hình 2. Biểu mô lát tầng, biểu mô
trụ và ranh giới lát trụ tại cổ tử cung
4
- Biểu mô lát tầng không sừng hóa lót mặt trong thành âm đạo và túi
cùng âm đạo, liên tục đến cổ ngoài, nhạy cảm với sự thay đổi nội tiết tố
sinh dục nữ.
- Biểu mô tuyến ống cổ tử cung có các nếp gấp tạo thành ống tuyến
phát triển xuống mô liên kết bên dưới, tạo thành các phức hợp mào tuyến.
dày biểu mô lát sẽ bị giảm đi đáng kể.
Biểu mô lát được phân cách với mô liên kết và mô cơ-sợi bên dưới
bằng một hệ thống sợi mảnh, tạo thành màng đáy. Mô liên kết được cấu tạo
chủ yếu bởi các sợi collagen, có mật độ cao nhất ở mặt ngoài cổ tử cung và
lỏng hơn ở vùng quanh các tuyến của ống cổ tử cung. Sợi cơ trơn và sợi
đàn hồi thưa thớt, ngoại trừ ở phần eo tử cung. Mặt dưới biểu mô lát có các
nhú liên kết nhô về phía bề mặt biểu mô với độ cao khoảng 1/3 bề dày biểu
mô và chứa các mao mạch nuôi dưỡng[ 30], [64].
1.1.2.1. Biểu mô lát không sừng hóa
Biểu mô này hiện diện ở môi nhỏ, âm đạo và liên tiếp với mặt ngoài
cổ tử cung, được chia làm 5 lớp từ nông đến sâu:
- Lớp nông (lớp bề mặt): Gồm các tế bào có kích thước lớn nhất,
đường kính 40 - 60 µm, có hình đa giác, chưa nhiều thành phần cấu tạo nên
keratin. Dưới ảnh hưởng của estrogen các tế bào này trưởng thành, nhân
đông đặc, nguyên sinh chất bắt màu acid mạnh. Các tế bào bong ra chủ yếu
dưới dạng riêng lẻ, không tạo thành mảng tế bào.
- Lớp trung gian: Là lớp dày nhất, các tế bào có bờ từ bầu dục đến đa
giác, kích thước 15 - 45 µm, nhân hình tròn, chứa nhiều glycogen, nguyên
sinh chất bắt màu kiềm. Các tế bào ở phần nông của lớp này có kích thước
lớn hơn rõ rệt so với các tế bào ở sâu hơn. Hàm lượng glycogen gia tăng
dưới tác dụng của estrogen và progesterone và đạt cực đại trong thai kỳ.
Các tế bào liên kết với nhau bởi nhiều cầu nối liên bào, vì vậy chúng sẽ
bong ra thành từng mảng.
- Lớp cận đáy gồm các tế bào hình tròn đến bầu dục, kích thước 15 -
25 µm, nguyên sinh chất thường bắt màu kiềm hoặc đôi khi cả hai màu.
6
- Lớp đáy gồm một hàng tế bào, là các tế bào nhỏ nhất, có kích thước 12
- 20 µm, hình tròn, nguyên sinh chất bắt màu kiềm mạnh. Sự hiện diện của
loại tế bào này chứng tỏ biểu mô đã thương tổn sâu.
các nang Naboth.
8
Nhân của các tế bào trụ này thường nằm ở phần đáy tế bào, tuy nhiên
khi tế bào hoạt động chế tiết chất nhầy mạnh nhân có thể nằm cao hơn. Có
3 loại tế bào ở biểu mô tuyến ống cổ tử cung: Tế bào trụ chế tiết, tế bào trụ có
lông chuyển và tế bào dự trữ.
- Các tế bào tuyến chế tiết sản xuất cả hai loại mucin có tính acid và
trung tính với số lượng thay đổi trong chu kỳ.
- Các tế bào có lông chuyển được gặp nhiều nhất ở đoạn nối giữa niêm
mạc tử cung và ống cổ tử cung. Chức năng chủ yếu của chúng là chuyển
chất nhầy dọc theo màng nhầy.
- Tế bào dự trữ là những tế bào chưa biệt hóa, nhỏ, đa năng, nằm phía
dưới các tế bào trụ. Chúng có khả năng biệt hoá thành các tế bào biểu mô
tuyến hoặc biểu mô lát, trong trường hợp thứ hai sẽ diễn ra hiện tượng
chuyển sản biểu mô lát và có khả năng dẫn đến loạn sản.
Hình 8. Biểu mô tuyến ống cổ tử cung
1.2. CÁC TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG[ 30],[ 50],[ 5].
1.2.1. Các tổn thương lành tính
9
1.2.1.1. Các tổn thương không đặc hiệu
- Viêm bề mặt cổ tử cung: Cổ tử cung đỏ sung huyết, khí hư đục, nhầy
mủ có mùi hôi. Vùng viêm nhiễm có thể có giả mạc, dễ chảy máu khi tiếp
xúc.
- Viêm lỗ trong cổ tử cung: khí hư bẩn đục khi ép mỏ vịt vào sẽ thấy
chảy ra từ ống cổ tử cung.
1.2.1.2. Viêm lộ tuyến cổ tử cung
đại, bao quanh bởi một khối mô đệm tổ chức liên kết, dễ chảy máu sau giao
hợp.
+ Polyp lỗ ngoài thường nằm ở ống CTC là dạng polyp xơ, màu
hồng đậm có thể làm biến dạng CTC, có thể xoắn polyp này gứi làm giải
phẫu bệnh lý, thường gây chảy máu và nhiễm khuẩn, giống như ung thư cổ
tử cung giai đoạn sớm. Polyp cổ tử cung hiếm khi trở thành ác tính, tỉ lệ
khoảng 0,2-0,4%[ 89].
Papilloma cổ tử cung: Là khối u lành tính được tìm thấy ở phần
nhô vào âm đạo của cổ tử cung do quá trình thoái hóa dị sản của biểu mô
lát, gồm một đám sùi chính giữa có mạch máu nhỏ, dễ chảy máu khi chạm
vào. Có hai dạng:
- Papilloma đơn độc (Solitary Papilloma): Một nhú đơn độc điển
hình, nhô ra từ cổ tử cung ngoài, được tạo ra bởi một lõi trung tâm mô liên
kết sợi, được bao bọc bởi biểu mô lát phân tầng. Đây là u thực sự lành tính,
nguyên nhân không rõ (không liên quan đến HPV).
- Condylomata cổ tử cung (u sùi cổ tử cung): Có nhiều dạng khác
nhau biến đổi từ dạng condylomata phẳng cho đến condylomata
acumitatum điển hình (sùi mào gà).
- Condilomata phẳng (Flat Condylomata): Một vùng nhô nhẹ ở cổ tử
cung ngoài, có màu trắng sau khi bôi acid acetic, mắt thường không nhìn
thấy được, chỉ phát hiện khi soi cổ tử cung.
- Condylomata acumitatum điển hình (sùi mào gà): Những khối u
11
này thường bao gồm nhiều cá thể gây ra do nhiễm HPV(Human Papilloma
Virus), một bệnh lây truyền qua đường tình dục. Lâm sàng là khối u sùi
nhỏ, có cuống hay không có cuống, đơn lẻ có khi mọc thành đám sần sùi ở
cổ tử cung, khi chạm vào dễ chảy máu. Chứng cứ của nhiễm HPV có thể
tìm thấy ở 1-2 % những phụ nữ được tầm soát tế bào âm đạo. Thời gian ủ
bệnh từ 2-6 tháng[76],[95],[50].
trường hợp tổn thương nghi ngờ này trong tương lai nó có thể là cơ sở phát
triển thành ung thư, hoặc những tổn thương mà hiện tại đã là ung thư rồi
nhưng trên lâm sàng thì chưa xác định được[ 50].
Nhờ có soi cổ tử cung và sự phát triển kỹ thuật chẩn đoán tế bào học,
cho phép mô tả được các tổn thương giữa mức bình với ung thư, khác với
trước đây chỉ thấy bệnh lý ở CTC là viêm hay xâm nhiễm[4].
