1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng gót, cổ chân có cấu tạo giải phẫu đặc biệt: Da ít đàn hồi, mạch máu
nuôi da nghèo nàn, dưới da là gân và xương. Do đó khi có khuyết hổng phần
mềm vùng này việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn, khả năng liền vết
thương kém, thời gian điều trị kéo dài và nếu không được điều trị tốt có thể
làm cho tổn thương ngày càng nặng hơn làm mất chức năng đoạn chi thể thậm
chí phải cắt cụt chi thể [1], [4], [27].
Trước đây, để che phủ khuyết hổng phần mềm vùng gót, cổ chân người
ta sử dụng vạt xoay ngẫu nhiên tại chỗ, vạt hình trụ, vạt bắt chéo chi hoặc
ghép da mỏng…Nhưng các phương pháp này có nhiều nhược điểm: Độ an
toàn thấp do không dựa vào nguồn mạch nuôi cụ thể nào, khó khăn trong
chăm sóc, tư thế bệnh nhân bị gò bó, phải phẫu thuật nhiều thì, kích thước vạt
hạn chế, khả năng tỳ đố kộm dễ bị trợt loét, đòi hỏi nền tiếp nhận phải được
nuôi dưỡng tốt… [1], [4].
Phương pháp sử dụng vạt da tự do có nối vi phẫu là phương pháp điều trị
hiện đại, có ưu điểm là có thể chủ động vị trí lấy vạt, chất liệu và kích thước
vạt cho phù hợp với vùng khuyết hổng. Nhưng đòi hỏi phải có kính hiển vi,
dụng cụ vi phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật viên phải có nhiều kinh nghiệm
và được đào tạo hết sức cơ bản, công phu. Vì thế phương pháp này chỉ áp
dụng được ở các cơ sở chuyờn sõu.
Những nghiên cứu sâu về giải phẫu vạt da tìm ra những vạt có cuống
mạch liền hằng định có sức sống tốt, ứng dụng trong lâm sàng đã mở ra cơ
hội mới trong điều trị các khuyết hổng phần mềm. Các vạt da này không phải
sử dụng kỹ thuật vi phẫu nên có thể áp dụng được rộng rãi tại các cơ sở điều
trị. Có nhiều vạt da cân được sử dụng trong lâm sàng để che phủ khuyết hổng
phần mềm vùng gót, cổ chân như vạt chày, vạt mác, vạt chày mác phối hợp,
2
TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm về mạch máu nuôi da
Nghiên cứu giải phẫu mạch máu nuôi da đã và đang mang lại những ý
nghĩa hết sức to lớn cho các thầy thuốc lâm sàng trong việc điều trị các
khuyết hổng phần mềm, vì đây là cơ sở khoa học quan trọng nhất để thiết kế
một vạt da, hay mở rộng ứng dụng của vạt da. Năm 1862, vạt da có cuống
mạch đầu tiên được phẫu thuật viên người Ireland John Wood nghiên cứu và
sử dụng, đó là vạt da bẹn, dựa trên cơ sở nuôi vạt là động mạch mũ chậu nông
[Trích từ 1]. Năm 1889, Manchot C. đã mô tả động mạch lờn nuụi da trong
cuốn “Động mạch da của cơ thể người”. Năm 1893, Spalteholz đã nhận thấy
có sự nối thông giữa các động mạch da lân cận với nhau [Trích từ 79]. Tiếp sau
đó cũng đã có nhiều tác giả nghiờn cứu về vấn đề này, nhưng phải đến năm 1936
Salmon M mới có một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về sự phân bố mạch
máu nuôi da. Salmon M đã chia động mạch nuôi da thành 3 loại: Động mạch da
trực tiếp, động mạch cơ da, động mạch cân da [Trích từ 76].
Đến năm 1984, Cormack G. C. và Lamberty B. G. H. đã nghiên cứu và
chia động mạch nuôi da thành 4 loại: Động mạch da trực tiếp, động mạch cơ
da, động mạch cân da, động mạch thần kinh da [35].
- Động mạch da trực tiếp: Động mạch này có đường kớnh lớn, được
tách ra từ thõn động mạch chớnh của vùng, áp lực tưới mỏu của
dạng động mạch này ngang bằng với áp lực của động mạch chớnh.
Loại động mạch này có nhiều ở cẳng chõn.
