Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại trường PTCB nguyễn đình chiểu và trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÍ HỌC

KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi
chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình
Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em
bất hạnh thành phố Đà Nẵng
Sinh viên thực hiện: Phan Xuân Thông
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Bùi Văn Vân
khuyết tật ngôn ngữ (21,4%), những vấn đề về hành vi (16,2%), khiếm thị (14,6 %), khiếm
thính (9,7%) và thiểu năng trí tuệ (3,6%).
Người khuyết tật thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khó chịu do sự ức
chế hoạt động hay do di chứng của khuyết tật gây nên. Việc vận dụng những phương pháp
tác động đặc biệt nhằm giúp trẻ giảm bớt những cơn đau, sự khó chịu, sự ức chế trong cơ
thể giúp trẻ có cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết. Từ đó, dần dần phục
hồi một số chức năng cho trẻ trong việc di chuyển, tự phục vụ. Góp phần vào việc kéo dài
thời gian sống cho người khuyết tật.
Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có thống kê cụ thể về số lượng trẻ khuyết tật tại Đà
Nẵng. Mặc dù vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật cũng được quan tâm nhiều; có
nhiều chương trình, dự án về trẻ khuyết tật của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ đầu
tư. Tuy nhiên, các dự án này chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ về mặt vật chất, giáo dục
cho trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật. Còn lĩnh vực điều trị và phục hồi chức năng chưa
được chú ý nhiều. Một trong số ít những chương trình được thực hiện về lĩnh vực này là
chương trình tập huấn “Phương pháp vận động lâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” do Nhóm
chuyên gia Nhật Bản phối hợp với Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng thực hiện. Phương pháp này đang mở ra một hướng mới đầy

triển vọng trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại các cơ sở có trẻ khuyết tật ở
thành phố Đà Nẵng nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực trạng vận dụng
phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường
PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em
bất hạnh thành phố Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục
hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo
trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng để đề ra một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị
liệu Dosaho, góp phần vào việc phát triển phương pháp này theo hướng lâu dài tại Đà

7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,
khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ của
đề tài. Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu về phương pháp Dosaho để nghiên cứu cơ
sở lý thuyết và cơ sở vận dụng của phương pháp.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn cán bộ giáo viên theo 2 hình thức (cá nhân và nhóm) để khảo
sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho.
* Phương pháp quan sát
Sử dụng phiếu quan sát để đánh giá quá trình tiến hành thực hiện phương pháp
Dosaho. Quan sát để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy của cán bộ giáo viên, nghiên cứu hồ sơ trẻ
được lập vào tháng 9/2010.
* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giá
tình trạng hiện tại của trẻ. Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu về liệu pháp tâm lý và phục hồi chức năng được khởi đầu
bằng một phát hiện trong lĩnh vực nghiên cứu về hiện tượng ngủ ở người bị bệnh bại não
vào năm 1965. Vào thời điểm đó, người ta cho rằng người bị bệnh bại não không thể vận
động được cơ thể bởi vì một phần các tế bào não của người bệnh đã bị chết. Tuy nhiên,
một công trình nghiên cứu về hiện tượng ngủ đã phát hiện thấy một thanh niên bị liệt não

trình hoạt động học tập và chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, cơ sở lý thuyết của phương pháp
tập luyện Dosaho đã được khẳng định, và các nhà khoa học đã phát hiện các phương pháp
mới như: Phương pháp Dosaho thể thao cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp
được sử dụng như là một phương pháp rèn luyện tinh thần, Phương pháp Dosaho trong

giáo dục được ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục chuyên biệt Tại Nhật Bản, số người bị
mắc các chứng bệnh về tâm thần đang ngày càng tăng. Vì vậy, việc sử dụng “Phương pháp
chăm sóc sức khỏe Dosaho” hay “ Liệu pháp Dosaho” như là một phương pháp duy trì sự
cân bằng của tình trạng sức khỏe thể chất – tâm thần cho người bình thường đang trở thành
khuynh hướng lớn trong lĩnh vực tâm lí học lâm sàng ở Nhật Bản. Liệu pháp Dosaho được
nghiên cứu nhiều nhất bởi các nhà tâm lí học trị liệu, các bác sĩ ở các trường đại học và các
bệnh viện thần kinh, và hiện đang phát triển rất nhanh chóng ở Nhật Bản. Các bệnh nhân
được điều trị bằng liệu pháp Dosaho có thể nhận thấy sự cải thiện nhanh chóng tình trạng:
cứng vai, bệnh đau lưng, các cơn đau hông, đau đầu gối, đau đầu và các triệu chứng nhẹ
của bệnh trầm cảm Những phát triển mới của phương pháp tập luyện Dosaho được ứng
dụng nhiều nhất trong các điều trị được gọi chung là “Phương pháp trị liệu Dosaho”.
Phương pháp trị liệu Dosaho phát triển hơn phương pháp tập luyện Dosaho ban đầu ở sự
phong phú của kĩ thuật và ứng dụng. Trong khi phương pháp tập luyện Dosaho ban đầu
được bắt nguồn từ phát hiện trong nghiên cứu hiện tượng ngủ, và chỉ dành cho những bệnh
nhận bị bại bão và bệnh tắc nghẽn mạch máu não, thì phương pháp trị liệu Dosaho được
dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu về phương pháp tập luyện Dosaho, nó được dành
cho tất cả mọi người trong việc chăm sóc sức khỏe hằng ngày, và được ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực như giáo dục, điều trị bệnh, thể dục thể thao
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ khuyết tật cao. Có nhiều yếu tố tác
động tới tình hình khuyết tật ở nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ảnh hưởng bởi thương tật,
chất độc da cam sau chiến tranh; hậu quả của các vấn đề sức khoẻ công cộng trong giai
đoạn phát triển như tai nạn thương tích, các bệnh không truyền nhiễm, sức khỏe tâm thần
.v.v.
Khuyết tật nếu không được phục hồi chức năng và có các can thiệp y tế, kinh tế, xã hội kịp
thời sẽ tác động tới tình trạng sức khoẻ của cơ thể, các chức năng sinh hoạt cần thiết trong

6. Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi: tự kỷ, các dạng bệnh tâm thần, rối loạn
hành vi…
7. Các khuyết tật (giảm chức năng) khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hô hấp, bài tiết,
tiết niệu, sinh dục, sinh sản do các bệnh mạn tính gây ra.
Đa khuyết tật: là người khuyết tật mắc hai khuyết tật trở lên như giảm chức năng
nghe, kèm theo giảm chức năng nhìn.
1.2.2. Trẻ khuyết tật vận động
1.2.2.1. Khái niệm
Một trẻ khó khăn về tật vận dộng là trẻ yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đau làm trẻ
không cử động được. Đối với trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúi xuống nhặt một
vật lên, không thể đi bộ 10 mét.
1.2.2.2. Nguyên nhân gây khuyết tật vận động
- Do bệnh: bại liệt, bại não, viêm khớp, viêm cơ, bệnh xương.
- Do chân thương: tai nạn, sang chấn khi sinh đẻ.
- Do bẩm sinh.
1.2.2.3. Các loại khuyết tật vận động
- Bại, liệt 1 tay
- Bại, liệt 2 tay
- Bại, liệt 2 chân
- Bại, liệt nửa người
- Bại, liệt tứ chi
- Thiếu, thừa ngón tay
- Ngắn chi, cụt chi
- Bệnh cơ, xương, khớp
- Bàn chân khoèo

1.2.3. Trẻ chậm phát triển trí tuệ (CPTTT)
1.2.3.1. Khái niệm
Theo bảng phân loại của Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mỹ, trẻ CPTTT liên
quan đến những hạn chế cơ bản về các chức năng hiện tại với những đặc điểm sau:

- Trẻ sống cách ly cuộc sống xã hội trong thời gian dài,…
1.2.3.3. Đặc điểm vận động của trẻ CPTTT
CPTTT thường kéo theo những khó khăn về vận động cho trẻ. Một trẻ khó khăn về
vận động là trẻ bị yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đau làm trẻ không cử động được. Đối với

trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúi xuống nhặt vật lên, không thể đi bộ được 10
mét.
1.2.4. Trẻ tự kỷ
1.2.4.1. Khái niệm
Năm 1934, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỷ là những trẻ không tạo lập mối
quan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọi người xung quanh, có
biểu hiện chậm nói, chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ đôi khi có vẽ kỳ dị, cùng các hoạt
động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặp lại.
Năm 1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỷ:
- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội.
- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời đến lời nói lập dị
- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc cho đến khuôn
mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép
- Khởi phát sớm trước 30 tháng
Định nghĩa theo DSM-IV-TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan toả
(PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hội chứng được đặc trưng bởi
suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực phát triển: tương tác xã hội, giao tiếp và
sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn.
Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ. Tuy nhiên các khái niệm này không đối lập
nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh về trẻ tự kỷ.
Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rối loạn phát triển
lan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp
đi lặp lại, rối loạn cảm giác. Có 5 phân nhóm chẩn đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình,
hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa –
không điển hình.

bảo cho người tàn tật hội nhập và tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia các
hoạt động xã hội.
Như vậy PHCN không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là trách nhiệm của
toàn xã hội, ngành y tế chỉ đảm nhiệm một mảng hẹp đó là phục hồi chức năng bằng các
biện pháp y học.
1.3.2. Mục đích phục hồi chức năng
Hoàn lại một cách tối đa về thể chất, tinh thần và nghề nghiệp.
Ngăn ngừa các thương tật thứ phát.
Tăng cường khả năng còn lại của người tàn tật để làm giảm gánh nặng cho gia đình
và xã hội.
Góp phần đưa người tàn tật hoà nhập xã hội và làm thay đổi thái độ của cộng đồng
và xã hội đối với người tàn tật.
1.3.3. Các phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng
1.3.3.1. Phương pháp tâm vận động: là một phương pháp giáo dục dựa vào sự quan sát và
sử dụng các giác quan một cách hợp lý để kích thích các khả năng của trẻ em. Thông qua
sự vận động trong các trò chơi, các em dần dần hoàn thiện những kỹ năng còn yếu của
mình.
1.3.3.2. Phương pháp vật lý trị liệu: là phương pháp phòng hoặc/và chữa bệnh bằng cách
sử dụng các tác nhân vật lí tự nhiên hay nhân tạo như: nước, không khí, nhiệt độ, khí
hậu, độ cao, điện, tia X, tia cực tím, tia hồng ngoại, siêu âm, các chất đồng vị phóng
xạ, xoa bóp, thể dục - thể thao, đi bộ, dưỡng sinh.

1.3.3.3. Phương pháp mát – xa:

Theo gốc Hy Lạp, từ massage có nghĩa là xoa bóp, với
quan niệm rằng cơ thể con người có một dòng chảy năng lượng còn gọi là "khí". Sự lưu
chuyển tốt của khí giúp cơ thể duy trì được sức khỏe và sinh lực còn khi dòng khí này bị
ngưng trệ là lúc cơ thể yếu đuối và nảy sinh nhiều bệnh tật. Massage chính là cách vận khí,
chuyển khí để dòng chảy này lưu thông tốt nhất trong cơ thể con người, khơi thông lại
nguồn năng lượng tiềm năng này trong cơ thể.

với các nước nghèo và đang phát triển.

- Nhược điểm:
+ Không triển khai được kỹ thuật cao.
+ Khó khăn về khâu tổ chức, quản lý nên thường khó duy trì lâu dài.

1.4. Phương pháp Dosaho
1.4.1. Cơ sở lý thuyết Dosaho
Cũng giống như một số triết lý y học châu Á, lý thuyết Dosaho cho rằng thể chất và
tinh thần của con người có mối quan hệ không thể tách rời. Điều đó có nghĩa là một sự
thay đổi tinh thần có thể dẫn đến những thay đổi về thể chất và nguợc lại. Thuật ngữ
“Dosaho” trong tiếng Nhật có nghĩa là “sự vận động” và sự vận động thường chỉ phần vận
động về mặt thể chất của cơ thể. Nhưng điều đáng chú ý là thuật ngữ “Dosaho” không chỉ
hàm nghĩa sự căng thẳng hoặc sự vận động về mặt thể chất của cơ thể mà còn chỉ những
hiện tượng tâm lý đuợc tạo ra bởi nỗ lực của con nguời (đôi khi xảy ra một cách vô thức)
nhằm thích nghi với cuộc sống thường ngày. Nói một cách chính xác, Dosaho được định
nghĩa như là một quá trình tổng thể bao gồm ý địng của một người, nỗ lực nhằm hiện thực
hóa vận động của cơ thể, và kết quả có thể nhìn thấy đuợc của vận động thể chất của cơ
thể.
Nguời ta cho rằng, tất cả mọi nguời đều có những phuơng thức vận động Dosaho để tiếp
nhận cuộc sống từ khi mối đuợc sinh ra, nhưng những phuơng thức vận động đó không
phải lúc nào cũng phù hợp với họ. Loại lỗi vận động Dosaho này sớm muộn sẽ gây ra
những căng thẳng có hại cho các bộ phận của cơ thể như gây đau mình, tê cứng, thậm chí
gây ra những tình trạng bất lợi cho cơ thể như trạng thái trầm cảm. Trong các chuơng trình
sử dụng phuơng pháp trị liệu Dosaho, các nhà vận động đã phát hiện thấy các phuơng
thức vận động Dosaho của một số nguời không phù hợp với sự thích ứng của nguời đó đối
với đời sống hàng ngày. Phần lớn các lỗi Dosaho đuợc gây ra do nguời bệnh không đạt
những vận động thể chất phù hợp hơn. Vì vậy các nhà trị liệu Dosaho sử dụng cách tác
động vào các nỗ lực Dosaho của nguời bệnh, huớng dẫn họ thay đổi phuơng thức vận
động sai để chuyển sang những cách vận động phù hợp và thoải mái hơn khi hợp tác với

- Vận dụng tư thế cho nguời tập: Tư thế ngồi (ngồi trên ghế/ bắt chéo chân/ ngồi đưa
chân về phía trước), tư thế nằm ( nằm ngửa/ nằm sấp/ nằm nghiêng), tư thế đứng (đứng/
quỳ).
1.4.3.2. Tiến trình chung của một bài tập Dosaho
Bước 1: Đánh giá ban đầu: chuyên gia trị liệu kiểm tra những vấn đề mà nguời bệnh đang
gặp phải, và đánh giá những phuơng thức vận động Dosaho đuợc xem là không phù hợp
với người ấy.
Buớc 2: Thỏa thuận đồng ý: chuyên gia trị liệu thông báo với người bệnh về phuơng pháp
vận động Dosaho (chú ý vấn đề giới tính khi phải động chạm vào cơ thể người bệnh, đặc
biệt là khi người bệnh có giới tính khác với chuyên gia trị liệu).
Buớc 3: Xác định bài tập Dosaho: chuyên gia điều trị đề ra một phác đồ trị liệu, chọ bài
tập Dosaho trong tất cả các kĩ thuật sử dụng cho nguời bệnh.
Bước 4: Kiểm tra truớc khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình trạng cơ thể
trước khi bắt đầu liệu pháp để nhằm mục đích sau này đánh giá hiệu quả của việc điều trị.
Bước 5: Điều trị bằng liệu pháp Dosaho: chuyên gia trị liệu giới thiệu và huớng dẫn người
bệnh về các bài tập Dosaho, khuyến khích và phản hồi về những nỗ lực của người bệnh.
Bước 6: Kiểm tra sau khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình trạng cơ thể
của họ và so sánh với kết quả kiểm tra trước khi điều trị. Dựa trên các câu trả lời, chuyên
gia trị liệu điều chỉnh các bài tập Dosaho cho đợt điều trị sau.
1.4.3.3. Giới thiệu một số bài tập Dosaho đơn giản
Có tất cả 64 phương pháp trị liệu Dosaho, mỗi một phương pháp lại có nhiều bài
tập thực hành khác nhau, nhưng tất cả các phương pháp này đều tác động vào 13 vị trí trên
4 vùng sau: vùng mặt, vùng thân, vùng chi trên, vùng chi dưới.

* Thực hành xác định 13 vị trí

Hình 1: Sơ đồ xác định vị trí trên cơ thể
1. Cổ; 2. Bả vai; 3. Ngực; 4. Lưng; 5. Lưng cột sống; 6. Mông; 7. Đầu gối; 8. Gót chân; 9. Ngón chân; 10.
Vai; 11. Khuỷu tay; 12. Cổ tay; 13. Ngón tay 0. Vị trí mặt (a. Trán;
b. Khóe mắt; c. Xung quanh vùng mắt; d. Xung quanh vùng miệng(vị trí khóe miệng); e. Má; f. Đầu lưỡi(bộ

- Gồng và nới lỏng theo yêu cầu của NĐT.
- Thực hiện tương tự nhiều lần
- Tay trái cầm vai, tay phải đặt sau lưng rồi
yêu cầu NĐĐT thực hiện.
- Khi NĐĐT nới lỏng thì ép mạnh tay về
phía trước.
- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi
- Hỏi: cảm giác thế nào?
- Vị trí số 4,5
Người được điều trị (NĐĐT) Người điều trị(NĐT)
- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền trước ngực
- Nới lỏng – gồng lên
- Làm nhiều lần theo yêu cầu của NĐT
- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT
- Đặt 2 tay áp vào lưng
- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vị
trí đặt tay. (có đôi lúc ngắt quãng)
- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi
- Hỏi: cảm giác thế nào?
- Vị trí số 6
Người được điều trị nằm ngửa, thả lỏng người. Người điều trị ngồi bên phải của NĐĐT:
Lần 1: Luồn chân trái sang phía dưới vị trí thắt lưng của NĐĐT. Để cho NĐĐT
nằm thả lỏng như vậy trong 2 phút. Đồng thời NĐT kiểm tra những vị trí bị cứng của
NĐĐT. Sau 2 phút thì rút chân ra. Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế nào?
Lần 2: Cho NĐ ĐT nằm thả lỏng sau khoảng 3 phút thì thực hiện một lần nữa. Hỏi
NĐ ĐT có cảm giác thế nào?

- Vị trí số 7
NĐĐT
Nằm duỗi thẳng

B2: Quan sát (thấy tây phải có vẻ dài hơn). Hỏi người thực hiện có cảm giác thế
nào.
Thực hiện tương tự với tay trái. Mỗi lần tập, đưa tay trái 2 lần, đưa tay phải 2 lần.
Nguyên tắc: làm cho căng cơ rồi thả lỏng thư giãn. Thực hiện trước lúc làm những việc
căng thẳng như: trước giờ thi, kiểm tra, phỏng vấn

- Vùng mặt
NĐĐT
Nằm duỗi thẳng, chân tay thả lỏng, nhắm mắt thư giãn.
NĐT
- Ngồi khoanh chân phía trên phần đầu NĐĐT
- Mắt nhìn thẳng vào phần mặt NĐĐT
- Dùng tay cảm nhận vùng căng thẳng trên mặt NĐĐT
- Đặt 2 tay vào vùng giữa trán, dùng các đầu ngón tay kéo về 2 phía thái dương rồi
dừng lại, ấn nhẹ và thả lỏng
- Dùng 2 ngón trỏ và giữa kéo nhẹ khóe mắt xếch lên phía trên rồi từ từ thả lỏng về
khóe mắt
- Bàn tay trái giữ trán nằm ngang, tay phải dùng 3 ngón giữa kéo nhẹ hốc mắt xuống
dưới rồi thả lỏng, làm tương tự với mắt còn lại ( bên nào thì tay đó kéo )
- Dùng ngón trỏ và giữa kéo khóe miệng thành dạng mặt cười, dừng lại, rồi từ từ thả
lỏng
- Dùng lòng bàn tay áp nhẹ, kéo ngang 2 bên má ( bàn tay dọc theo chiều má ), dừng
lại rồi thả lỏng.
Lưu ý: Khi làm mỗi 1 bộ phận trên khuôn mặt NĐĐT, NĐT nói “ Kéo căng, thả lỏng “
khi làm động tác.
Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu lí luận về trẻ khuyết tật, chúng tôi nhận thấy trẻ khuyết tật còn gặp
nhiều khó khăn trong vận động. Việc phục hồi chức năng cũng đã được thực hiện bằng
nhiều hình thức và phương pháp khác nhau.
Qua nghiên cứu tìm hiểu hiểu về phục hồi chức năng, chúng tôi nhận thấy có nhiều

