ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu là một bệnh phổ biến, thƣờng gặp, chiếm tỷ lệ 2-3% dân số
[33],[66]. Trong đó sỏi niệu quản chiếm 28- 40% trong các bệnh sỏi tiết niệu
[2],[27]. Việt Nam là một nƣớc có nhiều bệnh nhân bị sỏi tiết niệu.
Theo Ngô Gia Hy phần lớn sỏi niệu quản là do sỏi thận rơi xuống (80%),
còn lại là sỏi sinh ra tại chỗ do dị dạng, hẹp niệu quản. Sỏi niệu quản khi bít tắc
niệu quản sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm (ứ nƣớc, ứ mủ đài - bể thận),
nếu không đƣợc điều trị sớm có thể dẫn tới nhiễm khuẩn, vô niệu, suy thận, thậm
chí tử vong.
Để chẩn đoán sỏi niệu quản ngƣời ta dựa vào triệu chứng lâm sàng và các
phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh cơ bản nhƣ: chụp phim hệ tiết niệu không
chuẩn bị, chụp niệu đồ tĩnh mạch, siêu âm. Đối với một số trƣờng hợp sỏi không
cản quang, sỏi nhỏ, nghi có hẹp niệu quản, hình cản quang của sỏi lẫn với cản
quang của xƣơng, chẩn đoán phân biệt với nốt vôi hóa ngoài hệ tiết niệu cần phải
kết hợp với các phƣơng tiện chẩn đoán khác nhƣ: chụp niệu quản- bể thận ngƣợc
dòng, nội soi niệu quản, chụp CT hệ tiết niệu hoặc MSCT …
Trƣớc đây điều trị sỏi niệu quản đoạn trên có hai phƣơng pháp, điều trị nội
khoa nội khoa nếu sỏi nhỏ, tiên lƣợng có thể ra theo đƣờng tự nhiên. Điều trị
ngoại khoa mổ mở lấy sỏi niệu quản khi điều trị nội khoa thất bại hoặc sỏi to hay
sỏi niệu quản có biến chứng. Nhƣợc điểm của phƣơng pháp mổ mở này là bệnh
nhân đau để lại sẹo và thời gian nằm viện kéo dài. Từ cuối thế kỷ XX có nhiều
phƣơng pháp can thiệp sỏi niệu quản ít sang chấn ra đời đã và đang đƣợc áp dụng
để điều trị sỏi niệu quản đoạn trên nhƣ: tán sỏi ngoài cơ thể , mổ nội soi lấy sỏi
ngoài phúc mạc , tán sỏi niệu quản nội soi ngƣợc dòng bằng xung hơi hoặc bằng
Holmium Laser với ống kính nội soi bán cứng hoặc ống mềm, phƣơng pháp này
đang ngày càng chiếm ƣu thế và đƣợc áp dụng phổ biến vì nó có rất nhiều ƣu
2
điểm tận dụng các lỗ tự nhiên, thẩm mỹ do không để lại sẹo, bệnh nhân ít đau sau
thủ thuật, thời gian nằm viện ngắn, hạn chế đƣợc tối đa các tai biến và biến
1.1 GIẢI PHẪU, SINH LÝ NIỆU QUẢN, THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA SỎI
1.1.1 Giải phẫu niệu quản.
1.1.1.1 Hình thể chung.
Niệu quản là ống dẫn nƣớc tiểu từ bể thận xuống bàng quang dài chừng 25-
28 cm, nằm sau phúc mạc, dọc hai bên cột sống thắt lƣng và ép sát vào thành
bụng sau. Niệu quản bắt đầu từ khúc nối bể thận niệu quản đi thẳng xuống eo
trên, sau khi bắt chéo các động mạch chậu chạy vào chậu hông để chếch ra trƣớc
và đổ vào bàng quang.
1.1.1.2 Liên quan
Phân chia liên quan niệu quản tùy theo các tác giả Pháp, Anh và Mỹ (Trịnh
Văn Minh, 2007). Theo các tác giả Pháp niệu quản đƣợc chia làm 4 đoạn, mỗi
đoạn có liên quan đến các cơ quan lân cận.
* Đoạn thắt lưng(đoạn bụng):
Dài 9- 11cm, nằm vắt cong trƣớc cơ đái chậu, có các dây thần kinh đám rối
thắt lƣng ( thần kinh sinh dục đùi ), với mỏm ngang của các đốt sống thắt lƣng
cuối cùng. Phía trong bên trái là động mạch chủ, bên phải là tĩnh mạch chủ.
Niệu quản nằm sau phúc mạc, cùng đi song song với niệu quản xuống hố
chậu có tĩnh mạch sinh dục, trong phúc mạc là đại tràng [41].
* Đoạn cánh chậu :
Dài 3 - 4cm, bắt đầu khi đi qua cánh xƣơng cùng tới eo trên của xƣơng
chậu. Liên quan với động mạch chậu: bên trái niệu quản bắt chéo động mạch
chậu gốc trên chỗ phân nhánh 1,5cm; bên phải niệu quản bắt chéo động mạch
chậu dƣới chỗ phân nhánh 1,5cm (trong đa số các trƣờng hợp). Trƣờng hợp thay
đổi khi chỗ chia đôi của động mạch chủ bụng xuống thấp thì chỗ bắt chéo này sẽ
4
thấp. Cả hai niệu quản đều cách đƣờng giữa độ 4,5cm tại nơi bắt chéo động mạch.
Tại đây niệu quản vắt qua động mạch, nên thƣờng gây hẹp niệu quản là điều kiện
cho sỏi dừng lại gây bệnh sỏi niệu quản.
3-5mm
Hình 1.1: Hình ảnh mô tả hình dạng và kích thước, chia đoạn trên phim chụp
niệu đồ tĩnh mạch của niệu quản
( Nguồn trích từ Campbell-Walsh Urology, 9th ed, 2007 ) [53]
- Mũi tên đậm chỉ đoạn bắt chéo qua động mạch chậu
- UPJ: Đoạn nối bể thận niệu quản
- UO: Đoạn niệu quản thành bàng quang
- I: Đoạn niệu quản đoạn trên
- II: Đoạn niệu quản đoạn giữa
- III: Đoạn niệu quản đoạn dƣới
Trên thực tế lâm sàng, dựa trên phim chụp Xquang để thuận lợi cho chẩn
đoán và điều trị ngƣời ta chia niệu quản thành 3 đoạn và sỏi ở đoạn nào thì gọi
tên theo đoạn đó [2],[12]:
- Sỏi niệu quản đoạn trên: sỏi nằm ở đoạn niệu quản từ khúc nối bể thận
niệu quản đến đƣờng ngang của liên đốt sống L5-S1.
6
- Sỏi niệu quản đoạn giữa: sỏi nằm ở niệu quản đoạn từ đƣờng ngang của
liên đốt sống L5-S1 đến cuối khe khớp cùng chậu.
- Sỏi niệu quản đoạn dƣới: sỏi nằm ở đoạn niệu quản từ cuối khe khớp
cùng chậu đến bàng quang.
1.1.1.3 Mạch máu.
Động mạch niệu quản đƣợc cung cấp máu bởi nhiều nguồn khác nhau:
- Nhánh từ động mạch thận cấp máu cho đoạn trên niệu quản và bể thận.
- Các nhánh nhỏ từ động mạch chủ, động mạch chậu trong, động mạch
chậu mạc treo tràng bên phải, động mạch mạc treo tràng dƣới ở bên trái, động
mạch thừng tinh hay động mạch buồng trứng cấp máu cho đoạn giữa niệu quản.
nhau 2,5cm ( khi bàng quang rỗng) và 5cm khi bàng quang đầy [51].
Vì vậy muốn tìm lỗ niệu quản trong khi soi đƣợc thuận lợi, không nên để
bàng quang quá căng làm cho 2 lỗ niệu quản cách xa nhau và bị đẩy lên cao làm
cho quá trình tìm và đặt ống soi vào lỗ niệu quản khó khăn.
* Niệu quản bình thƣờng có đƣờng kính trong tƣơng đối đồng đều và dễ
dàng giãn nở. Niệu quản có 3 chỗ hẹp tự nhiên có thể nhận thấy trong nội soi là:
chỗ nối niệu quản bể thận, đoạn niệu quản chậu bắt chéo động mạch và niệu
quản đổ vào bàng quang. Mức độ hẹp tùy vào từng bệnh nhân khác nhau, thông
thƣờng không ảnh hƣởng đến nội soi. Tuy nhiên một số trƣờng hợp hẹp nhiều
không đặt đƣợc ống soi niệu quản nếu không tiến hành nong niệu quản[62].
Đƣờng kính lòng niệu quản nơi nối tiếp bể thận niệu quản trung bình 2cm, chỗ
niệu quản bắt chéo động mạch chậu 4cm, chỗ nối tiếp niệu quản bàng quang , lỗ
niệu quản 3- 4cm. Đây chính là giải phẫu của niệu quản ứng dụng trong nội soi
đó là liên quan chặt chẽ đến tƣ thế đặt máy nội soi niệu quản ngƣợc dòng. Các
đoạn khác của niệu quản có đƣờng kính từ 5- 10cm [51].
Sỏi niệu quản đoạn bắt chéo động mạch chậu có thể nhìn thấy rõ niệu quản
nẩy theo nhịp đập của động mạch. Tại vị trí này khi tán sỏi đề phòng tai biến
thủng niệu quản có thể gây nên tổn thƣơng động mạch.
Trong quá trình soi niệu quản phải tôn trọng sự mềm mại của niệu quản. Chỉ
cần đẩy dây hƣớng dẫn vào thành niệu quản đoạn gấp khúc cũng có thể làm thủng
niêm mạc niệu quản. Khi đƣa ống soi trong lòng niệu quản không đủ rộng có thể
gây trợt niêm mạc niệu quản tạo thành một nếp gờ làm cản trở quá trình soi, nếu tiếp
9
tục đẩy máy lên sẽ bong niêm mạc niệu quản khỏi lớp dƣới niêm mạc, gây nên thiếu
máu nuôi dƣỡng và hậu quả là có thể làm hẹp niệu quản sau này [7].
Đƣờng uốn cong và sự di động cùa niệu quản: nếu nhìn từ trong niệu quản
qua ống soi thì thấy đƣờng đi của niệu quản từ bàng quang lên bể thận phải thay
đổi hƣớng nhiều lần, làm cho ngƣời ta nghĩ khó có thể đƣa đƣợc ống soi cứng lên
niệu quản. Tuy nhiên, nhiều tác giả đã chứng minh đƣợc rằng có thể đƣa đƣợc
có một sự cản trở tƣơng đối về hoạt động điện thế tại vị trí nối bể thận niệu quản
[ 37]. Mỗi khi bể thận nhận đầy nƣớc tiểu từ các đài thận đổ về, làm áp lực trong
bể thận tăng, lên kích thích trƣơng lực cơ tạo thành nhu động co bóp đẩy nƣớc
tiểu xuống niệu quản. Áp lực co bóp của niệu quản đẩy nƣớc tiểu cao hơn áp lực
bể thận, khi đó chỗ nối bể thận niệu quản đƣợc đóng lại ngăn không cho nƣớc
tiểu trào ngƣợc từ niệu quản lên thận. Quá trình này đƣợc diễn ra liên tục, nƣớc
tiểu từ trên thận đƣợc đổ về bàng quang.
* Sinh lý chuyển động của nước tiểu trong niệu quản.
Quá trình nƣớc tiểu đƣợc đẩy từ bể thận xuống niệu quản, đoạn tiếp nối bể
thận - niệu quản đóng lại, sóng nhu động đẩy giọt nƣớc tiểu đi, nhƣng luôn tạo ra
một đoạn lòng niệu quản khép lại ở phía trên để ngăn cản dòng nƣớc tiểu trào
ngƣợc lại và cứ thế một nhu động khác lại đƣa tiếp một giọt nƣớc tiểu khác
xuống dƣới. Tốc độ di chuyển của làn sóng nhu động khoảng từ 2cm đến 6 cm
trong 1 phút [ 37].
Dựa vào niệu động học ngƣời ta tính toán đƣợc áp lực trong lòng niệu quản
khác nhau:
- Áp lực tĩnh của niệu quản từ 0 đến 5 cm H
2
O.
- Áp lực co bóp của niệu quản: từ 20-80 cm H
2
O, tần số từ 2 đến 6 lần 1
phút [ 37] áp lực niệu quản tăng dần từ dƣới lên trên, ở đoạn niệu quản bàng
quang có áp lực cao nhất các đoạn niệu quản phía trên giảm dần, nƣớc tiểu đƣợc
đẩy xuồng bàng quang theo 1 chiều:
- Áp lực ở bể thận: 15 cm H
2
O . Đoạn thắt lƣng: 20-30 cm H
2
O
lƣợng giọt nƣớc tiểu tăng và nhƣ vậy mỗi nhu động co bóp có thêm một lƣợng
nƣớc tiểu trong khi tốc độ di chuyển không thay đổi. Các giọt nƣớc tiểu sẽ dài
hơn, rộng hơn nhƣng vẫn cách nhau giữ cho không có hiện tƣợng trào ngƣợc. Sự
hoạt động này còn phụ thuộc vào điều kiện bàng quang đầy nƣớc tiểu hay rỗng,
cũng nhƣ trên đƣờng tiết niệu có cản trở hay không.
Lúc bàng quang đầy nƣớc tiểu, trƣơng lực cơ ở thành niệu quản, bể thận và
đài thận giảm hơn, khẩu kính ống dẫn lớn hơn và nƣớc tiểu ứ đọng hơn. Chính
điều này làm hoạt động co bóp của các cơ sẽ có thể giảm tần số nhƣng mạnh hơn
để đẩy nƣớc tiểu. Trƣờng hợp này cũng có thể xảy ra khi trên đƣờng niệu có vật
cản (sỏi niệu quản) làm cho sự co bóp nhịp nhàng sẽ thay đổi. Nếu bàng quang đã
hết nƣớc tiểu hoặc vật cản mất đi, hoạt động sinh lý trở lại bình thƣờng. Ngƣợc
lại nếu vật cản vẫn tồn tại, thì áp lực cần thiết để đẩy nƣớc tiểu xuống dƣới quá
cao, nƣớc tiểu phía trên ứ đọng, hoạt động co thắt giữa các đoạn giảm, trƣơng lực
cơ giảm sút. Nếu vật cản là sỏi bít tắc hoàn toàn đƣờng niệu thì trƣơng lực cơ
càng mất đi và dần dần sự hoạt động co bóp của các cơ thành niệu quản mất hẳn,
niệu quản giãn to và mất trƣơng lực. Hiện tƣợng này có thể phục hồi nếu nguyên
nhân ứ tắc đƣợc giải quyết sớm.
1.1.3 Biến đổi giải phẫu và sinh lý đƣờng tiết niệu trên do sỏi niệu quản.
1.1.3.1 Những biến đổi về giải phẫu của thận và niệu quản.
Khi sỏi niệu quản gây tắc nghẽn hoàn toàn niệu quản sẽ gây nên giãn bể
thận. Thời gian đầu, trọng lƣợng thận tăng lên do bị phù nề tổ chức thận. Sau đó,
trọng lƣợng nhu mô thận giảm vì sự xơ hóa của nhu mô thận nhiều hơn là phù nề
trong thận.
13
Niệu quản bị tắc nghẽn không hoàn toàn do sỏi từ 3 đến 10 ngày, lớp đệm
niệu quản bị phá hủy, lớp cơ phì đại. Khi tắc nghẽn kéo dài hơn, lớp cơ dày lên,
giãn ra rồi cuối cùng teo và xơ hóa. Nơi sỏi nằm, thành niệu quản dày lên tạo
thành buồng sỏi. Niệu quản phía dƣới dày, lòng bị chít hẹp, nhu động niệu quản
giảm, phía trên giãn và cong queo, áp suất niệu quản giảm, thuận lợi cho nhiễm
tố tham gia quá trình bồi đắp rất khác với các yếu tố tạo nên nhân sỏi.
