ĐẶT VