MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG VÀ THỰC HIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TCVN ISO 9001 2008 TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO - Pdf 30

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG VÀ THỰC HIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
THEO TCVN ISO 9001:2008 TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
Trong quá trình xây dựng và phát triển nhà trường mọi hoạt động đều hướng
đến mục đích là “Xây dựng Trường Đại học TDTT Đà Nẵng thành trường trọng
điểm trong công tác đào tạo cán bộ TDTT cho khu vực miền Trung – Tây
Nguyên, xây dựng nhà trường thành cơ sở đào tạo, NCKH và tư vấn có tầm cỡ khu
vực, có chất lượng đào tạo cao”.
Để thực hiện được mục tiêu đó, bất cứ một cơ sở giáo dục nào cũng cần chú
ý công tác quản lý chất lượng, cần phải tìm hiểu lựa chọn hệ thống quản lý chất lượng.
Lãnh đạo trường đại học TDTT Đà Nẵng đã sớm nhận thức được điều này, sớm có chủ
trương, quyết định lựa chọn, triển khai xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất
lượng ISO 9001:2008, thiết lập hệ thống tổ chức chỉ đạo áp dụng ISO 9001:2008.
Ngoài ra, xét toàn xã hội, vấn đề chất lượng nói chung, chất lượng đào tạo nói
riêng đang là vấn đề quan tâm của tất cả mọi người. Một trong những nhiệm vụ chủ
yếu của ngành giáo dục - đào tạo được đặt ra trong năm nay là kiểm định chất lượng
và khảo thí. Một trong những điểm mới của Luật giáo dục vừa ban hành là đưa thêm
nhiệm vụ kiểm định chất lượng và công tác kiểm định. Như vậy, chủ trương của lãnh
đạo Nhà trường là phù hợp xu thế chung, như là một tất yếu khách quan.
Hệ thống quản lý chất lượng Nhà trường bao gồm các yếu tố khác nhau: ISO,
hệ thống kiểm định chất lượng (chương trình, nhà trường) v.v. Các yếu tố này bổ sung
hỗ trợ nhau trong việc quản lý, kiểm soát chất lượng đồng bộ.
1. Ý nghĩa xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2008, thực hiện kiểm định chất lượng
Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2008 giúp không
ngừng hoàn thiện quá trình quản lý, quá trình đào tạo trên cơ sở các chuẩn mực đã
được xây dựng, trên cơ sở định kỳ làm rõ những điểm không phù hợp và có kế hoạch
khắc phục có hiệu quả các điểm không phù hợp đó.
Kiểm định nhà trường hỗ trợ việc kiểm tra thực hiện các chuẩn mực (Tiêu
chuẩn và tiêu chí) quản lý quá trình đào tạo đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định

Khi vấn đề đặt ra là chất lượng, mọi người luôn có sự liên tưởng đến tiêu chuẩn
ISO 9001: 2008 - Hệ thống quản lý chất lượng. Ai cũng biết rằng tiêu chuẩn này là
một tiêu chuẩn khá phổ biến tại Việt Nam và được áp dụng cho nhiều ngành nghề khác
nhau, từ bệnh viện đến xưởng cơ khí, từ trường học đến các doanh nghiệp… Vậy đâu
là sự khác biệt giữa kiểm định chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001: 2008?
Kiểm định chất lượng: Là việc kiểm tra để xác nhận giá trị của một trường đại
học và cao đẳng. Việc kiểm định chất lượng này có ý nghĩa như phê duyệt giá trị sử
dụng cho các bằng cấp được ban hành bởi các trường. Các trường được công nhận chỉ
được cấp giấy công nhận trong một khoảng thời gian xác định và các chương trình học
xác định. Trong khoảng thời gian này, sẽ có các chuyên gia kiểm định đi kiểm tra giám
sát định kỳ.
ISO 9001: 2008 - Hệ thống quản lý chất lượng: ISO là viết tắt của
International Standard Organization và có nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau, trong đó tiêu
chuẩn ISO 9001: 2008 được xem là phổ biến. ISO 9001: 2008 chuẩn hoá hệ thống
quản lý chất lượng, trong đó thể hiện việc cải tiến liên tục và định hướng vào khách
hàng.
ISO 9001: 2008 không hạn chế trong bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào, và
được áp dụng cho tất cả các ngành nghề. Chính vì vậy đạt được tiêu chuẩn ISO trong
ngành giáo dục không có nghĩa là “chất lượng cao” mà chỉ có nghĩa là các trường đang
“cố gắng hoàn thiện về chất lượng” của mình thông qua việc cải tiến liên tục. Tiến sỹ
W. Edward Deming nhận xét: “Chất lượng tốt không nhất thiết là chất lượng cao mà là
sự đồng đều và đáng tin cậy ở một mức giá thấp nhất để thị trường có thể chấp nhận
được”.
* Điểm khác nhau giữa kiểm định chất lượng và tiêu chuẩn ISO 9001: 2008
Điểm khác nhau đầu tiên là bản chất của kiểm định chất lượng thể hiện vai trò
của trường đại học trong việc đào tạo ra các sinh viên có chất lượng trong khi đó ISO
9001: 2008 chỉ thể hiện vấn đề cải tiến liên tục trong việc quản lý chất lượng giảng
dạy. Nói cách khác, thông qua việc kiểm định chất lượng sẽ phân loại được trường và
đẳng cấp của các trường được thể hiện rất rõ còn đối với ISO 9001: 2008 thì mọi
trường đều có thể đạt được.