Thành phần sỏi có thể là khoáng chất hoặc hữu cơ, hoặc cả hai loại. Những
thành phần hóa học giống nhau có thể kết tinh dƣới nhiều dạng khác nhau. Canxi
oxalate kết tinh dƣới dạng CaOx monohydrate [COM] hoặc CaOx dihydrat
[COD] hay CaOx trihydrat [COT], các dạng kết tinh này đƣợc hình thành dƣới
các điều kiện hóa sinh khác nhau.
Hiện nay cơ chế hình thành sỏi tiết niệu chƣa đƣợc xác định rõ ràng nên
một số tác giả đã đƣa ra các thuyết khác nhau để mô tả cơ chế hình thành sỏi.
1.1.4.1. Kết thể CARR
Là hiện tƣợng ở đầu ống góp, ở quanh gai thận có những hạt sỏi nhỏ, tròn,
cứng. Cá thể này cấu tạo bởi canxi photphat và mucoprotein.
1.1.4.2 Đám RANDALL.
Bình thƣờng, niêm mạc gai thận mềm mại nhẵn nhụi nhƣng khi bị viêm
mãn sẽ trở nên sần sùi tạo điều kiện để các tinh thể gắn vào và kết tụ tạo thành
các mảng Randall, sau đó mảng Randall bong ra rơi xuống, nếu rơi xuống đài
thận tạo thành sỏi thận, nếu rơi xuống niệu quản tạo thành sỏi niệu quản.
1.1.4.3 Hoại tử tháp thận
Hoại tử tháp thận hay gặp ở những bệnh nhân đái tháo đƣờng, viêm đài bể
thận mạn tính, các bệnh nhân dùng thuốc chống viêm kéo dài. Các mảnh tế bào
15
hoại tử sẽ là nhân đầu tiên của viên sỏi và các chất nhƣ canxi và photphat trong
nƣớc tiểu sẽ bồi đắp lên để tạo thành sỏi lớn.
1.1.4.4 Các giả thuyết khác.
* Thuyết keo tinh thể.
Các chất keo trong dịch thể nhƣ mucoprotein, mucin, axit hyaluronic (còn
gọi là keo che chơ) có tác dụng ngăn chặn quá trình kết tụ của các tinh thể. Khi bị
nhiễm khuẩn tiết niệu các chất keo này giảm đi, đặc biệt ở bệnh nhân tăng
adrenalin, dùng corticoid kéo dài. Những yếu tố này làm chất keo che chở giảm
đi đều là tác nhân sinh sỏi tiết niệu.
canxi oxalate. Bệnh lý xảy ra có thể do rối loạn về gen làm tăng quá trình tổng
hợp oxalate tại gan và hội chứng ruột ngắn kém hấp thu.
Các thức ăn có nhiều hàm lƣợng oxalate nhƣ chè, cà phê, socola…, dùng
vitamin C kéo dài, nhiễm độc barbituric… cũng có thể dẫn đến sự rối loạn
chuyển hóa axit oxalate làm tăng oxalate trong nƣớc tiểu.
1.1.5.4 Tăng axit uric niệu.
Tăng axit uric niệu là nồng độ axit uric trong nƣớc tiểu > 600mg/lít.
Nguyên nhân của hiện tƣợng này là do tăng purin hay gặp trong bệnh Goute.
Sự tăng rất cao của axit uric làm toan niệu tạo điều kiện hình thành sỏi urat.
1.1.5.5 Tăng cystine niệu
Gọi là tăng cystine niệu là khi nồng độ cystile niệu > 200mg và nó cũng
làm môi trƣờng nƣớc tiểu toan hóa tạo điều kiện hình thành sỏi cystine.
1.1.5.6 Tăng xanthine niệu
Enzym xanthine oxydase tham gia chuyển hóa base purin: chuyển
hyphoxanthine thành xanthine, rồi thành axit uric. Sự thiếu enzym này làm cho
hyphoxanthine tăng cao trong nƣớc tiểu và tạo điều kiện hình thành sỏi.
17
1.1.5.7 Một số nguyên nhân khác
Một số tác giả đƣa ra các nguyên nhân khác nhƣ toan hóa ống thận, giảm
citrat niệu hay khi dùng nhiều hormon giới tính.
1.1.6 Thành phần hóa học của sỏi.
Hiện nay ngƣời ta đã xác định đƣợc hơn 35 dạng tinh thể khác nhau của
sỏi tiết niệu nhƣng chỉ có khoảng 10-12 tinh thể là hay gặp trong cấu trúc của sỏi.
Trong hội thảo về sỏi tiết niệu Việt Nam tháng 12/93 thì thành phần sỏi tiết
niệu ở miền Bắc Việt Nam nhƣ sau: sỏi oxalate calci kết hợp với calci phosphat
80%, sỏi calci phosphate 17%, sỏi acid uric và cystin 3% [2],[23],[46].
1.1.6.1 Calcium oxalate
Đây là thành phần phổ biến tạo nên sỏi tiết niệu. Dạng phổ biến thƣờng
1.1.6.6 Sỏi dạng 2-8 hydroxyl adenine
Là loại sỏi hay gặp ở những bệnh nhân mắc bệnh thiếu men di truyền.
1.1.6.7 Sỏi cystine
Là biểu hiện của bệnh cystine niệu di truyền, chiếm khoảng 0,5 - 1,5%
nhìn ngoài sỏi hơi óng ánh, màu vàng có thể tròn hoặc dạng san hô. Cystine
không tan trong axit nhƣng lại có thể hòa tan khi pH nƣớc tiểu trên 7,5.
1.1.6.8 Một số thành phần sỏi được hình thành tứ các thuốc.
Các tinh thể sulfonamide, tetracycline, triamtezere là những thuốc gây lắng
đọng và tạo sỏi.
Trên thực tế, các thành phần này thƣờng phối hợp với nhau để cấu tạo
thành sỏi hỗn hợp. Dựa vào mức độ cản quang sỏi trên phim có thể tiên lƣợng
đƣợc mức độ rắn hay mềm của sỏi.
19
1.2 CHẨN ĐOÁN SỎI NIỆU QUẢN.
1.2.1 Chẩn đoán lâm sàng.
Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, có khi diễn biến âm thầm nhƣng phần
lớn có biểu hiện rõ rệt, các biểu hiện tùy theo vị trí của sỏi, các biến chứng của sỏi
gây ra [21].
- Điển hình là cơn đau quặn thận, đau dữ dội xuất phát từ vùng thắt lƣng
rồi theo niệu quản lan xuống vùng bẹn và sinh dục kèm theo, co cứng cơ thắt
lƣng, bụng chƣớng, ấn vào vùng thắt lƣng bệnh nhân rất đau. Nguyên nhân đau là
do co thắt đƣờng tiết niệu hay căng giãn niệu quản đài bể thận
- Đái máu: có thể nhìn thấy bằng mắt thƣờng hoặc bằng xét nghiệm.
- Đái rắt, đái buốt thƣờng gặp sỏi ở niệu quản sát bàng quang.
- Dấu hiệu chạm thận, bập bềnh thận, nếu thân to.
Ngoài ra có thể có sốt, đái đục khi sỏi gây tắc niệu quản và có nhiễm
khuẩn đƣờng tiết niệu. Nếu sỏi niệu quản hai bên hoặc sỏi thận một bên và sỏi
niệu quản một bên thì nhanh chóng ảnh hƣởng toàn thân, gây urê máu cao, thiểu
niệu hoặc vô niệu.
Chụp niệu quản bể thận ngƣợc dòng là một phƣơng pháp chẩn đoán can
thiệp trên bệnh nhân, có nguy cơ gây nhiễm khuẩn đƣờng tiết niệu ngƣợc dòng.