- Đào tạo văn hoá từ Mầm non đến phỏ thông trung học.
- Phục hồi chức năng, dạy nghề phù hợp để các em khuyết tật sớm hoà nhập cộng đồng xã
hội.
- Thực hiện chức năng hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật tại cộng đồng: cụ thể là chức năng
giáo dục hoà nhập, can thiệp sớm, nhìn kém, tư vấn, tập huấn hỗ trợ chuyên môn cho phụ
huynh, giáo viên hoà nhập ở các trường Mầm non, Tiểu học đến PT Trung học có học sinh
khuyết tật học hoà nhập.
Trong những năm qua, nhà trương đã đạt được nhiều thành tích, cụ thể là: được công nhận
11 năm liên tục đạt danh hiệu “Tiên tiến xuất sắc cấp thành phố” nhận bằng khen UBND
thành phố tặng, 3 bằng khen của Bộ Giáo dục Đào tạo, 2 bằng khen của Công Đoàn Giáo
Dục Việt Nam, năm 1997và 2001 được nhận bằng khen Thủ Tướng Chính phủ, năm 2007
được nhận cờ của LĐLĐ thành phố Đà Nẵng. Đặc biệt năm học 2006- 2007 được nhận
Huân Chương Lao Động Hạng III.
* Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh tp. Đà Nẵng
Nhằm chia sẻ nỗi đau thương mất mát của những nạn nhân chất độc da cam, Hội
nạn nhân chất độc da cam thành phố Đà Nẵng đã thành lập Trung tâm bảo trợ nạn nhân
chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng với 02 Cơ sở tại Quận Liên Chiểu
và Hải Châu, nhận nuôi dưỡng và chăm sóc cho gần 80 cháu là nạn nhân chất độc da cam
và trẻ em bất hạnh.
Trung tâm hoạt động rất hiệu quả gắn được trách nhiệm giữa gia đình với cộng
đồng, xã hội, là nơi để các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước trực tiếp đến giao lưu,
thăm hỏi, động viên. Các cháu đến Trung tâm được chăm sóc, nuôi dưỡng, luyện tập phục

hồi chức năng, vui chơi, ca hát, học nghề để phát triển về thể chất, tinh thần; gia đình các
cháu cũng giảm bớt gánh nặng, gửi con vào Trung tâm để hằng ngày có điều kiện đi lao
động kiếm sống Các cháu tiến bộ rất nhiều, giảm stress, tự tin hơn, một số cháu đã có thể
tự kết cườm,làm hoa và may, giúp các cháu hoà nhập dần với cộng đồng, vươn lên trong
cuộc sống.
2.1.2. Đối tượng khảo sát
- Các cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giá
tình trạng hiện tại của trẻ. Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây. 2.2. Kết quả khảo sát
2.2.1. Khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên về phương pháp Dosaho
2.2.1.1. Kết quả khảo sát tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – tp.Đà Nẵng
* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho
Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho là 9, trong tổng số 52
cán bộ giáo viên của trường.
Biểu đồ 1: So sánh số lượng CBGV được tập huấn với CBGV chưa được tập huấn

9
43
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
Cán bộ giáo viên được
tập huấn
Cán bộ giáo viên chưa
được tập huấn


11,2% cán bộ giáo viên cho rằng quan trọng.
Bảng 3: Ý kiến của giáo viên về vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong trị liệu trong PHCN
Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi
chức năng
Mức độ
Số lượng Tỷ lệ (%)
Rất quan trọng 2 22,2
Quan trọng 7 77,8
Không quan trọng 0 0,0
Tổng 9 100,0
Kết quả khảo sát vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho cho thấy cán bộ giáo viên
Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu cũng đánh giá cao phương pháp này. Cụ thể có 77,8%
cán bộ giáo viên được phỏng vấn cho rằng quan trọng và 22,2% cán bộ giáo viên cho rằng
rất quan trọng.

