BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐÀO LỆ THU
Các tội phạm về hối lộ theo
Luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với Luật hình
sự Thụy Điển và Australia
Chuyên ngành: Luật quốc tế và Luật so sánh
Mã số: 62.38.60.01 Luận án tiến sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa
2. GS.TS. Per Ole Träskman
Hà Nội - 2011
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án
là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì một công trình nào khác.
TÁC GIẢ
ĐÀO LỆ THU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
CAER
Centre for Australian Ethical Research (Trung tâm nghiên cứu đạo
đức của Ôt-xtrây-lia)
CH
Cộng hòa
CHLB
Cộng hòa liên bang
COE
Council of Europe (Hội đồng Châu Âu)
CTTP
Cấu thành tội phạm
Project Management Unit (Ban quản lý dự án)
Sđd
Sách đã dẫn
TAND
Tòa án nhân dân TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TI
Transparency International (Tổ chức minh bạch quốc tế)
TKTH
Thống kê tổng hợp
TNHS
Trách nhiệm hình sự
UBND
Ủy ban nhân dân
UK
United Kingdom (Vương quốc Anh)
U.S.C.
United States Code (Bộ tổng luật của Hoa Kì)
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
2.3.2. Tội hối lộ công chức của Liên bang
2.3.3. Một số tội phạm về hối lộ khác
2.3.4. Quy định về tội phạm chưa hoàn thành và đồng phạm đối với
các tội phạm về hối lộ
1
16
17
16
26
34
57
87
91
91
92
115
123
116
120
122
139
143
143
146
146
150
160
169
170
171
180
180
180
205
222
224
224
242
243
254
265
270
270
277
278
278 4.2.1.2. Những kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về đường lối
Tất cả thực tế này đã và đang gây lo ngại cho các quốc gia trên thế giới. Tình trạng
tham nhũng những năm gần đây tiếp tục là vấn đề nóng bỏng gây báo động toàn
cầu. Tham nhũng đang trở thành hiện tượng “đe dọa sự ổn định của nền chính trị và
sự phát triển bền vững của các quốc gia.”
1
Theo kết quả điều tra của tổ chức Minh
bạch quốc tế (Transparency International) tại Bản chỉ số tham nhũng thường niên
năm 2006,
2
từ quốc gia xếp thứ 44 đến quốc gia xếp thứ 161 chỉ đạt điểm 5 trở
xuống trong 10 điểm tối đa về mức độ trong sạch, Việt Nam đạt 2,6 điểm và được
xếp thứ 111 trong bản chỉ số này. Như vậy, hiện tượng tham nhũng tiếp tục hoành
hành ở nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp nhiều nỗ lực quốc tế được đưa ra thời
gian vừa qua như Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc (LHQ) hoặc luật
chống tham nhũng và rửa tiền đã được nhiều quốc gia ban hành và áp dụng.
Lúc này các quốc gia cần phải cùng hành động trong cuộc đấu tranh chống
tham nhũng. “Việc ngăn ngừa và xoá bỏ tham nhũng là trách nhiệm của tất cả các
quốc gia.”
3
Điều này có nghĩa là các quốc gia cần sử dụng những biện pháp đa dạng 1
Lời nói đầu của Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp quốc.
2
Xem “The 2006 Transparency International Corruption Perceptions Index” tại .
Bản chỉ số tham nhũng thường niên là thước đo mức độ tham nhũng trong khu vực công của các quốc gia và
các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Những chỉ số được đưa ra dựa trên các báo cáo của các chuyên gia
và báo cáo công tác ở các quốc gia này. Điểm đạt được càng thấp chứng tỏ mức độ tham nhũng càng cao.
3
vực của đời sống xã hội như thương mại, xây dựng cơ bản, thể thao, bảo vệ pháp luật.