Vì vậy chỉ sử dụng trong trƣờng hợp khó chẩn đoán [56],có giá trị phát hiện sỏi
niệu quản không cản quang, niệu quản bị hẹp, gấp khúc, tắc niệu quản, những sỏi
niệu quản to đẩy xa niệu quản nằm trùng trƣớc cột sống, phân biệt với nốt vôi
hóa ngoài niệu quản…
1.2.2.6 Chụp cắt lớp vi tính:
Áp dụng trong những trƣờng hợp sỏi nhỏ, sỏi không cản quang, hoặc
những trƣờng hợp suy thận creatinin máu tăng cao không chụp đƣợc UIV thì chỉ
định chụp cắt lớp vi tính không có thuốc cản quang.
1.2.2.7 Siêu âm hệ tiết niệu: Siêu âm thƣờng đƣợc sử dụng trƣớc tiên chẩn đoán
sỏi niệu quản. Sỏi niệu quản đƣợc xác định bằng hình ảnh tăng âm kèm bóng cản
21
trên đƣờng đi niệu quản. Siêu âm xác định đƣợc vị trí sỏi, đo đƣợc kích thƣớc sỏi
cũng nhƣ mức độ giãn các đài – bể thận.
Siêu âm thuận lợi cho chẩn đoán sỏi niệu quản trên bệnh nhân có thai, có
thể chẩn đoán sỏi không cản quang. Trong một số trƣờng hợp đau bụng cấp, siêu
âm phát hiện sỏi niệu quản phân biệt với viêm ruột thừa, viêm đại tràng, viêm
phần phụ…Siêu âm chẩn đoán sỏi niệu quản với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu
98% [2]. Tuy nhiên siêu âm gặp khó khăn nếu bụng chƣớng hơi.
1.2.2.7 Nội soi bàng quang- niệu quản:
Trong khi soi bàng quang thƣờng thấy 2 lỗ niệu quản hình bầu dục, nhỏ nhƣ
hạt đậu và chúng hợp với cổ bàng quang thành một tam giác cân (còn gọi là tam
giác bàng quang (trigone)). Soi niệu quản giúp phát hiện các sỏi niệu quản ở nội
thành bàng quang, nhất là sỏi nằm ngay lỗ niệu quản hoặc sỏi không cản quang.
1.2.3 Chẩn đoán vị trí sỏi niệu quản.
Trong số sỏi thận rơi xuống niệu quản thì phần lớn (80%) xuống bàng
quang ra ngoài. Số còn lại (20%) thƣờng dừng lại ở đoạn niệu quản bị hẹp (niệu
quản bắt chéo động mạch chậu, niệu quản sát thành bàng quang). Các sỏi lớn
trên bệnh nhân thận đơn độc cho kết quả 63,2% có biến chứng suy thận trong đó
21,25% vô niệu và suy thận cấp [4]. Vũ Quỳnh Giao (1997) vô niệu thiểu niệu do
sỏi niệu quản hai bên 41,66% .
1.2.4.3 Suy thận cấp và mạn tính.
Suy thận là biến chứng nặng và hay gặp ở sỏi niệu quản hai bên hoặc trên
thận độc nhất. Fenelly R. C. đã gặp 75/209 trƣờng hợp (35,88%) sỏi niệu quản
gây tắc niệu quản, suy thận mạn.Về lâm sàng, do thận đã mất chức năng hoặc
thực thể nên khả năng bài tiết của thận suy giảm nhiều hoặc hoàn toàn. Các chất
độc không đƣợc thải ra ngoài, gây nhiễm độc cơ thể, hậu quả có thể tử vong.
23
Các tác giả Nguyễn Bửu Triều, Ngô Gia Hy, Trần Quán Anh đều nhấn
mạch đến biến chứng này và nhắc nhở phải loại bỏ sớm sỏi, nguyên nhân gây tắc
nghẽn, nhiễm khuẩn niệu và suy thận [2],[13].
1.2.4.4 Viêm thận - bể thận - niệu quản do sỏi:
Tình trạng sỏi ở càng lâu, càng gây tỷ lệ nhiễm khuẩn cao, nhất là viêm đài
– bể thận – niệu quản trên chỗ tắc của viên sỏi.
