ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA KHÁCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÍ HỌC KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA KHÁCH THÁI LAN THUỘC
TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG Sinh viên thực hiện: Võ Thị Nhã
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Tô Thị Quyên
Đà Nẵng, Năm 2010

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐN: Đà Nẵng
DL: Du Lịch
KDL: Khách du lịch
TL: Thái Lan
HDV: Huớng dẫn viên
STT: Số thứ tự
TTXTDLĐN: Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng
DK: Du khách TB: Trung bình

thăm thành phố này. Nói đến Đà Nẵng là du khách có thể hình dung ngay rằng đó
là một thành phố tuyệt đẹp bên sông Hàn, bên bờ biển Đông với những nét quyến
rũ chưa từng có ở các đô thị biển khác…
Hằng năm, đã thu hút hàng ngàn lượt khách du lịch đến với Đà Nẵng, đặc biệt là
khách quốc tế, đây là thị trường tiềm năng cho việc khai thác du lịch của thành
phố. Khách quốc tế đến Đà Nẵng thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Theo báo cáo
đánh giá tình hình hoạt động du lịch 9 tháng đầu năm 2008 của Phòng Nghiệp vụ
Du lịch thuộc Sở Văn hóa- Thể thao và du lịch Đà Nẵng thì 10 thị trường trọng
điểm theo thứ tự ưu tiên là: Thái Lan (chiếm 28,47% tổng số khách quốc tế đến
Đà Nẵng), Mỹ (chiếm 16,85%), Nhật Bản (8,15%), Úc (7,02%), Pháp (5,75%),
Hàn Quốc (4,67%), Trung Quốc (4,64%), Đức (3,23%), Canada (2,85%), Anh
(1,8%). Theo số liệu thống kê trên thì dự đoán tình hình du lịch của Đà Nẵng trong
những năm tiếp theo sẽ gia tăng số lượng khách quốc tế đến thành phố trong đó
khách du lịch đến từ Thái Lan là một thị trường trọng điểm cần quan tâm và khai
thác.
Quá trình đi du lịch tất yếu nảy sinh rất nhiều nhu cầu khác nhau như nhu cầu vận
chuyển, nhu cầu ở và ăn uống, nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí, nhu cầu mua
sắm, nhu cầu làm đẹp, nhu cầu thông tin…Vì vậy mà trong ngành du lịch việc tìm
hiểu nhu cầu, thị hiếu và khả năng chi tiêu của du khách là điều rất quan trọng.
Qua việc nắm bắt nhu cầu và khả năng chi tiêu của du khách.Ta có thể cung cấp
những dịch vụ phục vụ tương ứng thỏa mãn nhu cầu của du khách một cách tốt
nhất, giúp du khách đạt được mục đích trong chuyến đi của mình. Và đồng thời tạo
cơ hội khai thác phát triển tiềm năng du lịch của địa phương. Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng thuộc sở Văn hóa – Thể thao và du lịch là
một trung tâm có uy tín trong lĩnh vực du lịch của thành phố, chuyên tổ chức các
tour cho du khách khi đến đây. Hàng năm,Trung tâm đã đón tiếp hàng trăm lượt
khách du lịch, trong đó có một lượng khách không nhỏ đến từ Thái Lan. Mặc dù,
Trung tâm đã có kinh nghiệm trong việc tổ chức các chương trình du lịch cho du

khá phong phú, mức độ đòi hỏi cao
- Khả năng chi tiêu của du khách Thái tại Đà Nẵng không nhiều
- Khả năng quay lại Đà Nẵng của khách Thái cao
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận theo khía cạnh tâm lý học về nhu cầu du lịch của
du khách khi đi du lịch.
Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu du lịch của du khách Thái Lan thuộc Trung tâm xúc
tiến du lịch Đà Nẵng khi đi du lịch tại Đà Nẵng
Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để trung tâm có được những biện pháp tổ
chức tốt hơn các chương trình du lịch , khắc phục những khâu thiếu hụt và tăng
cường các dịch vụ phục vụ đáp ứng nhu cầu đi du lịch cho du khách Thái Lan. 6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tổng hợp và phân tích tài liệu 6.2Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng
vấn .
6.3 Phương pháp toán học: Thống kê và xử lí số liệu


Nhu cầu về an toàn
Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu được thể hiện mình Hình 1: Mô hình tháp nhu cầu của Maslow

Maslow cho rằng nhu cầu sinh lí mạnh mẽ nhất, nhu cầu được thể hiện mình là
nhu cầu yếu nhất. Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc là nhu cầu
vừu thấp vừa cao. Các nhu cầu thấp thường được ưa tiên chú ý trước so với những
nhu cầu bậc cao này. Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trính phát
triển của chủng loại, cũng như phát triển của cá nhân. Đồng thời đây cũng là thứ tự
để thỏa mãn các nhu cầu đó. Nếu không thỏa mãn nhu cầu cấp thấp thì không thể
nào thỏa mãn nhu cầu cấp cao. Lý thuyết của Maslow được vận dụng nhiều trong
kinh doanh để nắm bắt được tâm lý của khách hàng, công tác quản lý nhân sự để
biết được tâm lý của nhân viên.
1.2Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là
sự đòi hỏi tất yếu của con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.
1.3Phân loại nhu cầu
Hệ thống nhu cầu của con người rất đa dạng, có nhiều cách phân loại khác nhau:
-Căn cứ vào tính chất của nhu cầu, có 2 loại nhu cầu: Nhu cầu tự nhiên và nhu
cầu xã hội
- Căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần.
- Căn cứ vào mức độ thỏa mãn nhu cầu: có nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao.

•Nhu cầu có tính ổn định:
Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp đi lặp lại( thông thường ở
mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái hiện. Một yêu cầu về một điều gì đó chỉ sảy ra một lần mang tính chất riêng lẻ và không lặp lại nữa thì sẽ không
biến thành nhu cầu và không đặc trưng cho những đặc điểm tâm lý của con người.
•Phương thức thỏa mãn nhu cầu:
Nhu cầu được thỏa mãn thông qua hoạt động. Chỉ có thông qua hoạt động thì
đối tượng của nhu cầu mới bộc lộ và đáp ứng đòi hỏi của nhu cầu. Chỉ thông qua
hoạt động có đối tượng thì nhu cầu mới được cụ thể hóa về mặt tâm lý và mới
được thỏa mãn. Chính vì lẽ đó mà nhu cầu luôn có mối quan hệ mật thiết với động
cơ. Phương thức thỏa mãn nhu cầu của chủ thể phụ thuộc vào sự phát triển , phong
tục truyền thống… của mỗi xã hội mà chủ thể đang sống, phụ thuộc vào trạng thái
tâm lí nói riêng cũng như khả năng hoạt động của chủ thể. Mỗi nhu cầu cụ thể
được thỏa mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng.
• Trạng thái ý chí- cảm xúc:
Nhu cầu thường đi kèm với trạng thái ý chí- cảm xúc, đặc biệt khi nhu cầu ở mức
độ cao. Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như tính hấp dẫn của một đối tượng có
liên quan đến nhu cầu nhất định, sự không hài long thậm chí đau khổ khi nhu cầu
không được thỏa mãn. Trạng thái ý chí- cảm xúc thúc đẩy hoạt động tìm kiếm cách
thúc cần thiết nhằm thỏa mãn nó. Chính vì vậy mà nhu cầu trở thành một trong
những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các
hành vi ý chí nói riêng. Trạng thái ý chi- cảm xúc sẽ giảm , thậm chí có lúc biến
mất hoặc chuyển sang trạng thái ngược lại thì nhu cầu được thỏa mãn.
Tóm lại nhu cầu phản ảnh mối quan hệ giữa chủ thể với điều kiện sống. Nó là
nguồn gốc của tính tích cực, đồng thời được bộc lộ thông qua tính tích cực của chủ
thể . Hoạt động là phương thức thỏa mãn nhu cầu, nhu cầu và cả hoạt động của con
người cũng không ngừng phát triển.
• Nhu cầu có tính chu kì:

cầu mới. Vì thế con người không ngừng hoạt động tích cực lao động sản xuất qua
đó thúc đẩy xã hội phát triển.
Để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đó, chúng ta phải làm cho chủ thể
có cơ hội làm quen với đối tượng, thực hiện hoạt động với đối tượng. chính trong
quá trình trãi nghiệm đó chủ thể có cơ hội và điều kiện để thấy được vai trò, ý
nghĩa của đối tượng đối với cuộc sống của bản thân, từ đó mà hình thành mong
muốn về đối tượng và nhu cầu sẽ dần xuất hiện.
2. Các vấn đề lí luận về du lịch và khách du lịch (du khách)
2.1 Du lịch
2.1.1 Khái niệm du lịch
Khi loài người bước vào giai đoạn phân công lao động lần thứ ba ( nông nghiệp,
chăn nuôi và công nghiệp), ngành thương nghiệp được tách ra khỏi sản xuất vật
chất. Xã hội xuất hiện tầng lớp thương gia, họ đem hàng hóa từ nơi này đến nơi
khác trao đổi và làm nảy sinh các nhu cầu về vận chuyển , ăn ở, hướng dẫn… Đó
là cơ sở cho ngành du lịch ra đời.
Theo I.I Pỉôgiơnic (1985 – Liên xô cũ) Thuật ngữ du lịch bao gồm 3 nội dung:
- Cách thức sử dụng thời gian nhàn rỗi ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên .
- Một dạng chuyển cư đặc biệt tạm thời .
- Một ngành kinh tế phi sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa xã hội của người
dân.
Như vậy theo ông, du lịch là một dạng hoạt động đặc biệt của người dân trong
một khoảng thời gian nhàn rỗi với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên, nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh , phát triển thể chất và tinh thần,
nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những
giá trị về tự nhiên, kinh tế và ăn hóa. Hay nói cách khác , du lịch là việc đi lại , lưu trú tạm thời ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của các nhân với mục đích thỏa
mãn các nhu cầu đa dạng.


lịch, khách du lịch có tuổi và những người khá giả thường thích lại trong khách
sạn vì các loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ khách du lịch rất đa dạng và đầy đủ.
 Du lịch trong motel( hotel bên đường có chổ để ô tô cho khách) rất phổ biến
ở Mĩ vào thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Hầu hết các loại dịch vụ trong
motel là tự phục vụ. Khách đi du lịch bằng xe con tự nhận buồng, gara xe, tự gọi
ăn ở nhà hàng… Vì vậy mà giá cả ở motel rẻ hơn trong hotel.
 Du lịch trong nhà trọ: Loại hình rất phát triển ở Pháp, Tây Đức, Ba Lan,và
một vài nước khác. Nhà trọ là những hotel loại nhỏ thuộc tư nhân( hoặc có biệt
thự) rất tiện cho mõi gia đình có trẻ em đi du lịch cùng.
 Du lịch cắm trại: Ngày nay loại hình này đã trở thành mốt du lịch, rất được
giới thanh niên ưa chuộng. Vốn đầu tư cho lịch lịch cắm trại không lớn , chủ yếu
sắm lều, bạt, giường, tiền. Những vùng du lịch nàyngười ta thường chế biến và
phục vụ ăn uống theo kiểu cấp phát khẩu phần chia sẵn.
c. Phân loại căn cứ vào cách tổ chức du lịch:
 Du lịch theo đoàn: Khách được tổ chức đi tập thể theo một chương trình
định sẵn và thường trả theo giá trọn gói. Du lịch theo đoàn là rất phổ biến ở các
nước xã hội chủ nghĩa.
 Du lịch đi lẻ: Khách tự chọn cho mình một chương trình tham quan nghỉ
ngơi trong số rất nhiều chương trình du lịch do các tổ chức kinh doanh du lịch ấn
định hoặc tự tổ chức đi du lịch đến nơi mà mình thích.
2.1.3 Nhu cầu du lịch của con người Nhu cầu du lịch là một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu
này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( sự đi lại) và
các nhu cầu tinh thần ( nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức và giao tiếp).
Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực luợng sản xuất trong xã hội
và trình độ sản xuất xã hội. Trình độ sản xuất xã hội càng cao , các mối quan hệ xã
hội càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch biến thành động cơ thúc đẩy con người đi
du lịch . nói cách khác, nhu cầu du lịch của xã hội chỉ có thể phát triển trong điều