Bên cạnh đó, hành vi hối lộ giờ đây đã len lỏi vào cả những lĩnh vực vốn được xem là
3
cao quý như giáo dục đào tạo, y tế. Thủ đoạn phạm tội về hối lộ cũng ngày càng
tinh vi, xảo quyệt. Tội phạm về hối lộ đang làm biến chất một bộ phận cán bộ, công
chức nhà nước, khiến nhiều người trong số họ thay đổi ý thức, quan niệm về việc
thực thi công vụ. Mặt khác, thực tế thời gian vừa qua cho thấy loại tội phạm này
đồng thời tạo điều kiện hoặc cơ hội cho việc thực hiện nhiều tội phạm khác như
buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, đánh bạc hoặc dẫn đến nhiều tiêu cực
trong lĩnh vực giáo dục, y tế. Trong khi đó, hoạt động áp dụng luật hình sự đấu
tranh với các loại tội phạm này đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và còn dừng
lại ở những kết quả khá khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho
hoạt động xử lý tội phạm về hối lộ là do sự thiếu rõ ràng hoặc thiếu hợp lý trong
quy định của luật hình sự hiện hành về các tội phạm này. Chính vì vậy, làm sáng tỏ
cũng như hoàn thiện quy định của luật hình sự về các tội phạm về hối lộ sẽ là một
hoạt động thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này.
Với mong muốn góp phần vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và hối lộ,
tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm giải quyết những vấn đề về các tội phạm hối
lộ từ góc độ luật hình sự. Đề tài “Các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự Việt
Nam trong sự so sánh với luật hình sự Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia” cần thiết được
nghiên cứu bởi những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
Thứ nhất, cũng giống như Thụy Điển, Ôt-xtrây-lia và nhiều quốc gia khác
trên thế giới, đối với Việt Nam việc bảo vệ hoạt động bình thường của bộ máy nhà
nước bằng pháp luật hình sự đã được chú trọng và được cụ thể hoá bằng việc ban
hành các quy phạm pháp luật hình sự về các tội phạm về chức vụ, trong đó có nhóm
tội phạm về hối lộ. Việc tìm hiểu, so sánh chính sách hình sự của ba quốc gia về vấn
đề này do vậy là cần thiết và có cơ sở.
Thứ hai, luật hình sự của Việt Nam, Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia đều quy định
các tội phạm về hối lộ. Bên cạnh những thành công về mặt lập pháp, có một số
phạm về hối lộ trong luật hình sự Việt Nam hiện hành trong mối quan hệ so sánh
với pháp luật hình sự của một số quốc gia khác trên thế giới. Nhiều khái niệm cũng
như nhiều vấn đề phức tạp có liên quan đến nhóm tội phạm nguy hiểm này còn
chưa được làm sáng tỏ. Như vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ là một sự bổ sung cần
thiết và có ý nghĩa cho hệ thống lý luận về các tội phạm về hối lộ.
5
Tại sao tác giả lựa chọn luật hình sự Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia là những đối
tượng trong nghiên cứu so sánh với luật hình sự Việt Nam? Việt Nam là quốc gia có
hệ thống pháp luật thành văn (thuộc hệ thống Civil Law), trong khi đó, Ôt-xtrây-lia là
nước theo hệ thống luật án lệ (Common Law). Thụy Điển tuy là quốc gia theo hệ
Civil Law song có một điểm khá độc đáo là vẫn coi án lệ là một loại nguồn của pháp
luật. Sự khác biệt trên chính là một lý do cuốn hút các nghiên cứu so sánh luật. Bên
cạnh đó, Thụy Điển ở Châu Âu và Ôt-xtrây-lia ở Châu Đại Dương là những quốc gia
được xem là thành công trong công tác chống tham những nói chung và chống tội
phạm về hối lộ nói riêng. Trong Bản chỉ số tham nhũng thường niên của Tổ chức
Minh bạch quốc tế năm 2009, Thụy Điển đạt 9,2 điểm về độ trong sạch xếp thứ 3 và
Ôt-xtrây-lia đạt 8,7 điểm xếp thứ 8. Những con số ấn tượng này đã phần nào phản ánh
mức độ thành công trong hoạt động phòng, chống tham nhũng của các quốc gia này.
