KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP XUẤT KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế XUẤT KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƢƠNG CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƢỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU Họ và tên sinh viên : Nguyễn Xuân Huấn
Mã sinh viên : 1001025456
Lớp : A3
Khóa : K49
Ngƣời hƣớng dẫn : PGS.TS Nguyễn Xuân Minh
Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ
cập
HACCP
Hazard Analysis Critical
Control Points
Hệ thống phân tích mối nguy
hiểm và kiểm soát điểm tới hạn
HS
Harmonized System
Mã số hàng hóa dùng chung
ISO
International Organization for
Standardization
Hệ thống quản lý chất lượng
IUU
Illegal, Unreported and
Unregulated
Bất hợp pháp, không có báo
cáo và không theo quy định
ODA
Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
PCA
Partnership and Cooporation
Agreement between VietNam
and EU
Hiệp định Đối tác và Hợp tác
toàn diện Việt Nam – EU

Biểu đồ 1.3
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường chính
năm 2011 và 2012
9
Biểu đồ 2.1
Xuất khẩu cá ngừ đại dương của Việt Nam sang các thị
trường chính năm 2012
21
Biểu đồ 2.2
Giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương đóng hộp của một
số nhà cung cấp chính vào thị trường EU năm 2012
22
Biểu đồ 2.3
Các thị trường nhập khẩu cá ngừ chính của Việt Nam
tại EU năm 2012
24
Biểu đồ 2.4
Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ hàng đầu sang
thị trường EU năm 2012
25
Biểu đồ 2.5
Giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương sang EU quí II, năm
2012 và 2013
26
Biểu đồ 2.6
Giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường EU
giai đoạn 2008 – 2013
27
Biểu đồ 2.7
Cơ cấu mặt hàng cá ngừ xuất khẩu sang thị trường EU

Bảng chấm điểm đối với cá ngừ mắt to
69
Mục lục

NHẬN XÉT CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƢƠNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ
TRƢỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 5
1.1. Giới thiệu về thị trƣờng nhập khẩu cá ngừ đại dƣơng liên minh châu Âu .
5
1.1.1. Sơ lược về quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Liên minh châu Âu 5
1.1.2. Thương mại thủy sản Việt Nam – EU 8
1.1.3. Các quy định liên quan đến xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường EU . 9
1.1.3.1. Các quy định chung đối với các mặt hàng thủy hải sản xuất khẩu sang
thị trường EU 9
1.1.3.2. Quy định riêng của EU đối với mặt hàng cá ngừ đại dương 11
1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động xuất khẩu cá ngừ đại dƣơng của
Việt Nam 12
1.2.1. Nhóm các yếu tố trong nước 12
1.2.2. Nhóm các yếu tố quốc tế 14
1.3. Sự cần thiết đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá ngừ đại dƣơng của Việt
Nam sang thị trƣờng EU 14
1.3.1. Thị trường EU là thị trường nhập khẩu cá ngừ đại dương chiến lược của Việt
Nam 14

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân 45 Tiểu kết chƣơng 2 49
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CÁ NGỪ VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU GIAI ĐOẠN
2014 - 2020 50
3.1. Triển vọng xuất khẩu cá ngừ đại dƣơng sang thị trƣờng EU giai đoạn
2014 – 2020 50
3.1.1. Cơ hội 50
3.1.2. Thách thức 51
3.2. Mục tiêu, định hƣớng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá ngừ Việt Nam
sang thị trƣờng EU giai đoạn 2014 – 2020 52
3.2.1. Mục tiêu phát triển ngành cá ngừ Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020 52
3.2.2. Định hướng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang thị trường
EU giai đoạn 2014 – 2020 52
3.3. Đề xuất giải pháp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá ngừ đại dƣơng
của Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn 2014 – 2020 53
3.3.1. Nhóm giải pháp đảm bảo nguồn cung cá ngừ đại dương ổn định và bền vững .
53
3.3.1.1. Giải pháp hỗ trợ ngư dân về thông tin ngư trường và nguồn lợi thủy hải
sản 53
3.3.1.2. Giải pháp về tổ chức sản xuất chuyên nghiệp 55
3.3.1.3. Giải pháp bảo vệ môi trường, nguồn lợi cá ngừ đại dương cho phát triển
bền vững 57
3.3.1.4. Giải pháp nhập khẩu cá ngừ đại dương để ổn định nguồn nguyên liệu
cho xuất khẩu 58
3.3.2. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương xuất khẩu 60
3.3.2.1. Giải pháp cải tiến tàu thuyền, ngư cụ và trang thiết bị kỹ thuật khai thác
60

hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất của Việt Nam và được Chính phủ quy hoạch để
tiếp tục giữ vững vai trò đặc biệt quan trọng này trong giai đoạn sắp tới, góp phần
không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Năm 2012, tổng
giá trị xuất khẩu thủy sản nước ta đạt mốc 6,134 tỷ đô la Mỹ, chiếm hơn 4,5% GDP
của cả nước. Riêng 9 tháng đầu năm 2013, thủy sản đem về cho nền kinh tế nước ta
4,7 tỷ đô, tăng 4,5% so với cùng kì năm trước (Chí Trung, 2013).
Trong đó, không thể không nhắc đến các sản phẩm cá ngừ đại dương, một trong
ba mặt hàng hải sản xuất khẩu quan trọng nhất bên cạnh tôm và cá basa. Năm 2012,
Việt Nam xuất khẩu cá ngừ đại dương sang 94 thị trường với giá trị cả năm đạt 565
triệu đô la Mỹ, tăng 58% so với năm 2011 và là mặt hàng có mức tăng trưởng cao
nhất trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (Báo cáo cuối
năm VASEP, 2012). Với nguồn cá ngừ đại dương tự nhiên vô cùng dồi dào, kinh
nghiệm đánh bắt cá ngừ hơn 15 năm của ngư dân Việt Nam, cộng thêm việc được
đưa vào chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020, ngành khai thác, sản xuất và
xuất khẩu cá ngừ hứa hẹn sẽ tiếp tục duy trì và củng cố vị trí quan trọng của mình
trong ngành thủy sản nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung trong một thời gian
dài sắp tới.
Nói đến cá ngừ đại dương thì không thể không nhắc tới thị trường chủ lực nhập
khẩu mặt hàng này – Liên minh châu Âu (EU). Nếu xét chung về tất cả các mặt
hàng thủy hải sản, EU chiếm đến 18,5% giá trị xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam
năm 2012 với 1,126 tỷ đô la. Riêng về các sản phẩm cá ngừ đại dương, thị trường
này đã nhập khẩu 112 triệu đô la Mỹ, tăng trưởng hơn 50% so với năm 2011. Đặc
biệt, 6 tháng đầu năm 2013, EU là thị trường duy nhất có mức tăng trưởng dương
trong số các thị trường nhập khẩu của Việt Nam. Có thể nói, EU đang là thị trường
quan trọng nhất đối với mặt hàng cá ngừ đại dương xuất khẩu. Với việc EU vừa mới
trải qua cuộc khủng hoảng nợ công, làm suy yếu trầm trọng nhiều nền kinh tế và
phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam
2

