hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu trí tuệ - Pdf 30

HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG SỞ HỮU TRÍ TUỆ
PHẦN 1. ĐIỀU CHỈNH VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ LUẬT CẠNH TRANH
1.1. Biện pháp điều chỉnh hành vi “cạnh tranh không lành mạnh” trong Luật
cạnh tranh.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm:
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định “hành vi cạnh tranh không lành mạnh
là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” bao gồm
các hành vi sau:
- Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn.
- Xâm phạm bí mật kinh doanh
- Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
- Hành vi ép buộc trong kinh doanh
- Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác
- Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
- Hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội
- Hành vi bán hàng đa cấp bất chính .
* Đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
- Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ thể kinh doanh
trên thương trường.
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh.
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu
dùng
1.1.2/ Căn cứ áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1

- Các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để
thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc
thực hiện hành vi vi phạm.
Ngoài các hình thức xử phạt đó, đối tượng vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả: Buộc cải chính công khai.
*Ưu điểm:
2
- Dễ thực hiện.
- Đảm bảo khắc phục được danh tiếng và tư cách kinh doanh cho cá nhân, tổ chức bị xâm
hại.
*Nhược điểm:
- Biện pháp xử phạt tạm thời không mang tính răn đe cao.
- Thường xảy ra hành vi tái phạm.
b/. Chế tài hình sự
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được quy định tại Chương XVI "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" của Bộ luật Hình
sự năm 1999, sửa đổi năm 2009, biểu hiện dưới các tội danh như: Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả (Điều 156); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa
bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn
nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); tội
lừa dối khách hàng (Điều 162); tội quảng cáo gian dối (Điều 168); tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp (Điều 171); tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán (Điều 181a); tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán
(Điều 181b); tội thao túng giá chứng khoán (Điều 181c).
Hình phạt áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt tiền, cải tạo không giam
giữ hoặc tù có thời hạn. Một số trường hợp bị áp dụng hình phạt rất nặng như tù chung thân
hoặc tử hình. Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
*Ưu điểm:
- Là biện pháp nghiêm khắc nhất và có tính răn đe cao nhất của pháp luật.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều trong việc xây dựng và thi
hành hiệu quả hệ thống pháp lý với mục đích bảo vệ quyền SHTT và ngăn chặn hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm:
Hầu hết các cơ chế cạnh tranh được thiết lập từ những quy tắc chung là ngăn chặn bất
kỳ hành vi cạnh tranh nào mà trái với hành vi trung thực. Điều 1(2) của Công ước Paris về
Bảo hộ với sở hữu công nghiệp quy định rằng: “Đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao
gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu
dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh
không lành mạnh”.
Theo Điều 10 của Công Ước Paris, các bên tham gia ký kết sẽ bị ràng buộc để đưa
ra biện pháp hiệu quả chống lại “cạnh tranh không lành mạnh”, mà nó được định nghĩa là
bất kỳ hành vi cạnh tranh nào không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại
(cụ thể là tất cả các hành vi gây ra sự nhầm lẫn, cáo buộc sai trong hoạt động thương mại,
những người có trách nhiệm sử dụng chỉ dẫn hoặc cáo buộc trong thương mại đánh lừa
người tiêu dùng về các tính chất, đặc điểm của hàng hóa,…). Hiệp định TRIPs không có
định nghĩa hoặc quy tắc bổ sung, ngoài khẳng định lại trong Điều 2 rằng: "đối với phần II,
III và IV của Hiệp định này, các thành viên phải tuân thủ theo Điều 1 đến Điều 12, và Điều
19 của Công ước Paris."
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp (SHCN):
4
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
- Xâm phạm bí mật kinh doanh;
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN được quy định cụ thể tại
Điều 130 – Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT):
a. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh
doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
b. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng,
chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng
hoá, dịch vụ;

Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp, nội tại,
không phải là sự suy diễn chủ quan. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn ra
trước,thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau. Bên thực hiện hành vi cạnh tranh
không lành mạnh chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây ra thiệt
hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh của mình.
d/. Lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có lỗi cố ý theo pháp luật hiện hành
cũng như được ghi nhận từ lâu trong pháp luật các nước. Đối với lĩnh vực SHTT, lỗi không
phải là yếu tố bắt buộc cấu thành hành vi vi phạm. Một khi các đối tượng của quyền SHTT
đã được đăng ký theo đúng trình tự pháp luật quy định thì các chủ thể khác được suy đoán
là đã biết tới quyền của chủ hữu. Do đó, sẽ cấu thành hành vi vi phạm quyền SHTT mọi
hành vi thuộc độc quyền của chủ sở hữu quyền SHTT mà không được chủ sở hữu cho phép.
1.2.3. Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
a/. Chế tài hành chính
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, các hình thức chế tài xử lý vi phạm về cạnh
tranh không lành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính, được quy định trong các quy
phạm pháp luật mang tính xử phạt và khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (chủ yếu
là những vi phạm về quyền sở hữu công nghiệp). Các hình thức xử lý đó đã được Điều 211
Luật SHTT và Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ
quy định chi tiết, bao gồm:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt cảnh cáo và phạt tiền
- Các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tịch thu tang vật, giấy tờ, văn bằng bảo hộ,
phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
Ngoài các hình thức xử phạt đó, đối tượng vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả: Buộc cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đối
với các hành vi chỉ dẫn sai về quyền sở hữu công nghiệp; buộc bổ sung chỉ dẫn về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp…
*Ưu điểm:

- Vì là hình thức nghiêm khắc nhất nên nếu không xử lí đúng người đúng tội có thể
gây ảnh hưởng đến tính mạng và nhân phẩm của người vô tội.
- Dễ bị lạm dụng nếu gây ra những vụ án lớn.
c/. Chế tài dân sự
7
Được qui định cụ thể tại Điều 202 Luật SHTT 2005.
Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là một quyền mặc định được pháp luật thừa nhận.
Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp những tổn
thất về vật chất và tinh thần mà bên mang quyền phải gánh ch6ịu do hành vi vi phạm các
quy tắc trong kinh doanh của bên kia gây ra. Vì vậy, pháp luật cạnh tranh của nước nào
cũng quy định chế tài này.
Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì phải
dẫn chiếu đến pháp luật dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng theo các quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Chương XXI của Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật có liên
quan.
*Ưu điểm:
- Biện pháp khắc phục hậu quả nhanh nhất cho chủ thể bị xâm hại.
- Có thể áp dụng đồng thời với chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự.
- Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể kinh doanh bị xâm hại.
*Nhược điểm:
- Không thể hiện một cách triệt để được sự nghiêm khắc, răn đe của Pháp luật.
- Hay dẫn đến tình trạng trốn tránh trách nhiệm.
KẾT LUẬN
Sự xung đột pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh như đã phân tích,
xét cho cùng luôn làm ảnh hưởng đến quyền lợi và môi trường kinh doanh lành mạnh của
các doanh nghiệp. Trong một vụ việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nếu các
bên đưa ra các cơ sở bảo hộ quyền khác nhau: Giấy chứng nhận bản quyền Tác giả, Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký Nhãn hiệu hàng hoá,… thì hẳn