Vì vậy, việc tìm hiểu luật hình sự và kinh nghiệm áp dụng luật hình sự trong đấu
tranh chống tội phạm về hối lộ của các nước nêu trên là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những ý kiến đề xuất để hoàn thiện quy định
của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về hối lộ, góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.
Với mục đích nêu trên, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất: nghiên cứu so sánh hệ thống quan điểm, quan niệm khoa học trên
bình diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, Ôt-xtrây-lia và Thụy Điển về các
tội phạm về hối lộ, từ đó làm rõ những vấn đề lý luận chung về các tội phạm này; tìm
hiểu quan điểm lập pháp của quốc tế về các tội phạm này để khẳng định thêm nền tảng
Tình hình nghiên cứu
Các tội phạm về hối lộ đã được quy định khá sớm trong luật hình sự Việt
Nam. Bên cạnh đó, đây là nhóm tội phạm hiện nay đang diễn biến rất phức tạp và
nguy hiểm. Tuy nhiên, những nghiên cứu về các tội phạm này còn khá khiêm tốn.
Những nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu tiếp cận các tội phạm về chức vụ nói chung
hoặc nhóm tội phạm về tham nhũng nói riêng, chứ không đặc biệt tập trung vào các
tội phạm về hối lộ.
7
Ở Việt Nam, một vài nghiên cứu có liên quan đến các tội phạm về hối lộ đáng
chú ý như: Luận án tiến sĩ của tác giả Uông Chu Lưu xuất bản bằng tiếng Nga tại
Taskent năm 1988 với nội dung phân tích bản chất của tội hối lộ và luật hình sự của
Việt Nam giai đoạn đó về tội hối lộ, từ đó tác giả kiến nghị các chế tài, các khung
hình phạt thích hợp đối với loại tội phạm này nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp
luật hình sự đối với tội hối lộ và nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử của toà án
Việt Nam; Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hữu Tráng thực hiện tại CHLB Đức với
tiêu đề “Tham nhũng trong lĩnh vực hoạt động chức trách - một sự so sánh hình sự
và tội phạm học giữa CHLB Đức và CHXHCN Việt Nam” với những nội dung cơ bản
là: phần đầu của luận án phân tích và so sánh các khái niệm cơ bản trong luật hình
sự CHLB Đức và CHXHCN Việt Nam như khái niệm tham nhũng, khái niệm tội
phạm về tham nhũng, phần tiếp theo luận án so sánh những vấn đề cơ bản của các
CTTP về tham nhũng theo luật hình sự Việt Nam và luật hình sự Đức, ngoài ra luận
án còn tiếp cận từ góc độ tội phạm học so sánh vấn đề tham nhũng giữa CHLB Đức
và Việt Nam, cuối cùng luận án đưa ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng bao
gồm các giải pháp về hình sự và các giải pháp về tội phạm học.
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như:“Đấu tranh chống và phòng
ngừa tội tham ô, cố ý làm trái và hối lộ trong cơ chế thị trường” của Viện nghiên
cứu khoa học - Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản
năm 1993; “Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ” (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm1996) của Tiến sĩ Võ Khánh Vinh; “Tội phạm học
Government - Causes, consequences, and reform” của Susan Rose-Ackerman, Nxb
của Đại học Cambridge năm 1999; Explaining Corruption by R. William ed.,
Edward Elgar Publishing Limited, 2000; “Fighting corruption in Asia - Causes,
Effects and Remedies” do John Kidd và Frank-Jurgen Richter chủ biên, Nxb World
Scientific năm 2003; “Corruption and good Governance in Asia” của Nicholas
Tarling, Nxb Routledge, New York năm 2005. Đây chủ yếu là những nghiên cứu về
tham nhũng nói chung dưới góc độ xã hội học hoặc về tội phạm tham nhũng dưới
góc độ tội phạm học. Như vậy, từ phương diện pháp lý hình sự, nghiên cứu so sánh
luật hình sự các quốc gia về tội phạm về hối lộ chưa thực sự được quan tâm.