Biểu đồ 2: So sánh vai trò của trị liệu trong PHCN với vai trò của phương pháp Dosaho

88.8
22.2
11.2
77.7
0
0
0% 20% 40% 60% 80% 100%
Trị liệu PHCN
Dosaho
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng

Bảng 6: Các bài tập giáo viên đã biết

Số lượng người biết
Vị trí
0 bài tập 1 bài tập 2 bài tập 3 bài tập
Vị trí số 1 1 7 1 0
Vị trí số 2 1 8 0 0
Vị trí số 3 3 5 0 1
Vị trí số 4 3 5 1 0
Vị trí số 5 1 7 1 0
Vị trí số 6 5 4 0 0
Vị trí số 7 5 4 0 0
Vị trí số 8 6 2 1 0
Vị trí số 9 6 2 1 0
Vị trí số 10 0 8 1 0
Vị trí số 11 6 3 0 0
Vị trí số 12 6 3 0 0
Vị trí số 13 6 3 0 0
Vùng mặt 0 9 0 0

2
6
8
7
2
0 1 2 3 4 5 6 7 8
Chưa nắm vững các bài tập
Số bài tập ít

- Phải đào tạo bài bản, dài hạn
- Phải được thực hành nhiều hơn
- Đào tạo ở Nhật Bản
2.2.1.2. Kết quả khảo sát tại Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất
hạnh thành phố Đà Nẵng

* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho
Trung tâm chỉ tham gia đợt 4 của chương trình tập huấn với số lượng cán bộ giáo
viên là 5 người.
* Nhận thức của cán bộ giáo viên về phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻ
khuyết tật.
Bảng 8: Ý kiến của giáo viên về vai trò của trị liệu trong PHCN
Vai trò của trị liệu trong phục hồi chức năng
Mức độ
Số lượng Tỷ lệ (%)
Rất quan trọng 2 40,0
Quan trọng 3 60,0
Không quan trọng 0 0,0
Tổng 5 100,0
Kết quả khảo sát cho thấy, 100% cán giáo viên được hỏi đều đánh giá cao vai trò
của phục hồi chức năng trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật tại Trung tâm
bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.

Bảng 9: Ý kiến của giáo viên về vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong PHCN
Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi
chức năng
Mức độ

Nhận xét về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho, tất cả giáo viên đều cho rằng
đó là sự kết hợp giữa tâm lý và vận động.
* Những khó khăn thường gặp phải khi vận dụng phương pháp Dosaho
Hầu hết các cán bộ giáo viên đều gặp phải những khó khăn về kiến thức và kĩ năng
sử dụng phương pháp Dosaho. Do đó, hầu hết cán bộ giáo viên không vận dụng phương
pháp Dosaho thường xuyên.

* Nguyện vọng
Kết quả khảo sát cho thấy 100% cán bộ giáo viên đều muốn được tiếp tục tham gia
học. Nhưng cũng có những đòi hỏi cụ thể: phải đào tạo bài bản, dài hạn; phải được thực
hành nhiều hơn, được cung cấp tài liệu liên quan.
2.2.2. Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức
năng tại các cơ sở
2.2.2.1. Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức
năng tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu
* Các lớp học
Thời gian các giáo viên tập luyện Dosaho cho trẻ trong được thể hiện trong bảng 12
và số liệu thống kê:
Bảng 12: Bảng thống kê thời gian thực hiện của giáo viên

Thời gian
STT
Phút/lần Lần/ngày Ngày/tuần Tuần/tháng Tổng
(phút/tháng)
GV1 15 1 2 2
60
GV2 15 1 1 2
30
GV3 15 1 1 2
30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status