- Động mạch cơ da: Được tách ra từ động mạch nuôi cơ. Loại này có
nhiều ở 1/3 trên cẳng chõn.
4
- Động mạch cõn da: Động mạch đi trong vách liên cơ trước khi đi
đến làm giàu đám rối mạch mỏu ở lớp cõn. Loại này có nhiều ở 1/3
giữa và 1/3 dưới cẳng chõn.
5
động mạch vách da trực tiếp, nhỏnh xiờn vỏch da, nhánh da trực tiếp của
động mạch cơ, nhỏnh xiờn da của động mạch cơ, nhỏnh xiờn cơ da [55].
- Động mạch da trực tiếp: Các động mạch dạng này thường thấy ở
những vùng có ít cơ như vùng quanh khớp, vùng mô lỏng lẻo…Sau
khi xiên lên cõn, động mạch chạy song song với bề mặt da và cho ra
các nhánh bên nuôi da.
- Động mạch vách da trực tiếp: Sau khi tách ra từ thõn động mạch
chớnh ở sõu, động mạch này đi trong vách gian cơ và trực tiếp đến
cấp mỏu cho da. Loại này tương ứng với động mạch cõn da theo
phõn loại của Cormack G. C. và Lamberty B. G. H.
- Nhỏnh xiờn vỏch da: Cũng tách ra từ thõn động mạch chớnh ở sõu,
chúng đi thẳng góc qua vách gian cơ lên da tương tự như động mạch
vách da trực tiếp, nhưng chúng có đường kớnh nhỏ hơn và mỗi
nhánh chỉ cung cấp mỏu cho một vùng da nhỏ.
- Nhánh da trực tiếp của động mạch cơ: Trước khi đi vào nuôi cơ,
động mạch tách ra nhánh đi qua vách gian cơ để trực tiếp đến cấp
mỏu cho da.
- Nhánh xiên da của động mạch cơ: Động mạch nuôi cơ sau khi đã
tách ra các nhánh để nuôi cơ, động mạch này tách ra nhánh xiên da,
các nhánh xiên da này có thể nối thông với các nhánh xiên da của
các ĐM cơ lõn cận hoặc nối với nhánh da trực tiếp của động mạch
cơ sinh ra nó.
- Nhỏnh xiên cơ da: Cỏc nhỏnh này tách ra từ động mạch nuôi cơ,
xiên thẳng góc từ trong cơ lên da. Mỗi nhánh xiên cơ da chỉ cung
cấp cho một vùng da nhỏ, một động mạch nuôi cơ có thể cho nhiều
nhánh xiên cơ da, tập hợp các nhánh này cấp mỏu cho phần da nằm
trên cơ.
và cơ mác ngắn, sau đó đi giữa cơ dép và các cơ mác.
- Động mạch vách da tách da từ động mạch chày sau: Đi giữa cơ dép và
cơ gấp chung ngón chân.
Hình 1.3. Nguồn gốc và đường đi của các động mạch vách da ở cẳng chân
theo Carriquiry C. E. [33]
8
Hình 1.4. Sơ đồ một cuống mạch vách da ở cẳng chân theo
Carriquiry C. E. [33]
1.2.2. Động mạch cơ da ở cẳng chân
Năm 1997 Worseg A. P. và cộng sự [67] mô tả khá chi tiết về động
mạch cơ da ở cẳng chân. Các động mạch này chủ yếu thấy ở 1/3 T và 1/3 G
mặt sau cẳng chõn:
- Mặt sau trong cẳng chân: Có 6-8 động mạch xiên cơ da, tập trung chủ
yếu ở 1/3 trên và 1/3 giữa cẳng chân.
- Mặt sau ngoài cẳng chân: Có 6-8 động mạch xiên cơ da nuôi phần da
che phủ 2 cơ bụng chõn.
- Mặt trước cẳng chân: Có 1-2 động mạch xiên cơ da ở 1/3 G cẳng chân.
- Mặt trước ngoài cẳng chân: Không có động mạch xiên cơ da
1.2.3. Động mạch da trực tiếp
Động mạch da trực tiếp ở cẳng chân là cỏc nhỏnh tận của các động
mạch chính. Một số vạt được thiết kế dựa vào sự cấp máu của động mạch da
trực tiếp:
9
- Vạt gan chân trong: Được cấp máu bởi động mạch gan chân trong [42].