Trong số 607 trƣờng hợp sỏi niệu quản của Joual A. và cs. (1997) có tới
512 trƣờng hợp ứ nƣớc đài bể thận và có 162 trƣờng hợp bị nhiễm khuẩn
(26,6%), trong đó có 60 trƣờng hợp bị ứ mủ thận (9,8%) [dẫn theo 69]. Theo
Nguyễn Kỳ và cộng sự (1994), tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu do sỏi trƣớc mổ chiếm tới
61,96% [17]. Qua nghiên cứu 112 sỏi niệu quản, Hoàng Tạo cũng thấy tỷ lệ nhiễm
khuẩn trƣớc mổ là 63,34% [29] . Vi khuẩn thƣờng gặp là E. Coli (Nguyễn Văn
Xang, 1998) [44]
Các triệu chứng đau, sốt rầm rộ, toàn thân mệt mỏi, đôi khi lƣợng nƣớc
tiểu trong ngày giảm đáng kể là biểu hiện của bệnh viêm đài bể thận cấp. Bệnh
nhân bị viêm đài bể thận mạn, thể trạng sa sút, đau âm ỉ vùng thắt lƣng, tỷ trọng
nƣớc tiểu giảm nhiều.
Nhìn chung các nghiên cứu đều cho rằng sỏi niệu quản gây tổn thương
sớm thận và niệu quản. Do đó, muốn ngăn ngừa tổn thương cần phải lấy sỏi giải
<120mmol/l.
+ Viêm màng ngoài tim.
+ Biểu hiện thần kinh: lú lẫn, co giật, hôn mê.
+ Xuất huyết trầm trọng do urê máu cao.
+ Hội chứng urê máu cao ≥20mmol/l có biểu hiện lâm sàng.
+ Thiểu niệu không đáp ứng với lợi tiểu.
1.3.2. Điều trị lấy sỏi niệu quản.
- Mổ mở lấy sỏi niệu quản đƣợc áp dụng từ những năm 1882. Khi các
phƣơng pháp can thiệp ít xâm hại chƣa đƣợc phát hiện, mổ mở niệu quản lấy sỏi
là phƣơng pháp thông dụng nhất nhƣng trong vòng hơn hai mƣơi năm nay, phạm
25
vi của mổ mở lấy sỏi niệu quản ngày càng bị thu hẹp nhờ sự phát triển vƣợt bậc
của các phƣơng pháp can thiệp ít xâm hại nhƣ tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi nội soi
[69] Tuy nhiên, cho đến nay mổ mở vẫn đóng một vai trò nhất định khi mà các
phƣơng pháp ít xâm hại khác thất bại hay trong trƣờng hợp thận ứ nƣớc do sỏi
niệu quản thì tiến hành phẫu thuật lấy sỏi niệu quản kết hợp dẫn lƣu thận khi có ứ
đọng và nhiễm khuẩn [18], [45].
- Phẫu thuật lấy sỏi niệu quản nhất là những sỏi to nằm ở 1/3 trên thƣờng
đơn giản hơn lấy sỏi thận, nhƣng riêng lấy sỏi niệu quản đoạn thấp thì khó khăn
do sỏi nằm sâu trong tiểu khung.
- Phẫu thuật lấy sỏi niệu quản đƣợc áp dụng cho các trƣờng hợp sỏi to
đƣờng kính >1,5cm, cứng hoặc đã áp dụng các phƣơng pháp khác thất bại nhƣ
điều trị nội khoa, tán sỏi ngoài cơ thể…, hoặc có các dị tật niệu quản, bàng quang
nhƣ xơ hóa niệu quản gây hẹp nhất là đoạn cuối niệu quản đổ vào bàng quang
[12] [40].
- Nguyên tắc mổ là lấy hết sỏi, đảm bảo lƣu thông đƣờng tiết niệu, tạo hình
lại niệu quản nếu hẹp.
- Các biến chứng thƣờng gặp: nhiễm khuẩn, chảy máu, rò nƣớc tiểu qua
chỗ mở niệu quản, hẹp niệu quản [19],[38].