Nguồn gốc phát sinh các tổn thương nghi ngờ là xuất phát từ các
tổn thương lộ tuyến do loạn sản tuyến. Lộ tuyến ở CTC có xu hướng tự
mất đi, hoặc do biểu mô lát che phủ đi lên trên, hoặc do biểu mô trụ được
biến đổi sang biểu mô lát do dị sản. Qúa trình dị sản có thể bị rối loạn sinh
ra biểu mô lát không bình thường hay nghịch sản. Đáng lẽ ra đó là biểu
mô lát bình thường(như là biểu mô của cổ ngoài tử cung). Nhiều tác giả
cho rằng quá trình hình thành như sau: Từ lộ tuyến qua quá trình tái tạo
lâu dài bằng con đường dị sản tế bào dự trữ ở ngay vùng chuyển tiếp giữa
biểu mô lát và biểu mô trụ thành biểu mô lát tầng. Qúa trình dị sản được
khái quát qua các giai đoạn sau: Trước hết các tế bào dự trữ sắp xếp thành
một hàng Tăng sinh thành 2-3 lớp Các cầu nối xuất hiện, sự biệt hóa
tế bào lát tầng bắt đầuCác tế bào trưởng thành dần từ tế bào đáy phát
triển thành lớp giữa, rồi đến lớp bề mặt Các tế bào trưởng thành hoàn
toàn, nhân đông và nguyên sinh chất ưa acid. Nếu quá trình dị sản này gặp
những điều kiện không thuận lợi như: Sang chấn, viêm nhiễm, thay đổi
của pH âm đạo… hoặc vai trò của nội tiết thì biểu mô lát mới được tái tạo
có thể tiến triển thành tổn thương nghi ngờ. Tỷ lệ nguy cơ nghịch sản là
13
3% cho phụ nữ từ 20-40 tuổi. Hiện nay nhiều tác giả chia các tổn thương
nghi ngờ ở CTC làm 2 nhóm: Nhóm tổn thương sừng hóa và nhóm tổn
thương hủy hoại[68],[73],[ 50].
Xếp loại các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung:
+ Theo Richard (1973): Tiêu chuẩn hình thái học của 3 độ CIN dựa
HSIL
- Tb đứng riêng rẽ, hoặc xếp tấm hoặc kết đám dạng hợp bào.
- Bất thường nhân thường gặp ở TB chuyển sản chưa trưởng thành,
bào tương mịn sợi tua, đôi khi keratin hóa dày đặc.
- Nhân lớn ít hơn trong LSIL nhưng bào tương ít dẫn đến N/C tăng.
- Cường NSC, có thể mịn hoặc dạng hạt thô.
- Hạch nhân ít gặp, bờ nhân không đều.
15
- Kích thước TB nhỏ hơn LSIL.
Tổn thương tiền ung thư bao gồm các biến đổi hình thái trong đa số
các trường hợp có thể xếp vào LSIL hay HSIL. Các đặc tính thiên về HSIL
bao gồm số lượng tb bất thường gia tăng, N/C tăng, bờ nhân không đều
nhiều, cấu trúc NSC không đều nhiều và sự gia tăng về số lượng các đám
NSC. Hình dáng của bào tương cũng giúp quyết định trường hợp nghi ngờ
nào thiên về HSIL hay thiên về LSIL. Biến đổi LSIL điển hình thường ở tb
trưởng thành trong khi HSIL ở tb ít trưởng thành hơn hoặc tb chuyển sản
bờ tròn.
16
Sự tiến triển của CIN kéo dài trung bình 15 năm, có thể có những diễn
biến theo bảng sau: [42].
1.2.3. Ung thư cổ tử cung
- Ung thư cổ tử cung thường gặp ở lứa tuổi 40-59, ngày nay có thể xảy
ra ở độ tuổi trẻ hơn, triệu chứng hay gặp là ra máu âm đạo bất thường. Ở
giai đoạn muộn kèm bội nhiễm thường có mùi rất hôi. Khi khám mỏ vịt có
thể thấy tổn thương dạng sùi, bở, dễ chảy máu.[ 29 ]
- Thường xuất hiện ở vùng chuyển tiếp, 90-95% trường hợp là ung thư
biểu mô lát, 5-10% là ung thư biểu mô tuyến.[ 29 ]
- Dựa vào giải phẫu bệnh có thể chia ung thư cổ tử cung ra làm 2 loại:
+ Ung thư tại chỗ: Khi có sự hiện diện của các tế bào không biệt
hóa, mất phân cực và di dạng trên toàn bộ bề dày biểu mô nhưng màng đáy
còn nguyên vẹn, tổ chức bên dưới chưa bị phá hủy.
+ Ung thư xâm lấn: Khi tế bào ung thư đã phá hủy màng đáy, xâm
lấn vào mô đệm bên dưới.