xuất sang thị trường EU lại càng được ưa chuộng với mức giá phải chăng hơn so

3

Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Hoạt động xuất khẩu cá ngừ của các doanh nghiệp Việt Nam,
thị trường nhập khẩu cá ngừ Việt Nam là Liên minh châu Âu (EU).
Về thời gian: nghiên cứu thực trạng xuất khẩu cá ngừ trong giai đoạn 2008 đến
6 tháng đầu năm 2013, đề ra giải pháp cho giai đoạn 2014-2020.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tác giả đã sử dụng các phương pháp so
sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, thống kê…các văn bản, sách báo, tài liệu liên
quan đến nội dung nghiên cứu.
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể nói, với sự phát triển nhanh và những đóng góp quan trọng về nhiều mặt
của mình, cá ngừ đại dương đã được rất nhiều các nhà khoa học, doanh nghiệp, bộ
ban ngành nghiên cứu. Nổi bật trong số này là các nghiên cứu sau:
Thứ nhất, Nguyễn Phi Tân, Nguyễn Thị Hồng Thu, Nguyễn Minh Thanh Trà,
2007, Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cá ngừ đại dương ở hai tỉnh Phú Yên
và Khánh Hòa, trung tâm phát triển và công nghệ trẻ thành đoàn thành phố Hồ Chí
Minh
Tóm tắt: Giới thiệu một số vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khẩu cá ngừ đại
dương ở hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển
sản xuất và tiêu thụ cá ngừ đại dương như xây dựng hiệp hội cá ngừ Việt Nam, xây
dựng trung tâm đấu giá sản phẩm cá ngừ…
Thứ hai, ThS. Lê Văn Vịnh, 2011, Nghiên cứu công nghệ bảo quản cá ngừ trên
tàu đánh cá xa bờ của khu vực miền Trung, trung tâm nghiên cứu thủy sản khu vực
III, Bộ thủy sản.
Tóm tắt: Giới thiệu cách thức bảo quản cá ngừ đại dương trên tàu đánh bắt xa
bờ của ngư dân 3 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Nêu bật vai trò quan trọng
của việc bảo quản cá ngừ đại dương trên tàu đánh cá xa bờ nhằm đảm bảo nguồn
nguyên liệu chất lượng cho ngành công nghiệp xuất khẩu cá ngừ và tìm ra các giải

kinh nghiệm cũng như thời gian, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế và bất cập. Kính mong nhận được sự nhận xét, góp ý, chỉnh sửa từ phía Hội
đồng, quý thầy cô và các bạn.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Xuân Huấn
5

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƢƠNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ
TRƢỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU
1.1. Giới thiệu về thị trƣờng nhập khẩu cá ngừ đại dƣơng liên minh châu Âu
1.1.1. Sơ lƣợc về quan hệ kinh tế thƣơng mại Việt Nam – Liên minh châu Âu
Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) là một liên minh kinh tế
chính trị thành lập vào năm 1957 và hiện bao gồm 28 nước thành viên với diện tích
chỉ 4,423,147 km
2
và dân số chỉ khoảng 500 triệu người chiếm khoảng 7,3% dân số
thế giới. Tuy nhiên, đây lại là một khu vực rất năng động và là nền kinh tế số 1 thế
giới với GDP năm 2012 đạt 17,57 nghìn tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người
đứng hàng cao nhất thế giới 32,900 USD/người/năm. EU có 2/5 nước thường trực
Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc là Anh và Pháp, 4/7 nước công nghiệp hàng đầu
thế giới (G7). Ngoài ra, liên minh Châu Âu còn được biết đến là nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài thuộc loại quy mô nhất với 281 tỷ Euro năm 2011 và luôn là nhà tài trợ
hợp tác phát triển lớn nhất thế giới với hơn 50 tỷ Euro mỗi năm, chiếm hơn 60%
tổng viện trợ phát triển toàn cầu (Bộ ngoại giao, 2012).
EU là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã
hội và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Việt Nam và EU chính thức thiết lập
quan hệ ngoại giao vào ngày 28 tháng 11 năm 1990 và kể từ đây, hai bên tiếp tục

triệu USD, quan hệ giữa EU và Việt Nam ngày càng tốt đẹp. Hiện EU là nhà tài trợ
song phương lớn thứ hai về ODA và là nhà cung cấp viện trợ không hoàn lại lớn
nhất cho Việt Nam với tổng ODA cam kết trong giai đoạn 1996-2012 hơn 13 tỷ
USD (Bộ ngoại giao, 2012).
EU hiện là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim
ngạch thương mại hai chiều tăng trung bình 15-20% năm. Hiện EU là đối tác
thương mại lớn thứ 3 và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong giai
đoạn 2000 - 2010, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng 4,3 lần từ mức 4,1 tỷ
USD năm 2000 lên 17,75 tỷ USD năm 2010 (và khoảng 24,29 tỷ USD năm 2011)
(Bộ ngoại giao, 2012). EU là thị trường lớn cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam như giày dép, may mặc, thủy sản, đồ gỗ, điện tử, hàng tiêu dùng. Việt
Nam nhập từ EU chủ yếu là các loại máy móc thiết bị, tân dược, hóa chất, phương
tiện vận tải.
7