9
Từ những tóm tắt nêu trên về tình hình nghiên cứu đề tài các tội phạm về hối
lộ, có thể thấy việc nghiên cứu nhóm tội phạm này vẫn còn bị bỏ ngỏ ở nhiều khía
cạnh. Do đó, tìm hiểu các tội phạm về hối lộ dưới góc độ pháp lý hình sự, đặc biệt
là trong sự so sánh với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài về loại tội phạm
này một cách toàn diện, có hệ thống vẫn thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu
4
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và để thực hiện tốt những
nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, những phương pháp chung được áp dụng để nghiên
cứu là: phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
Những phương pháp đặc thù của lĩnh vực luật học cũng sẽ được vận dụng
trong việc thực hiện luận án. Trước hết, vì đây là nghiên cứu về quy định của luật
nên phương pháp tiếp cận quy phạm sẽ được sử dụng kết hợp với phương pháp
pháp lý truyền thống (traditional legal method). Phương pháp pháp lý truyền thống
được sử dụng để hệ thống hoá và giải thích những quy định hiện hành, án lệ, văn
bản hướng dẫn áp dụng luật cũng như các học thuyết pháp lý của ba quốc gia về các
tội phạm về hối lộ. Các phương pháp khác được sử dụng là phương pháp nghiên
cứu luật pháp trong mối quan hệ với triết học, trong mối quan hệ với chính trị hoặc
đánh giá đa chiều và sâu sắc hơn từ những nhà nghiên cứu có chuyên môn sâu hoặc
những người làm công tác thực tiễn có kinh nghiệm trong lĩnh vực tội phạm này.
Tác giả tiến hành một số phỏng vấn, trao đổi với một số giáo sư đã có các bài viết
bình luận những quy định có liên quan của Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia, đồng thời
trao đổi với một số cán bộ làm việc tại Viện chống tham nhũng của Thụy Điển;
Viện Công tố liên bang, Toà án tối cao và Ủy ban cảnh sát liêm chính của bang
New South Wales, Ôt-xtrây-lia. Nội dung của các cuộc phỏng vấn và trao đổi xoay
quanh những vấn đề như nội dung và tinh thần của một số quy định của luật hình sự
các nước về các tội phạm về hối lộ, một số án lệ điển hình và những vướng mắc
trong thực tiễn xét xử, tình hình các tội phạm này ở các nước, nguyên nhân của
những thành công trong công tác phòng, chống các tội phạm này.
Tác giả luận án cũng đã chú ý đến cách thức khai thác các nguồn tài liệu để
nghiên cứu. Vì đề tài có liên quan đến yếu tố quốc tế, tác giả cố gắng tiếp cận các
nguồn tài liệu gốc từ tiếng Anh. Phần lớn thông tin về luật thu được trên cơ sở các
văn bản luật, các công ước, báo cáo giải thích các văn bản luật cũng như qua các
nghiên cứu và các bài viết có liên quan. Đối với tài liệu có liên quan đến luật hình
sự Thụy Điển, do sự khác biệt của ngôn ngữ tác giả phải tiếp cận thông qua bản
dịch không chính thức (từ tiếng Thụy Điển sang tiếng Anh) của phần viết có liên 5
Liên quan đến vấn đề so sánh luật hình sự, xem: Đào Lệ Thu, “Vai trò của so sánh luật trong hoạt động lập
pháp hình sự của Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 1 năm 2008, các trang từ 54-58.
11
quan trong cuốn bình luận BLHS của quốc gia này và một số vụ án điển hình. Tuy
nhiên tác giả đã tiến hành một số biện pháp để khẳng định tính chân thực và độ tin
cậy của bản dịch này như: gặp gỡ giáo sư Madelene Lejonhufvud là người trực tiếp
viết phần bình luận đó; trao đổi với giáo sư luật hình sự Per - Ole Traskmän của
Khoa Luật, Đại học Tổng hợp Lund về nội dung của luật hình sự Thụy Điển. Bên
kinh nghiệm – đề xuất giải pháp.