17
1.2.4. Các xét nghiệm sàng lọc tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
1.2.4.1. Xét nghiệm tế bào học
Các công trình nghiên cứu về hình thái học tế bào ở người được khởi
đầu vào giữa thế kỷ XIX, nhờ vào sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật sản
xuất kính hiển vi quang học.Trong lĩnh vực phụ khoa, các tác giả Gluge và
Koeniger ở Đức lần đầu tiên năm 1850 công bố các bài viết về tế bào ung
thư của cơ quan sinh dục nữ.
Sang đầu thế kỷ XX, Schaustein (1908) và Rubin (1910) mô tả các
thương tổn tiền ung thư trên các bệnh phẩm mô học. hai tác giả này cho
rằng ung thư xâm lấn diễn ra sau khi có các thương tổn tiền ung thư. Lý
thuyết này là cơ sở giãi phẫu bệnh cho việc chẩn đoán sớm ung thư trước
khi diễn ra hiện tượng xâm lấn. Đây là cơ sở cho tác giả Meyer (1930)
nghiên cứu tiếp về vai trò của sinh thiết trong chẩn đoán xác định các tổn
thương ác tính ở cổ tử cung.[29 ]
Bước đột phá quan trọng nhất trong lĩnh vực tế bào học phụ khoa diễn
Nhóm I: Phiến đồ bình thường (viêm nhẹ, các biến đổi dạng thoái hóa
hoặc tiêu tế bào), tương ứng với tuổi
Nhóm II: Phiến đồ viêm rõ rệt, phiến đồ tái tạo, chuyển sản, tăng sừng
hóa, chứa tế bào nội mạc tử cung bình thường (kể cả sau mãn kinh), nhiễm
HPV, HSV, mang vòng tránh thai…
Nhóm III: Phiến đồ không rõ ràng do viêm nhiễm, thoái hóa.
Nhóm IVA: Loạn sản nặng- Ung thư trong liên bào
Nhóm IVB: Loạn sản nặng- Ung thư trong liên bào, không thể loại trừ
ung thư xâm lấn.
Nhóm V: Phiến đồ ung thư xâm lấn (ung thư biểu mô lát sừng hóa,
không sừng hóa, ung thư biểu mô trụ ống cổ tử cung, nội mạc tử cung,
ngoài tử cung, các khối u ác tính khác)
19
Theo Tổ chức Y Tế Thế giới
- Nhóm bình thường
- Nhóm CIN I: Loạn sản nhẹ
- Nhóm CIN II: Loạn sản trung bình
-Nhóm CIN III: Loạn sản nặng hoặc ung thư tại chỗ
Danh pháp Bethesda (2001):
Được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong việc diễn giải kết quả tế bào
cổ tử cung. Danh pháp này được giới thiệu đầu tiên vào năm 1991 và được
sửa chữa bổ sung vào năm 2001.
Loạn sản cổ tử cung là các mô hoặc tế bào với các biến đổi về hình
thái theo hướng sinh u, có khả năng phát triển thành ung thư, tuy vậy vẫn
chưa có một bằng chứng hình thái nào có thể khẳng định được khả năng
tiến triển hay thoái triển của nó. Do hình thái học không thể khẳng định
được bản chất nên các thương tổn loạn sản chưa phải là đơn nguyên bệnh
lý riêng biệt. Tuy nhiên, quan điểm được chấp nhận một cách thuyết phục
đạo. Phương pháp này được Bác sỹ người Đức Hinselmann đưa ra đầu tiên
vào năm 1925, là phương pháp cho phép đánh giá lớp biểu mô âm đạo –cổ
tử cung bình thường hoặc phát hiện các tổn thương viêm, tổn thương lành
tính, các tổn thương nghi ngờ và ung thư cổ tử cung, giúp xác định vị trí
tổn thương để làm sinh thiết được chính xác hơn.
Thuật ngữ soi cổ tử cung theo liên đoàn quốc tế về soi cổ tử cung và
bệnh học cổ tử cung (2003)
- Các hình ảnh bình thường: biểu mô lát nguyên thủy, biểu mô trụ,
vùng chuyển tiếp bình thường.