- Vạt mu chân: Được cấp máu bởi động mạch mu chân.
- Vạt gót ngoài: Được cấp máu bởi động mạch gót ngoài [39].
1.3.1. Thần kinh hiển ngoài
Thần kinh hiển ngoài (Thần kinh bì bắp chân, thần kinh bắp chân -
Sural nerve) do dây thần kinh hiển chày và thần kinh hiển mác tạo thành [16],
[19], [51].
- Thần kinh hiển chày (TK bì bắp chân trong) tách ra từ TK chày đi
xuống giữa 2 đầu cơ bụng chân, tới giữa cẳng chân sau đi ra nông nối với
nhỏnh thụng mỏc (nhánh nối mác) để tạo thành TK hiển ngoài.
- Thần kinh hiển mác (TK bì bắp chân ngoài, TK mỏc nụng) tách ra từ
TK mác chung đi giữa 2 lá mạc khoeo, tới giữa cẳng chân chọc ra nông cho ra
nhỏnh thụng mỏc để nối với TK hiển chày để tạo thành TK hiển ngoài.
- Chi phối cảm giác của TK hiển ngoài: TK hiển ngoài đi cùng TM
hiển ngoài đến phía sau mắt cá ngoài, xuống bờ ngoài bàn chân đổi tên thành
TK bì mu chân ngoài cảm giác cho phần ngoài mu chân, dọc lưng bàn ngón 4
và 5. Ngoài ra TK hiển ngoài còn cho ra cỏc nhỏnh gút ngoài chi phối cảm
giác cho phần ngoài gút chân.
Đám rối trên cân
Nh¸nh xiªn c©n da
§¸m rèi trong c©n
ccac©
§¸m rèi d-íi c©n
11
1.3.2. Tĩnh mạch hiển ngoài
Tĩnh mạch hiển ngoài (TM hiển bé) bắt nguồn từ đầu ngoài cung TM
mu chân, đi sau mắt cá ngoài cùng thần kinh hiển ngoài ngược lên theo bờ
ngoài gõn gút lờn cẳng chân, đi theo đường giữa mặt sau bắp chân. Lúc đầu
TM hiển ngoài đi cùng TK hiển ngoài, sau đó đi cùng TK hiển chày. Khi tới
khoeo thì cùng với TK hiển chày chui qua mạc cẳng chân lách giữa hai đầu cơ
sinh đôi đi vào hố khoeo rồi đổ vào TM khoeo [13], [19].
- Dng d: Vt c cp mỏu bi M tựy hnh vi TM hin ngoi. TK hin
ngoi c tỏch khi vt.
Trong nghiờn cu ca Shaw A. D. v cng s [Trớch t 58] cng khng
nh, cú c ng mch tựy hnh vi TK hin ngoi v ng mch tựy hnh
vi TM hin ngoi.
Theo Shaw A. D., na di cng chõn, c TK v TM hin ngoi cựng
i trn cừn, v cỏc M tựy hnh ca chỳng u cho ra nhng nhnh nui da.
Cũn na trờn cng chõn thỡ thn kinh hin ngoi i di cõn, v TM hin
ngoi i trn cừn. ng mch tựy hnh vi TK hin ngoi vựng ny khụng
cho nhỏnh no ln nui da, trong khi ú cú 2 M tựy hnh vi TM hin ngoi
cp mỏu cho da.
(a): 1/2 D bp chõn; (b): 1/2 T ca bp chõn.
Hỡnh 1.8. S mụ t ng mch tu hnh thn kinh v tnh mch
a:1/2 D cẳng chân sau
V: Tĩnh mạch hiển ngoài
N:Thần kinh hiển ngoài
A: gân achilles
D: Cân
b:1/2 T cẳng chân sau
P: nhánh cơ da
S: ĐM bắp chân
B: nhánh nối thông
G: cơ sinh đôi 14
hiển ngoài theo Shaw A. D. và cộng sự [trích từ 58].
Theo Vũ Nhất Định [4], năm 2004, vạt da cân hiển ngoài hình đảo
được nuôi dưỡng tốt, mảnh da ghép không có độ chun giãn, dễ bị trợt loét khi
có sự va chạm, không chịu được lực tỳ nén. Mảnh da ghép nếu được ghép vào
vựng gõn sẽ làm dớnh gân.