đây để thể hiện vấn đề kiểm định chất lượng:
Chất lượng = Hệ thống quản lý + Sản phẩm
Do đó
Kiểm định chất lượng = đánh giá hệ thống quản lý + kiểm định chất lượng
sinh viên tốt nghiệp.
Nếu một trường có một hệ thống quản lý tốt và chất lượng của sinh viên tốt
nghiệp giỏi có nghĩa là trường đó đạt được mức kiểm định chất lượng đúng theo yêu
cầu. Như thế việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 để kiểm soát hệ thống quản lý là
hoàn toàn phù hợp.
Trên đây chúng ta đã nhìn thấy được khái niệm, các điểm khác nhau và giống
nhau giữa kiểm định chất lượng và ISO 9001: 2000, vậy câu hỏi được đặt ra là làm thế
nào kết hợp được ISO 9001: 2000 và kiểm định chất lượng? Để trả lời cho câu hỏi
trên, chúng ta quay lại phần giống nhau giữa kiểm định chất lượng và tiêu chuẩn ISO
9001: 2008.
Chất lượng = hệ thống quản lý + sản phẩm
Kiểm định chất lượng = đánh giá hệ thống quản lý + kiểm định chất lượng sinh
viên tốt nghiệp.
Để kiểm định chất lượng theo nguyên tắc trên, chúng ta cần phải xây dựng hai
hệ thống và theo từng bước như sau:
Bước 1: Xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008. Đây là
bước nhà trường đã triển khai, thực hiện, là một bước chuẩn bị cho việc kiểm định
chất lượng. Giai đoạn này phải kéo dài trong vòng 2 - 3 năm cho đến lần tái đánh giá
hệ thống quản lý chất lượng nhằm mục đích cho nhà trường quen dần với việc đánh
giá và khắc phục những vấn đề còn tồn tại và đảm bảo các yêu cầu tối thiểu cho một
hệ thống quản lý chất lượng.
Bước 2: Kiểm định chất lượng sinh viên tốt nghiệp theo các tiêu chí và các
thang điểm cụ thể theo nội dung quy định. Các tiêu chí phải đi sâu hơn về mặt nội
dung. Để đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp phải dựa trên nền tảng ISO 9001:
2008. Giai đoạn này nhằm bổ sung các yếu tố cần thiết cho việc kiểm định chất lượng.
Thời gian để nâng cấp cho chất lượng sinh viên tốt nghiệp thường kéo dài trong 3

tiêu
chuẩn

kiểm

định

chấ
t l
ượng

đạ
i
họ
c c

a B


Giáo

dụ
c


Đào
t
ạo

tuy


thể,

m

nền
t
ảng

cho

Trường

xây

dựng



phát
tri
ển

đạ
t tiêu
chuẩn

ISO

mộ

đào
t
ạo

trong
khu

vự
c


trên

thế

giớ
i.
3.2. Những tồn tại
- Còn lúng túng chưa hình dung hết các công việc, nhiều tài liệu ban hành còn
mang tính hình thức, chưa sát với thực tế công việc nên phải chỉnh sửa, bổ sung, thậm
chí bãi bỏ, phải ban hành mới nhiều lần.
- Một bộ phận cán bộ chủ chốt và CB, CNV của một số đơn vị tham gia các
khóa đào tạo nhận thức về hệ thống quản lý chất lượng, về đánh giá nội bộ theo tiêu
chuẩn TCVN ISO 9001:2008 chưa đầy đủ do đó ảnh hưởng rất lớn trong việc áp dụng
và duy trì cải tiến hệ thống quản lý chất lượng tại đơn vị đó.
- Một số cán bộ công chức chưa quen với hệ thống quản lý chất lượng, nhận
thức chưa cao, cảm thấy “gò bó” khi thực hiện công việc theo các quy trình, thủ tục,
quy định. Đây là quá trình thay đổi tạo “văn hóa” trong công tác quản lý, hình thành
phương pháp làm việc mới trong cán bộ nhân viên của cơ quan quản lý nhà nước do
vậy cần có thời gian thích nghi và phải thường xuyên đào tạo.

Kiểm định chất lượng là một vấn đề không phải là mới so với nhận thức chung
toàn đơn vị và khá phức tạp trong quá trình triển khai, thực hiện. Trong giới hạn của
bài viết này không đủ để trình bày tất cả các vấn đề liên quan đến kiểm định chất
lượng và ISO 9001: 2008. Do đó, bài viết này chỉ mang tính chất tham khảo. Việc
kiểm định chất lượng không chỉ dừng lại ở đây, các câu hỏi khác được đặt ra và cần
phải giải quyết như: Chuẩn bị cho công tác kiểm định chất lượng như thế nào? Tiêu
chí để kiểm định chất lượng là gì? Nhà trường đã đáp ứng được các tiêu chí kiểm định
chưa? Và ai sẽ là chuyên gia kiểm định chất lượng? Nâng cao chất lượng công tác
quản lý đào tạo phải thoả mãm các câu hỏi đã đặt ra./.
TÀI LI Ệ U THAM K H

ẢO
Trong bài viết này sử dụng tài liệu tham khảo chính của Dr. Martin về việc
kiểm định chất lượng giáo dục Mỹ, bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và các bản triển khai
ISO 9001: 2008 của Dr. Nguyễn Võ Minh Hùng; ThS Nguyễn Tử Minh, Trường Cao
đẳng Sư phạm Đà Lạt. Các thông tin tham khảo trên mạng từ các trường đại học cả
nước.
ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ GIỜ DẠY
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
Ths. Nguyễn Mạnh Cường
Bộ môn Cầu lông – Quần vợt
1. Đặt vấn đề:
Việc thực hiện bằng phương pháp thủ công công việc quản lý giờ dạy của các
cán bộ giảng viên (CBGV) các bộ môn thuộc trường Đại học TDTT Đà Nẵng thường
chiếm khối lượng lớn thời gian của các trợ lý bộ môn nhưng vẫn không đảm bảo tính
chính xác của các số liệu, dữ liệu về khối lượng giờ giảng dạy, lịch phân công giảng
dạy của các CBGV trong bộ môn. Điều đó dẫn đến hiệu quả công việc của các trợ lý
bộ môn vẫn chưa cao.
Năm 2008, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ban hành Chỉ thị 55/2008/CT-
BGD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giáo dục

những nhược điểm của phương pháp này như sau:
 Tiêu tốn nhiều thời gian khi sắp xếp lịch từng cá nhân do phải điều chỉnh cân
đối lượng giờ giảng dạy của các CBGV trong bộ môn;
 Tiêu tốn thời gian để viết và sao chép bằng tay các bảng phân lịch giảng dạy;
 Lưu trữ nhiều giấy tờ (các bảng phân lịch của từng cá nhân CBGV, trong từng
tuần, tháng, học kỳ);
 Thường mắc phải sai sót, nhầm lẫn trong tính toán khối lượng giờ giảng dạy;
 Khối lượng giờ giảng dạy của các CBGV trong bộ môn thường bị chênh lệch
lớn do không thường xuyên tổng hợp số lượng giờ giảng dạy trong các tuần hoặc trong
học kỳ;
 Không kịp điều chỉnh số lượng giờ chênh lệch giữa các CBGV trong từng môn
học dẫn đến sự chênh lệch lớn trong khối lượng giảng dạy của các CBGV từng môn
học trong bộ môn;
3. Ứng dụng tin học vào công tác quản lý giờ dạy:
Những hạn chế nêu trên được khắc phục đáng kể, mang lại hiệu quả cao trong
công tác quản lý giờ dạy của người trợ lý bộ môn với sự ứng dụng của tin học, cụ thể
hơn là sự vận dụng phần mềm Microsoft Excel vào việc phân lịch và tính toán khối
lượng giờ.
Có thể nói rằng phần mềm Microsoft Excel mở ra triển vọng to lớn trong việc
tính toán các số liệu có tính liên kết một cách nhanh chóng, chính xác và việc quản lý
dữ liệu theo hệ thống rõ ràng.
Nếu như việc quản lý giờ dạy bằng phương pháp thủ công được thực hiện một
cách riêng rẽ, rời rạc và đòi hỏi việc tính toán lặp đi lặp lại để đảm bảo tính chính xác
thì bằng việc ứng dụng phần mềm Microsoft Excel, các công việc đó được thực hiện
trong cùng một thao tác nhập số liệu “đầu vào”. Tuy nhiên, làm sao để điều đó có thể
thực hiện được, đó chính là mấu chốt quan trọng của công việc này. Để làm được điều
này, tất cả mọi phép tính đều đã được cài đặt sẵn công thức sau khi tham chiếu các quy
định của nhà trường về công tác tính toán và quản lý giờ dạy của bộ môn.
Minh họa cụ thể về ứng dụng của Microsoft Excel trong công tác quản lý giờ
dạy tại bộ môn Cầu lông – Quần vợt:

• Giảm thiểu sự chênh lệch trong việc phân giờ giảng dạy cho các CBGV;
• Kịp thời điều chỉnh số lượng giờ chênh lệch giữa các CBGV trong từng môn
học (nếu có).
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, việc ứng dụng phần mềm Microsoft Excel
vào công tác quản lý giờ dạy vẫn còn tồn tại một số khó khăn sau:
• Dự báo khối lượng giảng dạy đầu năm học và tổng khối lượng giảng dạy thực
tế của mỗi cá nhân CBGV trong năm còn có sự chênh lệch lớn với tỷ lệ sai số có thể
lớn hơn tỷ lệ sai số cho phép, xuất phát từ nguyên nhân do kế hoạch công tác, học tập
của CBGV nằm ngoài dự đoán của bộ môn, cũng như việc thay đổi, bổ sung tăng đột
suất số lượng lớp học và số lượng sinh viên của các lớp sau khi hoàn thành kết quả dự
báo;
• Kiến thức, kỹ năng tin học của một số CBGV trợ lý bộ môn vẫn còn hạn chế,
chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo trong việc nghiên cứu đổi mới phương
pháp quản lý công việc của mình.
4. Bài học kinh nghiệm và đề xuất:
Qua 02 năm ứng dụng phần mềm Microsoft Excel vào công tác quản lý giờ dạy
của CBGV bộ môn Cầu lông – Quần vợt, tôi có một số kinh nghiệm và đề xuất sau:
• CBGV trợ lý bộ môn cần đầu tư thời gian vào việc nghiên cứu các phương
pháp quản lý giờ dạy mới nhằm thay thế phương pháp thủ công tồn tại nhiều hạn chế;
• Các CBGV cần thường xuyên học tập và tự trang bị thêm kiến thức về tin học
để phục vụ cho công tác chuyên môn giảng dạy và quản lý của mình;
• Nhà trường cần thường xuyên quan tâm và tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng
tin học cần thiết cho các CBGV;
• Phòng Đào tạo nên tổ chức các buổi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các
trợ lý bộ môn để học hỏi, cập nhật kinh nghiệm lẫn nhau trong công tác quản lý bộ
môn để phục vụ công việc tốt hơn.
5. Kết luận:
Trong thời điểm hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành công
nghệ thông tin nói chung, của ngành tin học nói riêng thì việc ứng dụng tin học vào
công tác giảng dạy và quản lý giáo dục đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học là

hành thì việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ chẳng mấy khó khăn.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc
dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường tuy những năm gần đây đã được chú
trọng đầu tư nhưng vẫn còn thiếu các phòng học chức năng, số máy tính phục vụ cho
học tin học và nghiên cứu thông tin của sinh viên còn ít (chỉ có 02 phòng học vi tính
với tổng là 86 máy tính/3200SV, không có phòng máy truy cập thông tin internet tham
khảo tài liệu). Ngoài ra còn thiếu các phần mềm hỗ trợ dạy học và quản lý, thiếu kênh
cung cấp thông tin tham gia học tập trực tuyến…
2. Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành của trường đã được triển khai
nhiều năm trở lại đây với nhiều phần mềm đặc thù hữu ích tại các phòng như: Phần
mềm Quản lý nhân sự - P.TCCB, phần mềm kế toán – Phòng Tài vụ, phần mềm quản
lý công văn – phòng Văn thư, phần mềm Quản lý điểm – phòng Đào tạo… Tuy nhiên,
những ứng dụng này chưa đồng bộ và còn mang tính tự phát, chưa có hệ thống cơ sở
dữ liệu chung cho toàn trường. Nhân lực phụ trách và trực tiếp thực hiện ứng dụng
CNTT trong cơ quan còn thiếu.
Việc lưu trữ hồ sơ, văn bằng, chứng chỉ, công văn, giấy tờ, các loại hóa đơn,
chứng từ, danh mục sách báo, nhân sự, lương bổng, phân công công việc, lên kế hoạch
giảng dạy, lịch trình, đào tạo trực tuyến… đa số đều làm việc và lưu trữ bằng giấy tờ
hoặc bằng máy nhưng dưới hình thức tập hợp thông tin mà không có phần mềm hỗ trợ.
Việc trao đổi thông tin qua Email, qua Cổng thông tin nội bộ tuy đã có nhưng
vẫn còn ít, chỉ có một số cán bộ giảng viên thường xuyên sử dụng các hình thức làm
việc này.
II. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT trong quản lý và dạy học:
1. Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học:
- Tiếp tục xây dựng nội dung thông tin số, khuyến khích giảng viên soạn bài
trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo án trên máy tính phục vụ giảng dạy thay cho nội
dung thông tin bằng văn bảng giấy tờ.
- Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet, tạo điều
kiện để sinh viên có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp. Điều

lành mạnh của một bộ phận học sinh, bởi đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến lười học, bỏ học.
- Khuyến khích cán bộ giáo viên trong nhà trường kết nối Internet theo chương
trình khuyến mại dành riêng cho ngành giáo dục;
2. Ứng dụng CNTT trong điều hành quản lý giáo dục:
- Tin học hóa công tác quản lý ở các phòng, bộ môn. Tất cả các cán bộ và giảng
viên thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng.
- Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng, chuẩn kiến thức và kỹ năng về
CNTT phù hợp từng nhóm đối tượng được bồi dưỡng là cán bộ, công chức, cán bộ
quản lý giáo dục, là đội ngũ giảng viên và viên chức chuyên trách ứng dụng CNTT.
- Cần có sự quyết tâm của lãnh đạo trường trong việc XD nguồn nhân lực
CNTT, đầu tư trang thiết bị và phần mềm quản lý trong nhà trường, đồng thời thiết lập
chính sách duy trì, bảo dưỡng tài sản CNTT cũng như không ngừng nâng cấp và cập
nhật các phần mềm quản lý.
- Để phát huy được hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong trường, xóa bỏ
được sức ỳ và tâm lý ngại thay đổi, rất cần sự thay đổi nhận thức trước hết là từ lãnh
đạo trường, đồng thời có sự đầu tư một cách có hệ thống và đồng bộ.
III. Giới thiệu về Website của trường
- Website của trường tuy chưa phải là một website lớn với nhiều chức năng
nhưng cơ bản đó là một trang web bao gồm các chức năng căn bản gồm 2 mảng chính
là Quản lý đào tạo và thông tin tuyên truyền.
+ Về chức năng Quản lý đào tạo: trang web thường xuyên cập nhật các tin tức
quản lý của nhà trường và của ngành. Tuy vậy, việc cập nhật đôi lúc có sự chậm trể,
một phần cũng do lỗi của người biên tập website, một phần cũng là thiếu sự hỗ trợ
phối hợp giữa các phòng khoa. Để cải tiến cho việc cập nhật thông tin này có thể hiệu
quả, nhanh chóng, chính xác, kính đề nghị các đơn vị phối hợp cùng Ban biên tập
trang tin là: sau khi các văn bản đã được BGH phê duyệt và phát hành, người chịu
trách nhiệm biên soạn văn bản điền đầy đủ thông tin: số hiệu văn bản và ngày ban
hành, gởi file văn bản này về Ban biên tập qua Cổng thông tin trên website Trường
hoặc qua địa chỉ email: Để Ban biên tập trang tin có cơ sở

127 đầu giáo trình
638 đầu tài liệu tham khảo
542 đầu tài liệu chuyên ngành
Báo-tạp chí: 12 loại
Hơn 500 cuốn luận văn tốt nghiệp của sinh viên các khóa
29 luận văn tốt nghiệp cao học, nghiên cứu sinh của cán bộ, giảng viên trong
trường
Gần 150 báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, các bộ đề thi, ngân hàng câu hỏi
và đáp án các môn học do các bộ môn, các giảng viên nhà trường biên soạn.
Tài liệu là luận văn tương đối phong phú, nhưng sách chuyên ngành chưa đầy
đủ. Một số môn học chưa có giáo trình như: đá cầu, tiếng Việt, cơ sở văn hoá Việt
Nam…
Thư viện không có phòng máy tính cho bạn đọc truy cập. Tài liệu của thư viện
chủ yếu bằng giấy, chưa có tài liệu bằng đĩa mềm. Hầu như không có tài liệu chuyên
ngành bằng tiếng nước ngoài.
Thư viện chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tài liệu của giàng viên, sinh viên
toàn trường.
Số lượng sinh viên nhà trường ngày càng tăng. song lượt bạn đọc đến thư viện
không tăng. Những năm trước, vào giai đoạn làm luận văn tốt nghiệp hay mùa thi,
phòng đọc luôn chật kín chỗ ngồi nhưng năm vừa qua lượng bạn đọc tại phòng đọc
giảm nhiều. Mặc dù Thư viện đã bố trí phục vụ thêm các buổi tối. Thư viện có phòng
tự học nhưng rất ít sinh viên đến học, mỗi tháng chỉ vài em đến học.
Có nhiều nguyên nhân khiến sinh viên ít đến thư viện: sự nghe giảng nhiều hơn
tự học, sinh viên ít có thời gian đến thư viện, sinh viên không được yêu cầu hay bắt
buộc phải tham khảo tài liệu bằng tiếng nước ngoài, việc học và thảo luận theo nhóm
không phổ biến, trình độ ngoại ngữ hạn chế. Có thể do đặc thù ngành đào tạo, sinh
viên học các môn thực hành mệt mỏi, thư viện lại ở xa khu giảng đường, về mùa nóng
rất oi bức nên các em ngại (?)
Các nguyên nhân trên làm hạn chế việc khai thác thư viện. Có ý kiến cho rằng
chính vì còn nghèo nàn, thiếu thốn sách báo nên không thể cải tiến cách dạy và học

- Các giáo viên khi giảng dạy giúp thư viện giới thiệu các tài liệu cần thiết, bổ
ích hiện có ở thư viện, khuyến khích các em sử dụng thư viện. Chính họ sẽ là những
cộng tác viên đắc lực giúp thư viện hoạt động có hiệu quả hơn.
3. Kết luận:
Hình ảnh thư viện đầy ắp các bạn sinh viên đến nghiên cứu, học tập luôn là
hình ảnh đẹp nhất tại các trường đại học - cao đẳng. Tuy nhiên để có được hình ảnh
đó, thư viện sẽ phải tăng cường hơn nữa về số lượng cũng như sự đa dạng, cập nhật
các tài liệu tại thư viện, đặc biệt là các tài liệu chuyên ngành, tài liệu phục vụ công tác
học tập, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên. Nhân viên thư viện phải đổi mới phong
cách phục vụ, lấy người đọc làm trung tâm, không chỉ đơn thuần làm công tác quản lý
tài liệu mà đồng thời là người hướng dẫn, tư vấn cho sinh viên tìm kiếm tài liệu./.
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC NÓI CHUNG
CŨNG NHƯ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT ĐÀ NẴNG NÓI RIÊNG
CN. Nguyễn Văn Tùng
Phòng QLKH&HTQT
I. Mở đầu
Năm học 2011 -2012 đã khai giảng, những chỉ thị ứng dụng công nghệ thông
tin (CNTT) vào giáo dục vẫn còn đó… Thế nhưng cá nhân là người làm trong ngành
giáo dục vẫn chưa thấy những chuyển biến rõ rệt nào, đặc biệt trong ngành giáo dục
thể chất nói chung và Trường Đại học TDTT Đà Nẵng nói riêng.
Tất cả các trường học điều có Internet nhưng để tận dụng triệt để lợi thế này
vẫn còn là vấn đề. Rõ ràng chúng ta vẫn thấy thiếu một chút “quyết liệt” từ các nhà
quản lý, các cấp lãnh đạo giáo dục.
II. Mục đích của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục
Nếu như 10 năm trước đây, CNTT còn là một khái niệm xa lạ với ngành
giáo đào tạo trong nước thì nay nó đã là nhu cầu và là xu hướng phát triển tất
yếu. Từ bậc tiểu học tới đại học. Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy đang được
xem là cách làm mới để nâng cao hiệu quả đào tạo và chất lượng của đội ngũ học
sinh, sinh viên. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều bất cập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status