- Các hình ảnh bất thường
+ Biểu mô trắng
+ Chấm đáy
21
+ Dạng khảm
+ Mảng trắng
+ Mạch máu không điển hình
- Các tổn thương nghi ngờ qua soi cổ tử cung cụ thể:
+ Các tổn thương sừng hóa là những tổn thương trong đó biểu mô lát
bị thay đổi sừng hóa dày lên, có màu trắng ngà, không bắt màu lugol, bôi
axit axetic càng nổi rõ.
+ Vết trắng ẩn: không nhìn thấy khi nhìn bằng mắt thường, bôi axit
axetic bờ rõ lên, lugol (-)
+ Vết trắng thực sự: nhìn thấy bằng mắt thường, bôi axit axetic càng
nổi rõ, lugol(-)
+ Vết lát đá: là vết trắng trong đó nhìn thấy rõ các thân mạch máu
chạy ngang dọc
+ Vết chấm đáy: Vết trắng trong đó các mạch máu chạy sâu xuống lớp
đệm, + Viền trắng: vết trắng bao quanh miệng tuyến
+ Giọt trắng:vết trắng phủ trên một nang tuyến bị bịt ở dưới
Mức độ khác nhau
Axit axetic(++)
Dạng khảm
Đều
Mỏng cùng một mức
độ
Axit axetic(+)
Không đều
Mức độ khác nhau
Axit axetic(++)
Mảng trắng
Mỏng, gờ nhẹ
Dày, không đều
Nhú
Nhiều mức độ khác
nhau
Biểu mô trắng với a.axetic
Mỏng cùng một mức
độ
Axit axetic(+)
Mức độ khác nhau
Axit axetic(++)
Mạch máu không điển
hình
Không(-)
Có(+)
- Nghi ngờ ung thư xâm lấn qua soi cổ tử cung
23
- Soi cổ tử cung không đạt: Không thấy vùng chuyển tiếp giữa biểu
Chụp ảnh cổ tử cung là một hệ thống sàng lọc ung thư cổ tử cung
dùng ảnh chụp cổ ngoài tử cung ở trạng thái tĩnh sau đó được nghiên cứu
để tìm các bất thường nhờ quan sát.
1.2.4.6. Xét nghiệm định Typ HPV[36],[49].
Hiện nay, một số test chẩn đoán có thể phát hiện các typ HPV nguy cơ
cao sinh ung thư, chúng có thể được sử dụng trên lâm sàng để sàng lọc sơ
cấp riêng biệt hoặc phối hợp với tế bào cổ tử cung. Xét nghiệm này ứng
dụng kỹ thuật sinh học phân tử nhằm xác định ADN của virus trong mẫu
bệnh phẩm lấy từ cổ tử cung, cho dù mẫu bệnh phẩm đang ở giai đoạn nào
của bệnh, kể cả lúc chưa có tổn thương rõ rệt.
Có thể phát hiện HPV bằng các kỹ thuật PCR, lai phân tử (Hybrid
capture) để xác định trình tự nucleotide đã được thử nghiệm. Kỹ thuật PCR
được dùng nhiều nhất với các bộ mồi được chọn vùng gen bảo tồn cao giữa
các typ (E1 và L1). Hybrid capture là thử nghiệm dựa trên kỹ thuật lai phân
tử và phát hiện bằng kháng thể với phản ứng huỳnh quang. Ngoài ra, có thể
định lượng virus trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ thuật real-time PCR.
Xét nghiệm HPV được sử dụng cùng tế bào âm đạo giúp quá trình
sàng lọc các trường hợp nghi ngờ bệnh lý CTC cũng như giúp theo dõi các
thương tổn chặt chẽ hơn, có giá trị tiên lượng về nguy cơ ung thư hiện tại
và vài năm sau đó [42],[37],[35],[21]. Việc phối hợp hai xết nghiệm này sẽ
có giá trị tiên đoán âm của CINII, CINIII và ung thư CTC là 99-100%,
nghĩa là nếu cả hai xét nghiệm đều âm tính thì khả năng tổn thương CIN II,
CIN III và ung thư là rất thấp.
1.2.4.7. Giải phẫu bệnh
Xét nghiệm giải phẫu bệnh là nghiên cứu cấu trúc mô học của các tổn
thương bằng kính hiển vi để xác định tổn thương lành tính hay ác tính dựa
vào cấu trúc tế bào, nhân và nguyên sinh chất…
25
Chẩn đoán GPB dựa vào mảnh sinh thiết làm tiêu bản mô học. mảnh