Do những nhược điểm của ghép da nên phương pháp này ít được áp
dụng cho những khuyết hổng phần mềm vựng gút, cổ chân. Hiện nay, phương
pháp ghép da chỉ áp dụng KHPM có nền tiếp nhận được nuôi dưỡng tốt,
không lộ gân, xương và ở những vị trí ít bị va chạm, tỳ nén. Hoặc đây chỉ là
phương pháp che phủ tạm thời để nhanh chóng làm lành vết thương và chờ
đợi tạo hình che phủ ở thì sau.
Hình 1.9. Các dạng ghép da theo William C. Grabb and James W.
Smith [66]
Hình 1.10. Các dạng ghép da theo Mc Gregor, Ian A. [53]
16
1.4.2. Vạt da có chân nuôi
Vạt được sử dụng có thể là vạt da mỡ, vạt da cân, vạt được thiết kế
không căn cứ vào cuống mạch cụ thể nào. Nuôi dưỡng cho vạt là từ chõn nuụi
của vạt, yêu cầu tỷ lệ chiều dài / rộng ≤ 3/2 [15]. Có 2 loại vạt da có chân
nuôi:
- Vạt da có chân nuôi tại chỗ: Tùy theo cách lấy vạt mà có 4 dạng vạt khác
nhau (Vạt trượt, vạt tiến ra trước, vạt xoay, vạt chuyển chỗ).
- Vạt da có chân nuôi được huy động từ xa: Vạt chộo chõn, trụ da mỡ.
Hạn chế của vạt cú chõn nuụi là tỷ lệ thành công không cao do không
có cuống mạch cụ thể nuôi vạt, kích thước vạt bị hạn chế, nếu sử dụng vạt
chộo chõn thì phải phẫu thuật nhiều thì, tư thế bệnh nhân gò bó và thời gian
điều trị kéo dài.
1.4.3. Một số vạt có cuống mạch liền
1.4.3.1. Vạt mu chân
gan chân trong cho 30 trường hợp, trong đó có 21 vạt dược sử dụng để che
phủ vùng đệm gót. Tác giả cho rằng để che phủ khuyết hổng phần mềm vùng
đệm gót, vạt gan chân trong là phù hợp nhất vì vạt có cảm giác tốt, có khả
năng chịu sự tỳ nén và không bị trợt loét khi đi.
Năm 1996 Nguyễn Tiến Lý [18] tiến hành nghiên cứu giải phẫu và ứng
dụng vạt gan chân trong điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân và gót
cho 35 vạt đạt kết quả tốt.
Theo Vũ Nhất Định [4], Vạt gan chân trong là sự lựa chọn hàng đầu
để che phủ khuyết hổng phần mềm vùng đệm gút, cũn các vị trớ khỏc thỡ
nờn tỡm vạt thay thế để không phải hy sinh da vùng gan chân là ĐM và TK
gan chân trong.
18
Nhược điểm của vạt là kích thước vạt bị hạn chế, cuống vạt ngắn, đặc
biệt nơi cho vạt cũng vẫn là vị trí tiếp xúc quan trọng của bàn chân, là vùng da
đã được biệt hóa để chịu sự tỳ nén. Vì vậy, sau khi lấy vạt da vùng này dễ bị
trợt loét.
1.4.3.4. Vạt trên mắt cá ngoài
Năm 1988 Masquelet A. C. và cộng sự [49] lần đầu tiên mô tả vạt trên
mắt cá ngoài. Vạt được thiết kế ở mặt ngoài 1/3 D cẳng chân, được nuôi
dưỡng bởi nhỏnh xiờn trước của ĐM mác, qua khe chày mác trên đỉnh mắt cá
ngoài 5cm. Động mạch này cho ra 2- 3 nhánh lên nuôi da, các nhánh xiên lên
cõn và tạo thành mạng lưới mạch mỏu ở mặt ngoài cẳng chõn, vì vậy ta có thể
thiết kế vạt da cõn cuống cõn mỡ. Tác giả đã sử dụng 23 vạt trên mắt cá ngoài
để che phủ KHPM vùng 1/3 D cẳng chân, mắt cá, khớp cổ chân, gót, bàn
chân, trong đó có 2 vạt bị hoại tử mép vạt, 1 vạt bị hoại tử trên 1/3 diện tích
vạt, tác giả nhận định rằng vạt trên mắt cá là chất liệu tốt để che phủ KHPM
chi dưới.