- Trong thời gian đi du lịch, con người nảy sinh các nhu cầu dịch vụ về cơ sở
vật chất, về văn hóa tinh thần, về hàng hóa…
2.2 Khách du lịch(du khách)
2.2.1 Khái niệm khách du lịch
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến nơi
có điều kiện để nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe, tham quan,
vãn cảnh, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức cái mới lạ , hoặc kết hợp việc
nghỉ ngơi với hội họp, kinh doanh, nghiên cứu khoa học…
2.2.2 Phân loại khách du lịch
a. Khách du lịch: Là khách thăm viếng lưu trú tại một quốc gia khác( hoặc một
nơi khác nơi ở thường xuyên) trên 24 tiếng và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích:
kinh doanh, tham dự hội nghị, gia đình, nghỉ dưỡng, công vụ, tôn giáo, thể thao…
hoặc nói một cách khác, bất cứ ai đi đến một quốc gia hoặc một nơi khác và lưu trú
lại nơi đó hơn một ngày ( có nghỉ qua đêm tại đó) thì được gọi là khách du lịch( trừ
trường hợp đến đó hành nghề để kiếm sống).
b. Khách tham quan: Còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày, là khách thăm viếng
lưu lại một khu vực dưới 24 giờ những người đi đến một quốc gia khác hay một nơi khác bằng tàu thủy theo tuyến cũng được gọi là khách tham quan. Nhân viên
của thủy thủ đoàn hay phi hành đoàn nếu không thường trú tại khu vực đó thì cũng
được gọi là khách tham quan. ( Ngoại trừ họ nghỉ ngơi tại khách sạn đó)
Sự khác biệt giữa khách tham quan và khách du lịch là khách tham quan không
lưu lại qua đêm ở nơi đến du lịch.
2.2.3 Các nhu cầu của khách du lịch
Trong lĩnh vực du lịch, người ta có thể phân ra nhiều loại nhu cầu của du khách
cũng như các loại dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu đó . Tuy nhiên, căn cứ theo cơ
cấu chi tiêu cũng như căn cứ vào các dịch vụ du lịch phục vụ khách, ta phân nhu
cầu du lịch của khách thành các loại cơ bản:
a. Nhu cầu vận chuyển