lành mạnh xuất phát từ một công ước về sở hữu trí tuệ là Công ước Paris về Bảo hộ sở
hữu công nghiệp. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chính là một trong những xuất phát điểm
cơ bản của các quy định cạnh tranh không lành mạnh, vì về bản chất các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ đều được tiến hành với động cơ cạnh tranh không lành mạnh.
Một hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi chủ thể thực hiện nó có ý
định hoặc đã đưa tài sản trí tuệ của người khác vào khai thác thương mại, đồng nghĩa
với việc trở thành một đối thủ cạnh tranh của chính chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó.
Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh nhìn bề ngoài
có thể có rất nhiều điểm giống nhau nhưng giữa hai hành vi này vẫn có sự khác biệt. Đó
chính là bản chất pháp lý của từng loại hành vi. Có 3 sự khác biệt giữa hai loại hành vi
này là về:
- Phạm vi áp dụng
- Yếu tố chủ thể
- Yếu tố lỗi
2.1.1. Phạm vi áp dụng
Chỉ có thể tạo thành hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ khi có một quyền sở hữu
trí tuệ hợp pháp đang được bảo hộ bị xâm phạm. Nói một cách khác đi sẽ không có khái
niệm về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ khi mà quyền đó không hề tồn tại.
Ví dụ: trường hợp một nhãn hiệu không đăng ký thì không thể căn cứ vào pháp luật
về sở hữu trí tuệ để bảo vệ khi bị xâm phạm. Tuy nhiên, cũng trong trường hợp này lại
hoàn toàn có thể áp dụng Luật cạnh tranh để điều chỉnh. Và theo đó hành vi sử dụng chỉ
10
dẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh
tranh là một dạng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phụ thuộc vào việc
dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký hay chưa.
Từ sự phần tích này có thể thấy những "đối tượng có liên quan đến sở hữu trí tuệ"
thuộc phạm vi áp dụng Luật cạnh tranh rộng hơn so với pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các
đối tượng như khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng, bao bì nếu không được bảo hộ bằng
các quy định riêng về sở hữu trí tuệ thì hoàn toàn có thể tìm thấy cơ sở pháp lý để bảo
vệ trong Luật cạnh tranh.

Do đó, sự bảo hộ của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh không được thông qua
văn bằng và không mang tính liên tục, mà chỉ phát sinh khi xuất hiện tranh chấp. Vì thế
quyền đối với các đối tượng như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh không trải qua thủ tục
bảo hộ chặt chẽ như đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Cho nên nói pháp luật về cạnh tranh
không lành mạnh trong nhiều trường hợp được coi là công cụ bổ trợ cho việc thực thi
pháp luật sở hữu trí tuệ. Vấn đề đặt ra là người bị thiệt hại nên chọn cách nào hiệu quả
nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.
2.2. Vai trò của kiện về cạnh tranh không lành mạnh trong các vụ việc có liên quan đến
quyền SHTT
2.2.1. Vai trò của các quy định về cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật hiện hành
Ngay từ năm 2000 khi Nghị định số 54 ra đời, pháp luật đã có các quy định về cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực SHTT. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật đương nhiên phải kể tới Luật
cạnh tranh năm 2004 (bắt đầu có hiệu lực từ 01/07/2005) và Bộ luật dân sự năm 2005 (bắt đầu có
hiệu lực từ ngày 01/01/2006).
Như vậy, tại thời điểm hiện tại cùng song song tồn tại khái niệm về cạnh tranh không lành
mạnh tại hai văn bản là Nghị định số 54/2000 liên quan đến SHCN, cụ thể tại điều 24 có
quy định:” Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp, bao gồm:
1. Sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về chủ thể kinh
doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ, nhằm mục đích:
a) Lợi dụng uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh
doanh của mình;
12
b) Làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất
kinh doanh của mình;
c) Gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm
khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng
trong quá trình nhận biết, chọn lựa hàng hoá, dịch vụ hoặc hoạt động kinh doanh.
2. Chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được người đó cho
phép.”
Văn bản thứ hai tồn tại khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong đó có hành vi cạnh