Phần Mở đầu của luận án tập trung vào việc giới thiệu bối cảnh trong đó thể
hiện tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài các tội phạm về hối lộ từ góc độ luật
hình sự và luật học so sánh. Bên cạnh đó, những vấn đề được chú ý trong phần này
là việc xác định đối tượng và những nội dung nghiên cứu, mục đích của nghiên cứu
và các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận án.
Sau phần Mở đầu, Chương 1 của luận án thể hiện vai trò xuất phát điểm với
những vấn đề chung về các tội phạm về hối lộ. Trong Chương 1 chúng tôi đã xây
dựng nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu các tội phạm này dưới góc độ luật hình
sự. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy một số vấn đề lý luận được nhận thức khá
thống nhất như: thứ nhất là quan niệm về các tội phạm về hối lộ với tư cách là một
trong các hình thức tham nhũng đang gây lo ngại cho toàn thế giới và khái niệm tội
phạm về hối lộ cần được nhận thức theo một cách nhìn hiện đại và theo hướng mở
để phản ánh được một số hình thức hối lộ mới như hối lộ trong khu vực tư, hối lộ
công chức nước ngoài và đưa, nhận quà có tính vụ lợi; thứ hai là việc hình sự hoá
các hình thức hối lộ không chỉ phụ thuộc vào bản chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi mà còn phụ thuộc vào quan niệm của xã hội đối với hiện tượng đó, vào yếu
tố văn hoá và sự cần thiết bảo vệ các quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động bình
thường của bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm cho những lợi ích khác của toàn xã
hội; thứ ba là một số yếu tố cấu thành các tội phạm về hối lộ như “chủ thể nhận hối
lộ”, “của hối lộ”, “khách thể của tội phạm về hối lộ”, “hành vi khách quan trong
CTTP của các tội phạm về hối lộ” v.v cần được hiểu theo nghĩa rộng để phản ánh
được những quan niệm hiện đại về hối lộ; thứ tư là quan điểm về đường lối xử lý
các tội phạm về hối lộ cần linh hoạt để bảo đảm vừa đủ nghiêm khắc trong việc
ngăn ngừa và xử lý loại hành vi nguy hiểm cho xã hội này vừa thúc đẩy việc tự
13
nguyện và chủ động khai báo về tội phạm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bởi
việc tìm ra chứng cứ về các tội phạm này trên thực tế rất khó khăn. Để làm cho cơ
sở lý luận của nghiên cứu trở nên vững chắc hơn và cũng để kiểm chứng cho những
được lợi, v.v… hoặc về hình phạt đối với các tội phạm này hầu như đã được luật
hình sự của ba quốc gia phản ánh.
Trong Chương 3, những vấn đề thực tiễn về các tội phạm về hối lộ đã được
đề cập và phân tích. Những vấn đề đầu tiên có liên quan đến tình hình cũng như một
số nguyên nhân cơ bản của các tội phạm này ở ba quốc gia. Chúng tôi muốn thông
qua những vấn đề này để làm sáng tỏ phần nào vai trò và hiệu quả của pháp luật
hình sự trong cuộc đấu tranh chống các tội phạm về hối lộ. Bức tranh toàn cảnh về
tình hình các tội phạm về hối lộ cũng là sự khẳng định cho việc cần thiết phải sử
dụng luật hình sự (một cách hiệu quả hơn). Những phân tích và những nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy mức độ xử lý các tội phạm về hối lộ bằng pháp luật hình sự
còn khá thấp so với diễn biến thực tế của các tội phạm này. Tội phạm về hối lộ ẩn là
hiện tượng tồn tại ở cả ba quốc gia trong nghiên cứu so sánh này. Ở những mức độ
khác nhau cả ba quốc gia đều phải đối mặt với một yếu tố có thể coi là nguyên nhân
của các tội phạm về hối lộ đó là sự thực thi chưa hiệu quả các quy định của luật
hình sự về các tội phạm này. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của
việc thực thi này là những hạn chế trong chính các quy định này.