+ Tình trạng sức khỏe của khách.
Khi tổ chức dịch vụ vận chuyển cho khách , các nhà kinh doanh du lịch phải cân
nhắc đến các yếu tố trên.
Tâm lý của khách du lịch chịu sự tác động tương đối lớn của cuộc hành trình .
Những nhu cầu của du khách khi sử dụng các dịch vụ vận chuyển rất đa dạng và
luôn phát triển nên các nhà kinh doanh du lịch phải phải lưu ý đến chất lượng của
dịch vụ này.
b. Nhu cầu ở và ăn uống
Nhu cầu ở, nghỉ ngơi và ăn uống là một trong những nhu cầu thiết yếu của con
nguời , nhưng để thỏa mãn nhu cầu này ở các địa điểm du lịch thì phương tiện vật
chất phải có sự thay đổi , nó không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn thỏa mãn
nhu cầu tâm lý. Đối tượng để thỏa mãn nhu cầu này là các cơ sở lưu trú , các nhà hàng, quán
rượu, các sản phẩm ăn uống…Trong quá trình kinh doanh lưu trú , ăn uống nhất
thiết phải lưu ý đến : chất lượng, vệ sinh, an toàn , phong cách- qui trình phục vụ,
cơ cấu, chủng loại sản phẩm, giá cả…
Đối tượng để thỏa mãn nhu cầu này của khách chịu sự tác động và chi phối của
các yếu tố sau:
Khả năng thanh toán của khách.
Hình thức đi du lịch( cá nhân hay tổ chức).
Thời gian hành trình và lưu lại .
Khẩu vị ăn uống ( mùi vị, cách nấu, cách ăn )
Đặc điểm tâm lý cá nhân của khách.
Mục đích cần thỏa mãn trong chuyến đi .
GIá cả , chất lượng phục vụ của doanh nghiệp kinh doanh.
Tổ chức kinh doanh khách sạn và nhà hàng phải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề
sau: Vị trí, phong cách kiến trúc, trang trí nội thất, thực đơn ăn uống và tổ chức
trong khâu phục vụ.

khiển, tạo nên những cảm tưởng du lịch trong con người. Cảm tưởng du lịch được
hiểu là những rung động do tác động của các đối tượng ở nơi du lịch tạo thành,
biến thành những kỉ niệm thường xuyên tái hiện trong trí nhớ của du khách.
Các đối tượng có thể gây ra những cảm tưởng du lịch trong du khách:
- Vị trí , địa hình, khí hậu, phong cảnh thiên nhiên.
- Các vườn quốc gia, các công viên giải trí, công viên có chủ đề.
- Các hồ và cây xanh trong thành phố. - Các công trình kiến trúc độc đáo có tính lịch sử hay bản sắc của một nền văn
hóa.
- Chiến trường xưa, khu phố cũ
- Các khu di tích, viện bảo tang và các tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng.
- Phong tục tập quán, truyền thống, lễ hội đặc biệt ( mang tính độc đáo) của cư
dân vùng du lịch.
- Những sự vật, hiện tượng huyền bí.
- Các công trình thế kỉ
Các trò chơi mang bản sắc dân tộc, hiện đại…
Một trong những tính độc đáo của sản phẩm du lịch là do các đối tượng này tạo
nên. Sản phẩm Tour có hấp dẫn hay không , thu hút được du khách tham gia nhiều
hay ít tùy thuộc vào sự phong phú và hấp dẫn của các đối tượng này.
Các giá trị thẩm mĩ mà thiên nhiên ban cho hay do con người tạo ra ở nơi du lịch
là cái mà du khách tìm kiếm. Sự thỏa mãn nhu cầu này mang tính chủ quan sâu sắc
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Các đặc điểm tâm lý của cá nhân: tâm trạng, sở thích, tính cách, thị hiếu thẩm
mĩ…của du khách
Các đặc điểm tâm lý của xã hội: Giai cấp, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tôn giáo, hộc
vấn…của du khách.
Ngoài ra khả năng thanh toán, mục đích chính cần thỏa mãn của chuyến đi và
mức độ hấp dẫn, độc đáo của các tài nguyên du lịch….cũng là các yếu tố ảnh

Để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu mua hàng của khách du lịch, các cơ sở kinh
doanh du lịch cần có các hoạt động liên doanh. Liên kết với các ngành sản xuất để
đảm bảo cung ứng đầy đủ hàng hóa, cần nâng cao chất lượng hàng hóa, đặc biệt là

Trích đoạn Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket) Theo điều tra khách du lịch Thái Lan Mục đích chuyến đi và nguyên nhân chọn tham quan Đà Nẵng Nguyên nhân khách Thái Lan chọn Đà Nẵng làm điểm tham quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status