c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định
cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở
hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý
do chính đáng;
d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn
với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có
quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh
tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn
thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu
hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.
3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các hành vi gắn
chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh
doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn
chỉ dẫn thương mại đó, và Điều 198 khoản 3 quy định về Quyền tự bảo vệ (Phần thứ 5 Chương XVI
liên quan đến Bảo vệ quyền SHTT).
Trong số các quy định có liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật SHTT
vừa nêu, có một số điểm cần lưu ý:
Một là, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được
mở rộng và có nội hàm rõ ràng hơn rất nhiều so với khái niệm chỉ dẫn gây nhầm lẫn (một trong các
dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành mành mạnh liên quan tới SHTT được quy
định tại Điều 39 khoản 1 và Điều 40 Luật cạnh tranh).
Hai là, Luật SHTT đã đề cập đến khả năng chủ thể bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do
hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự để bảo vệ quyền của mình đều không được chỉ rõ trong Luật cạnh tranh. Tuy nhiên, nội
14
dung nghiên cứu sẽ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa các quy định về cạnh tranh không
lành mạnh liên quan tới SHTT và các quy định về vi phạm SHTT nói chung .
Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh sẽ và phải đóng vai trò bổ sung cho các quy định

tại Điều 198 khoản 3 Luật SHTT, theo đó : ‘Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt
15
hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo
quy định của pháp luật về cạnh tranh.’
2.2.2.2. Vai trò bổ sung của luật cạnh tranh khi tồn tại quyền về sở hữu trí tuệ
Trong mối quan hệ với pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Xét ở góc độ điều chỉnh pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, hầu hết các hành
vi thuộc nội dung điều chỉnh của lĩnh vực này dường như có sự hòa đồng nội bộ với nội
dung điều chỉnh của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (đặc biệt trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp). Việc chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là việc
ngăn cấm các hành vi đã xâm phạm đến các sáng chế, giải pháp hữu ích, xuất xứ hàng
hóa… Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đôi khi hòa lẫn với việc bảo hộ bí mật
kinh doanh, bảo hộ tên thương mại và chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau. Tuy nhiên, giữa chúng không đồng nhất về mục
đích và phạm vi điều chỉnh. Nếu như mục đích của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ là bảo hộ sở hữu trí tuệ của cá nhân, pháp nhân tránh khỏi sự xâm phạm của các
hành vi trái pháp luật thì pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, ngoài mục đích
nêu trên còn có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và trật tự cạnh
tranh trong một thị trường cụ thể. Chỉ bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nếu
như hành vi của một chủ thể nhằm mục đích cạnh tranh có biểu hiện không lành mạnh,
đã xâm hại đến quyền lợi của chủ thể khác cùng tồn tại trong một thị trường hàng hóa,
dịch vụ hay thị trường liên quan.
Cùng sự khác nhau về mục đích điều chỉnh, cho phép trong quá trình thực thi pháp
luật, các cơ quan chức năng, các đương sự có quyền lợi bị xâm hại có thể lựa chọn pháp
luật để áp dụng. Những trường hợp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với ý thức chủ quan
rõ ràng là mục đích tư lợi thì áp dụng quy định của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí

dụng các quy định của pháp luật về SHTT để bảo vệ mình bằng cách yêu cầu bên vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại (nếu có).
Câu hỏi đặt ra là cùng một hành vi liệu có thể đồng thời thỏa mãn các yếu tố cấu
thành hành vi vi phạm quyền SHTT và cạnh tranh không lành mạnh? Và trong cùng
một vụ việc liệu một chủ thể có thể đồng thời kiện một cách độc lập về hành vi vi phạm
quyền SHTT và cạnh tranh không lành mạnh?
17
Câu trả lời là có thể coi một hành vi vừa là vi phạm quyền SHTT vừa là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh nếu theo đúng nội dung của Điều 40 luật cạnh tranh, theo
đó “việc sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu
hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh… để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về
hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh” là một dạng hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Tinh thần này cũng đã được tái thể hiện trong điều 130 Luật SHTT, đây có
thể coi là một sự bổ sung chứ không phải sự chồng chéo và chủ thể có thể và phải lựa
chọn sử dụng một trong hai phương thức kiện theo cách thức nào có lợi hơn. Tuy nhiên,
cũng cần phải nói thêm rằng quy định như vậy của pháp luật không phải là giải pháp
được thừa nhận rộng rãi trong các nước phát triển.
Ngoài trường hợp cùng một hành vi có thể đồng thời bị coi là vi phạm SHTT và là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật cạnh tranh còn có thể được áp dụng khi
trong một vụ việc có cả yếu tố hành vi vi phạm quyền SHTT và cạnh tranh không lành
mạnh độc lập với nhau. Ví dụ, chủ thể một nhãn hiệu có thể kiện về hành vi vi phạm
nhãn hiệu đồng thời kiện về hành vi vi phạm khẩu hiệu kinh doanh gây nhầm lẫn của
đối thủ cạnh tranh. Cơ sở pháp lý của hai yêu cầu này là độc lập với nhau, một mặt dựa
trên hành vi vi phạm độc quyền mà không cần quan tâm đến yếu tố lỗi đối với hành vi
vi phạm quyền SHTT, mặt khác dựa trên hành vi bị cấm với yếu tố lỗi cố ý đối với hành
vi cạnh tranh không lành mạnh.
Một điểm khác cũng cần lưu ý là chủ thể kiện của cạnh tranh không lành mạnh có
thể là bất kỳ ai tham gia vào hoạt động cạnh tranh và bị thiệt hại về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh dù đó là tổ chức, cá nhân kinh doanh hay hiệp hội ngành nghề mà
không cần phải là chủ sở hữu của quyền SHTT (Điều 2, Luật cạnh tranh), còn kiện về

- Tài liệu chứng cứ về số lượng hàng hóa được bán ra thị trường là 1125000 chai và
doanh thu 50 triệu USD.
Tại Việt Nam, Marvel Chracters là chủ sở hữu nhãn hiệu X-MEN (nhãn hiệu
chữ), bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 11455 cấp ngày 01/02/2001
đối với các sản phẩm video thu sẵn; băng, đĩa nghe nhìn… (Nhóm 9); các loại xuất bản
phẩm, truyện và truyện tranh …(Nhóm 16); quần áo…(Nhóm 25); đồ chơi các loại
(Nhóm 28).
Trên thị trường mỹ phẩm Việt Nam xuất hiện sản phẩm dầu gội mang nhãn hiệu
Wolverine và Hình của Công ty Hàng gia dụng Quốc Tế. Ngay sau khi phát hiện trên thị
trường xuất hiện loại mỹ phẩm mang nhãn hiệu này, Công ty Marvel Chracters đã có
20
thông báo khuyến cáo Công ty Hàng gia dụng Quốc tế về tình trạng thể hiện nhãn hiệu
và bao bì mang các chỉ dẫn thương mại của Công ty Marvel Chracters. Tuy nhiên, Công
ty Hàng gia dụng quốc tế không chấp nhận và vẫn cho lưu hành các sản phẩm của mình
trên thị trường.
Căn cứ cho các khuyến cáo trên là do sản phẩm dầu gội mang nhãn hiệu Wolverine
và Hình có cách trình bày các chỉ dẫn trên bao bì, kể cả màu sắc và phần hình con sói
cách điệu tương tự với bao bì sản phẩm X-MEN và Hình của Công ty Marvel Chracters.
Đây là nhãn hiệu được lưu hành tại Việt Nam từ năm 2003. Trong khi nhãn hiệu của
công ty Hàng gia dụng quốc tế được lưu hành từ năm 2005.
Cụ thể:
Hai sản phẩm này sử dụng nhãn hiệu X-MEN và Wolverine có khả năng phân biệt.
Vì vậy, không phải là hàng nhái nhãn hiệu của nhau. Tuy nhiên, phần chữ X-MEN được
trình bày bằng chữ viết màu xanh lá đậm trên nền hộp màu trắng. Phần chữ Wolverine
cũng được trình bày trên nền hộp màu trắng, cùng kiểu chữ với chữ X-MEN. Màu sắc
trình bày cũng là màu xanh lá nhưng nhạt hơn. Trên mặt chính của hộp sản phẩm có gắn
dấu hiệu X-MEN và hình chữ nhật với đường viền xanh lá, bên trong hình chữ nhật là
chữ X-MEN và hình 1 con sói được cách điệu ở góc trên bên phải. Trong khi đó, sản
phẩm Wolverine có vỏ hộp tương tự, trên mặt chính cũng gắn dấu hiệu Wolverine và
hình chữ nhật với đường viền xanh lá, nhưng được cách điệu ở 4 góc, bên trong hình