Nguyễn Tiến Bình, năm 1997 [1] nghiên cứu về giải phẫu và ứng dụng
vạt trên mắt cá ngoài đó cú nhận định rằng vạt trên mắt cá ngoài là một vạt da
ngoài của vạt và trên đỉnh mắt cá trong 10cm theo bờ trong của vạt. Vạt chày
và vạt mác ngăn cách nhau bởi đường chính giữa bắp chân [4], [16].
Các vạt bắp chân cuống ngoại vi được sử dụng để che phủ khuyết hổng
ở 1/3 D cẳng chân, vùng mặt trước khớp cổ chân, vùng mắt cá trong và ngoài,
vùng sau gân Achille và mặt sau gót. Vạt có cuống mạch hằng định nên khá
an toàn, kỹ thuật bóc vạt không khó có thể áp dụng được rộng rãi ở các cơ sở
20
điều trị, nhưng nhược điểm là khả năng xoay vạt bị hạn chế và phải ghép da
diện rộng.
1.4.4. Vạt tự do với kỹ thuật nối vi phẫu
Năm 1974, Taylor G. I. đã tiến hành ghép xương mác có nối mạch vi
phẫu. Năm 1976, Baudet J. đã chuyển vạt cơ lưng to, Harri K. chuyển vạt cơ
thẳng bụng…Phương pháp sử dụng vạt tự do với kỹ thuật nối vi phẫu có
nhiều ưu điểm như có thể lựa chọn vạt ghép phù hợp với kích thước, chất liệu
tùy theo yêu cầu của tổn thương, đặc biệt đối những tổn khuyết lớn, phức tạp,
các tổn khuyết có nhiễm trùng, viêm xương, khuyết xương…
Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi phải có kính hiển vi
phẫu thuật, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, đặc biệt là phải có phẫu thuật
viên được đào tạo chuyên sâu, có nhiều kinh nghiệm. Do đó không thể áp
dụng được rộng rãi ở các cơ sở điều trị mà chỉ có thể thực hiện được tại cơ
sở chuyên khoa.
1.5. Tình hỡnh nghiên cứu và ứng dụng vạt da-cân hiển ngoài cuống
ngoại vi trong lâm sàng
Năm 1992, Masquelet A. C. và cộng sự [51] công bố công trình
“nghiờn cứu giải phẫu và áp dụng lâm sàng ở cẳng chân các đảo da được cung
cấp bởi trục mạch máu của thần kinh cảm giác nông”. Tác giả nhận thấy có
trục mạch máu đi theo các TK cảm giác nông là TK hiển trong, TK hiển
ngoài, TK mỏc nụng, gọi là các ĐM da TK. Từ kết quả nghiên cứu giải phẫu
tác giả đã áp dụng lân sàng 6 trường hợp che phủ khuyết hổng phần mềm
dạng chộo chõn do vùng da dùng để thiết kế vạt của chõn cú khuyết hổng
cũng bị tổn thương. Vạt vẫn có khả năng sống tốt, là một ứng dụng mới của
vạt da-cân hiển ngoài cuống ngoại vi, tuy nhiên tư thế bệnh nhân bị gò bó, tác
22
giả khuyến cáo chỉ sử dụng vạt dưới dạng chộo chõn khi không thể sử dụng
được vạt ở chõn cú khuyết hổng.
Cũng trong năm 2001 Al- Qattan M. M. [28] có thông báo sử dụng vạt
da-cân hiển ngoài cuống ngoại vi cho 15 trường hợp, vạt được thiết kế ở 1/3 T
bắp chân, tác giả đã sử dụng 6 vạt với kỹ thuật bóc vạt như kinh điển, 9 vạt
được cải tiến kỹ thuật bằng cách lấy thêm một phần cơ ở 1/3 T bắp chân, nơi
TK hiển ngoài đi dưới cân. Kết quả không có vạt nào bị hoại tử hoàn toàn, tuy
nhiên ở nhóm thực hiện kỹ thuật bóc vạt như kinh điển chỉ có 1 trong 6 vạt
sống hoàn toàn và liền kỳ đầu, còn lại 5 vạt có biến chứng từ vạt bị sưng nề
xung huyết đến hoại tử 1/3 vạt. Trong khi đó 9 vạt trong nhúm cú cải tiến kỹ
thuật búc thỡ cả 9 vạt sống hoàn toàn không có biến chứng, tác giả khuyến
cỏo nờn cải tiến kỹ thuật bóc vạt khi vạt được thiết kế ở 1/3 T chân.