Chương 3 cũng đề cập đến những vấn đề của thực tiễn áp dụng luật đối với
các tội phạm về hối lộ của Việt Nam trong sự so sánh với kinh nghiệm áp dụng luật
của các quốc gia Thụy Điển và Ôt-xtrây-lia. Trước hết có thể nói việc áp dụng luật
hình sự đấu tranh với các tội phạm về hối lộ ở cả ba quốc gia đã đạt được những kết
quả nhất định. Tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Toà án gặp
không ít khó khăn cũng như thể hiện những hạn chế trong công tác áp dụng luật đối
với các tội phạm này. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những khó
khăn và hạn chế đó là những nhược điểm của các quy định của luật hình sự về
nhóm tội phạm này. Một lần nữa, hậu quả của những nhược điểm của luật lại được
chứng minh. Việc nhìn nhận đúng những hạn chế trong quy định của luật cũng như
trong thực tiễn áp dụng các quy định này và việc xem xét kinh nghiệm áp dụng luật
15
của các quốc gia khác có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện luật và cải thiện
hiện tượng hối lộ thường được nghiên cứu từ khía cạnh đạo đức, chính trị, kinh tế
và pháp lý. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này tiếp cận hối lộ từ một khái niệm
rộng hơn là khái niệm tham nhũng.
Vậy hai khái niệm này có điểm gì khác biệt và chúng có mối quan hệ với
nhau như thế nào? Nghiên cứu cho thấy hối lộ được các học giả nước ngoài coi là
một biểu hiện của tham nhũng và là biểu hiện rõ nét nhất và cũng nguy hiểm nhất.
Thậm chí ở một số nghiên cứu khái niệm tham nhũng và khái niệm hối lộ hầu như
đã được đồng nhất, nói đến tham nhũng là nói đến hối lộ [Van Duyne 1996; Rose-
Ackerman 1999; Heidenheimer 1998]. Tuy nhiên, nhìn chung tham nhũng được
nhận thức là khái niệm rộng hơn và bao hàm khái niệm hối lộ. Kiểu định nghĩa
tham nhũng được thừa nhận rộng rãi nhất và được viện dẫn nhiều nhất là những
định nghĩa quy tham nhũng cho tất cả những hành vi lạm dụng quyền lực công để tư
lợi [Nye 1967; Della Porta và Vannucci 1999, Trần Công Phàn 2004]. Từ góc độ
luật hình sự, tham nhũng được cho là bao gồm các hành vi đưa, nhận hối lộ và một
số loại hành vi khác như tham ô tài sản, lợi dụng chức trách cưỡng đoạt tài sản, lợi
dụng chức trách lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chức trách công v.v [Nye
17
1967, tr.966; Bộ Tư pháp Hoa Kì].
6
Như vậy hối lộ được hiểu là một dạng của tham
nhũng. Một số tác giả khác chia sẻ quan điểm này khi cho rằng tham nhũng bao
gồm hối lộ và nhiều dạng hành vi khác [Johnson và Sharma 2004] hoặc cho rằng
hối lộ là một trong những hình thức tham nhũng rõ nét và hiển nhiên nhất
[Andersson 2002, tr.51].
Trong nhiên cứu của các tác giả Việt Nam, nhận thức về khái niệm tham
nhũng dường như không khác biệt nhiều so với những quan điểm nêu trên. Tác giả
Trần Công Phàn tổng kết trong nghiên cứu của mình về tội phạm tham nhũng rằng
hiện tượng xã hội tiêu cực này đã được tiếp cận từ góc độ đạo đức, kinh tế và nhà
nước - pháp luật và cho rằng khái niệm tham nhũng xét dưới khía cạnh nhà nước -