tiếng tại Việt Nam. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6, NĐ 103/2006/NĐ – CP hướng
dẫn thi hành Luật SHTT 2005 thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo Điều 75 mà không
22
cần thực hiện thủ tục đăng kí bảo hộ. Vấn đề là nhãn hiệu của sản phẩm X-MEN có phải
là nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điều 75?
Các tài liệu mà Marvel cung cấp đáp ứng được các tiêu chí này. Vậy nhãn hiệu X-
MEN (dầu gội) là 1 nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam, theo đó sẽ đương nhiên được bảo
hộ mà không cần đăng kí.
+ Hai là, công ty Marvel cho rằng việc Công ty Hàng gia dụng quốc tế công khai lưu
hành sản phẩm Wolverine đã vi phạm Điều 6.1h Nghị định 63/CP/1996 (Nhãn hiệu được
bảo hộ trùng với tên, biểu tượng nhân vật X-MEN của Marvel Characters ).
Tuy nhiên, theo quy định tại Luật bản quyền tác giả thì tên nhân vật không có quy
định được bảo hộ tại Việt Nam. Nên việc Công ty Marvel được bảo hộ bản quyền cho
tác phẩm X-MEN và việc Công ty Hàng dân dụng quốc tế sử dụng tên Wolverine – tên
nhân vật chính trong tác phẩm X-MEN làm tên cho sản phẩm của mình là không vi
phạm bản quyền của Công ty Marvel. Tuy nhiên, việc này làm cho người tiêu dùng dễ
lầm tưởng sản phẩm Wolverine là một trong những sản phẩm của Công ty Marvel.
+ Ba là, Công ty Marvel khẳng định sản phẩm Wolverine có nhãn hiệu và chỉ dẫn
thương mại tương tự với sản phẩm của Marvel.
Nhãn hiệu và chỉ dẫn thương mại của sản phẩm Wolverine về cơ bản là không khác
biệt đáng kể với nhãn hiệu và chỉ dẫn thương mại của sản phẩm X-MEN. Mặt khác,
quyền sở hữu đối với nhãn hiệu X-MEN của Công ty Marvel được xác lập đương nhiên
mà không cần đăng kí. Như vậy, Công ty Hàng dân dụng quốc tế đã có sự vi phạm đối
với nhãn hiệu của Công ty Marvel.
+ Bốn là, Việc tung Clip quảng cáo như trên đã thể hiện động cơ lợi dụng danh tiếng
của nhãn hiệu và nhân vật Wolverine thuộc sở hữu của Marvel để gây nhầm lẫn cho
người tiêu dùng. Khi xem Clip quảng cáo của Công ty hàng không dân dụng, người tiêu
dùng dễ liên tưởng đến bộ phim X-MEN của Marvel và cho rằng sản phẩm được quảng
cáo chính là sản phẩm của Marvel.

pháp xử lí vi phạm hành chính.
Vì chỉ dẫn thương mại được điều chỉnh bởi cả Luật SHTT và Luật Cạnh tranh nên
tùy vào từng trường hợp cụ thể, người tiêu dùng sẽ cân nhắc đến lợi ích của mình mà ra
quyết định giải quyết theo Luật nào. Trong trường hợp này, thời hiệu khiếu nại theo
Luật cạnh tranh đã hết nên giải pháp tối ưu là giải quyết theo các quy định trong Luật
SHTT 2005. Cụ thể theo Điều 198.
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status