Năm 2007, Lucian Fodor M. D. và cộng sự [47] có thông báo sử dụng 9
vạt da-cõn-cơ hiển ngoài hình đảo cuống ngoại vi để che phủ những KHPM
có viêm lộ xương ở đầu dưới xương chày. Kết quả: 7/9 vạt cho kết quả tốt,
2/9 vạt có hoại tử mép vạt. Tác giả khuyến cáo với những khuyết hổng viêm
lộ xương thì khi chuyển vạt nên lấy thêm một phần cơ theo vạt. Hình 1.11. Sơ đồ bóc vạt da-cõn-cơ hiển ngoài cuống ngoại vi theo Lucian
Fodor M. D. [47].
23
Năm 2008 Shimpo Aoki M. D. và cộng sự [59] nghiên cứu giải phẫu và
ứng dụng lâm sàng 28 vạt da cân hiển ngoài cuống ngoại vi. Kết quả: 22/28
nặng. Tác giả khuyến cáo nên đặt ra vấn đề phẫu thuật trì hoãn, không xử trí
cấp cứu cho các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.
Ở Việt Nam cũng đó cú một số tác giả nghiờn cứu và sử dụng vạt da
cân-hiển ngoài cuống ngoại vi trong lâm sàng. Năm 1999, Vũ Nhất Định,
Nguyễn Tiến Bình [5] đã báo cáo 8 trường hợp sử dụng vạt che phủ khuyết
hổng phần mềm 1/3 D cẳng chân, mắt cá chân và sau củ gót. Kết quả, cả 8 vạt
sống hoàn toàn, liền kỳ đầu, trong 2 tháng đầu không thấy trường hợp nào bị
viờm rò, cả 8 trường hợp đều có cảm giác tờ bỡ dọc mu bàn ngón V và 1/2
mu bàn ngón IV.
Năm 2001, Nguyễn Xuõn Thùy và cộng sự [24] tiến hành chuyển vạt da-
thần kinh hiển cuống ngoại vi cho 9 trường hợp, kỹ thuật bóc vạt như mô tả của
Masquelet A. C. Kết quả: 7 vạt tốt ngay từ đầu, 2 vạt sau mổ thấy vạt da nề, có
một vài chỗ thâm phải cắt chỉ thưa và sau 7 ngày bệnh nhân tốt được ra viện.
Cũng trong năm 2001 Vũ Nhất Định và cộng sự [6] đã cải tiến kỹ thuật
mổ bằng cách lấy thêm dải da trên cuống vạt, nghiên cứu được tiến hành trên
10 bệnh nhân có khuyết hổng vùng củ gót và bàn chân, kích thước vạt 3x4cm
đến 7x8cm, dải da trên cuống rộng 1-1,5cm. Kết quả thu được cả 10 vạt đều
được nuôi dưỡng tốt, liền kỳ đầu, tác giả khuyến cáo nên sử dụng phương
pháp này cho các trường hợp lớp mỡ dưới da dày hay tổn thương viêm mạn
tính làm mất khả năng đàn hồi da nơi đặt cuống vạt.
Đồng Quang Duyên và cộng sự cũng đó cú báo cáo trong năm 2001 sử
dụng vạt cho 15 trường hợp để che phủ khuyết hổng vùng quanh khớp cổ
chõn có loột lõu liền do di chứng bỏng. Vạt được thiết kế ở 1/3 G bắp chân,
thần kinh hiển ngoài và tĩnh mạch luôn được lấy theo vạt, kích thước vạt lớn
25
nhất mà tác giả sử dụng là 11x19 cm. Kết quả: 13 vạt sống tốt kỳ đầu, 2 vạt bị
hoại tử mép vạt do tụ máu dưới vạt [9].
Năm 2002, Vũ Nhất Định, Nguyễn Tiến Bình [7] phẫu thuật chuyển
vạt da-cân giữa bắp chân hình đảo cuống ngược dòng không bao gồn thần