Trong năm 2012, EU trở thành thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam với kim
ngạch xuất khẩu hàng qua EU đạt 20,3 tỷ USD, vượt qua cả Hoa Kì (19,6 tỷ USD)
và ASEAN (17,3 tỷ USD).
Biểu đồ 1.1: Các thị trƣờng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2012
Đơn vị tính: Tỷ USD
Nguồn: Đài tiếng nói Việt Nam, vov.vn
Tính trung bình mỗi năm, xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng 22,5% - cao
hơn tốc độ tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và cao hơn tốc độ tăng
của 5 thị trường xuất khẩu chủ lực còn lại. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào
thị trường này đã tăng gần như liên tục trong mấy năm nay, chỉ bị ngắt quãng vào
năm 2009 do khủng hoảng kinh tế thế giới. Cụ thể, năm 2005 đạt 5,52 tỷ USD, năm
2008 cao gấp đôi, đạt 10,9 tỷ USD, năm 2009 đạt 9,4 tỷ USD, năm 2010 đạt 11,39
tỷ USD, năm 2011 đạt 16,55 tỷ USD, năm 2012 đạt 20,3 tỷ USD, chiếm 17,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, khu vực EU có 6 nước đạt kim
ngạch trên 1 tỷ USD là Đức, Hà Lan, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ. Đặc biệt hơn

Nam với tốc độ phát triển nhanh và ổn định. Năm 2005, EU trở thành thị trường
xuất khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm tỉ trọng 15 % kim ngạch xuất
khẩu mỗi năm sau Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên vào năm 2007, EU đã vượt qua Nhật
Bản để trở thành đối tác nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam với tốc độ phát
triển nhanh và khá ổn định. Năm 2011, EU dẫn đầu với 21,8% thị phần kim ngạch
xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đứng trước Mỹ 19,3% và Nhật Bản 16,4%, nhưng
năm 2012, thị trường này đã tụt hạng xuống hàng thứ hai (sau Mỹ với kim ngạch
1,17 tỷ USD) với kim ngạch 1,135 tỷ USD, giảm 15% so với năm 2011. Trong 6
tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào EU chỉ đạt 512 triệu USD,
giảm 7,8% so cùng kỳ năm trước. Theo Tổng Thư ký Hiệp hội chế biến và xuất
khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) Trương Đình Hòe thì nguyên nhân của sự tụt
giảm này là do suy thoái kinh tế đang lan rộng khắp trong các nước EU, trong khi
các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam thiếu chiến lược tiếp thị bài bản và
xây dựng thương hiệu tại thị trường khó tính này (Báo thanh tra chính phủ, 2013).

5,52
10,9
9,4
11,39
16,55
20,3
0
5
10
15
20
25
2005 2008 2009 2010 2011 2012
9


1
1,2
1,4
1,6
EU Hoa Kì
Nhật Bản
Năm 2011 Năm 2012
10

 Hiệp định về đàn cá di cƣ quốc tế của Liên hợp quốc
Hiệp định về đàn cá di cư quốc tế là một phần của công ước về Luật biển quốc tế
do Liên Hợp Quốc soạn thảo. Trong đó qui định rằng, khi các loài cá di cư đến vùng
biển Việt Nam, việc đánh bắt các loài cá này sẽ chịu sự điều chỉnh của Ủy ban Nghề
cá Trung - Tây Thái Bình Dương (WCPFC). Hiệp định này điều chỉnh tất cả các
quốc gia có đàn cá di cư đi qua, song Việt Nam lại chưa là thành viên của WCPFC,
điều này khiến chúng ta gặp bất lợi trong việc hiểu rõ các qui định cũng như phải
thừa nhận và thực hiện qui định của Ủy ban nghề cá Trung – Tây Thái Bình Dương.
Theo hiệp định, Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ các đàn cá di cư, nghiêm cấm các
hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, thường xuyên báo cáo về tình hình khai thác
nguồn lợi thủy sản có liên quan đến đàn cá di cư lên Ủy ban và giải quyết các tranh
chấp lãnh thổ theo hướng bảo tồn các đàn cá di cư. Nếu vi phạm các nguyên tắc
trên, các sản phẩm thủy sản nói chung và cá ngừ đại dương nói riêng của Việt Nam
sẽ bị cấm xuất khẩu trên toàn thế giới và tất nhiên là bị cấm nhập khẩu vào thị
trường EU (Nguyễn Thị Kim Anh, 2009). Đầu tháng 11 năm 2013, Ủy ban châu Âu
(EC) vừa đề nghị ban hành lệnh cấm nhập khẩu thủy sản từ 3 nước là Belize,
Campuchia và Guinea vì hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp quá trữ lượng cho phép,
vi phạm hiệp định về đàn cá di cư.
 Quy định IUU về chứng nhận nguồn gốc thủy hải sản khai thác
IUU là một quy định mới của Liên minh Châu Âu EU về chứng nhận nguồn
gốc của thủy sản khai thác, áp dụng với hàng thủy sản nhập khẩu từ một số nước,

các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Liên minh châu Âu còn ban hành khung 89/109/EEC về nguyên vật liệu trực
tiếp tiếp xúc với thức ăn và ban hành hướng dẫn cụ thể với các sản phẩm đóng gói
bằng nhựa bằng hướng dẫn 2002/72/EEC. Qua đó, việc đóng gói và bao bì sản
phẩm thủy sản cũng được quản lí chặt chẽ. Ngoài ra, Các sản phẩm bên ngoài được
bán tại thị trường EU phải được kèm theo các thông tin sau: nước sản xuất, tên khoa
học và tên thương mại của sản phẩm, phương thức trình bày, thể loại kích thước,
trọng lượng sản phẩm chứa trong bao bì, ngày phân loại, ngày gửi, tên và địa chỉ
của người gửi hàng (Cục xúc tiến thương mại, 2010).
1.1.3.2. Quy định riêng của EU đối với mặt hàng cá ngừ đại dƣơng
 Qui định về thuế quan của EU đối với các sản phẩm từ cá ngừ
Trước 1/1/2014, các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang EU được hưởng
qui chế thuế GSP (Hệ thống thuế ưu đãi phổ cập), mức thuế đối với cá ngừ đại
12

dương của Việt Nam đóng hộp là 20,5%, thăn cá ngừ là 15% và các sản phẩm
nguyên liệu là 14,5%. Kể từ ngày 1/1/2014, mức thuế xuất khẩu cá ngừ của Việt
Nam tiếp tục được hưởng qui chế thuế ưu đãi phổ cập mới của EU với mức thuế
không đổi. Tuy nhiên, từ ngày 1/1/2016, khi hiệp định thương mại song phương
Việt Nam – EU (FTA) chính thức có hiệu lực, mức thuế này chắc chắn được thay
đổi và nhiều khả năng sẽ có lợi hơn cho các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam (Trung
tâm WTO Việt Nam, 2013).
 Chứng nhận “an toàn cá heo”
Xuất phát từ thực tế ngư dân các nước đánh bắt cá ngừ vằn bằng phương pháp
lưới cản dẫn tới nguồn lợi cá ngừ bị suy giảm nghiêm trọng và đe dọa sự tồn tại của
cá heo, vốn có cá ngừ là thức ăn chính. Để bảo vệ cá heo, liên minh Châu Âu yêu
cầu các sản phẩm cá ngừ xuất khẩu sang thị trường này phải có mác “an toàn cá heo
– Dolphin safe” do tổ chức Earth Island Institute cấp. Tại Việt Nam, tính đến tháng
6/2013, mới chỉ có 15 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ được cấp chứng nhận này.
Điều này có nghĩa là một bộ phận rất lớn các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi

lợi thế cạnh tranh của ngành thông qua việc giảm giá thành sản phẩm trên thị
trường, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và đề ra các chiến lược phát triển
riêng phù hợp của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự cạnh tranh không lành mạnh có
thể kìm hãm sự phát triển của ngành xuất khẩu cá ngừ đại dương.
 Chiến lƣợc phát triển của ngành
Đây là kim chỉ nam cho toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, ngành thủy
sản cần xây dựng chiến lược phát triển thủy sản nói chung và ngành xuất khẩu cá
ngừ đại dương nói riêng một cách cụ thể, phù hợp với tình hình mới, năng lực sản
xuất trong nước và sát với thực tế. Chiến lược phát triển của ngành thường là một
chiến lược dài hạn được chia thành các giai đoạn nhỏ hơn với những mục tiêu và
giải pháp, lộ trình rõ ràng.
 Chính sách và sự hỗ trợ của nhà nƣớc
Trong bối cảnh sản phẩm cá ngừ của Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt ở rất
nhiều thị trường thì vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng. Chính phủ cần hỗ
trợ các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ trong hoàn cảnh khó khăn, hướng dẫn, hỗ trợ
doanh nghiệp vượt qua các rào cản thuế quan và phi thuế quan trên thị trường, đồng
thời có chính sách khuyến khích ngư dân đánh bắt, tạo nguồn nguyên liệu ổn định.
Việc tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước để giúp doanh nghiệp tiếp cận và
xâm nhập thị trường cũng là một vai trò không thể thay thế của nhà nước.
14

1.2.2. Nhóm các yếu tố quốc tế
 Thị hiếu tiêu dùng ở thị trƣờng nhập khẩu
Đây là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thị
trường quốc tế. Doanh nghiệp cần tổ chức khảo sát, nghiên cứu thị trường kĩ càng,
nắm bắt thị hiếu và xu hướng tiêu dùng sản phẩm cá ngừ để có chiến lược xây dựng
và tiếp thị sản phẩm phù hợp.
 Sự cạnh tranh quốc tế
Sự cạnh tranh ở thị trường quốc tế khốc liệt hơn thị trường trong nước rất nhiều.
Doanh nghiệp luôn chịu sức ép từ sự mặc cả khách hàng quốc tế, sự cạnh tranh của

, hơn
3000 hòn đảo gần bờ với diện tích hơn 1600 km
2
, quần đảo lớn nhỏ và hệ thống
sông ngoài dày đặc, Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật biển vô
cùng đa dạng và phong phú về số lượng, chủng loại với chất lượng rất cao. Theo
PGS.TS Vũ Văn Phái, công tác tại tiểu ban kinh tế Việt Nam, vùng biển Việt Nam
hiện có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 110 loài cá kinh tế, tổng trữ lượng cá biển
gần 3,5 triệu tấn và cho phép khai thác hơn 1 triệu tấn/năm (Vũ Văn Phái, 2011).
Theo thống kê của Hội nghề cá Việt Nam, cá ngừ đại dương đang là một trong
những loài cá chủ lực xuất khẩu. Theo Tiến sĩ Đoàn Văn Bộ, Chủ nhiệm Bộ môn
Quản lý biển, khoa Khí tượng - Thủy văn - Hải dương học, Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu, dự báo
luồng cá ngừ đại dương” thì ở nước ta, cá ngừ đại dương tập trung chủ yếu ở vùng
biển ngoài khơi 3 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa với trữ lượng vào khoảng
665 ngàn tấn. Trữ lượng dồi dào này cho phép Việt Nam có thể khai thác từ 20000
đến 25000 tấn cá ngừ trên năm, song trên thực tế, sản lượng khai thác cá ở nước ta
chỉ đạt vào khoảng tầm 10000 tấn trên năm, chưa bằng 50% tiềm năng khai thác.
Thời điểm hiện tại, năm 2012, sản lượng cá ngừ đánh bắt là 19000 tấn, xong vẫn
còn tăng lượng đánh bắt lên 6000 tấn mỗi năm mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững
(Nguyễn Kiểm, 2012).
Ngoài ra, các nhà khoa học thuộc Hội nghề cá Việt Nam Việt Nam, vùng biển
ven bờ Việt Nam có rất nhiều thuận lợi cho việc nuôi cá ngừ đại dương, nước ta có
diện tích bờ biển dài, các đảo, quần đảo, vũng, vịnh rất thuận lợi cho nuôi cá lồng,
bè. Số lượng cá ngừ đại dương vàng con 1-10kg được đánh bắt rất nhiều và dễ
dàng. Nếu lượng cá con này được nuôi lớn và xuất khẩu thì giá trị kinh tế là rất cao.
Cũng theo các nhà khoa học, thì vùng biển thuộc vịnh Vân Phong, Khánh Hòa có
tiềm năng nuôi cá ngừ đại dương con hơn cả. Với việc một số nước đã thử nghiệm
thành công mô hình nuôi cá ngừ đại dương như Nhật Bản, thì Việt Nam hoàn toàn
có thể học hỏi và làm được.

ngạch xuất khẩu mặt hàng này ước tính sẽ đạt từ 8 đến 9 tỷ USD. Trong đề án đã
được phê duyệt, cùng với Mỹ và Nhật Bản, EU là một trong 3 thị trường quan trọng
hàng đầu trong việc nhập khẩu hàng thủy sản Việt Nam. Và cá ngừ đại dương tiếp
17

tục được Tổng cục thủy sản lựa chọn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta
cùng với tôm, cá tra và basa.
Như vậy, có thể nói, cá ngừ đại dương tiếp tục giữ vai trò quan trọng hàng đầu
trong chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam và EU đồng thời là nhà nhập khẩu
quan trọng nhất của thủy sản Việt Nam.
1.4. Bài học kinh nghiệm của các quốc gia có xuất khẩu cá ngừ đại dƣơng
1.4.1. Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan
 Lý do Thái Lan đƣợc chọn
Đất nước Thái Lan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về vị trí địa lí, khí
hậu, điều kiện tự nhiên… Tuy nhiên, đây lại là nhà sản xuất và xuất khẩu cá ngừ lâu
đời và lớn nhất thế giới với chất lượng và thương hiệu được khẳng định, đặc biệt là
sản phẩm cá ngừ đóng hộp. Trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cá ngừ giá rẻ và
chưa có thương hiệu mạnh trên thị trường. Thái Lan cũng đồng thời là nhà sản xuất
cá ngừ hộp lớn nhất và chiếm thị phần cao nhất tại liên minh châu Âu.
 Bài học kinh nghiệm của Thái Lan
Ngành công nghiệp cá ngừ Thái Lan rất chú trọng đến việc đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm và coi đó là nhân tố quan trọng có yếu tố sống còn. Thái Lan là một
trong những quốc gia ít ỏi và đầu tiên áp dụng hệ thống kiểm soát chất lượng
HACCP trên toàn bộ các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ.
Chính quyền Thái Lan luôn tìm cách hỗ trợ ngư dân đánh bắt cá xa bờ, hình
thành các đội tàu rất mạnh, bên cạnh việc xây dựng các cảng biển trọng tâm để phát
triển nghề cá. Cảng cá Phuket từ nhiều năm nay là cảng cá ngừ số 1 của Thái Lan,
góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu.
Mặc dù khai thác cá ngừ 1 lượng lớn, xong do nhu cầu cá nguyên liệu cho xuất
khẩu quá lớn, Thái Lan liên tục phải nhập khẩu cá ngừ. Song, với sự trợ hỗ trợ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status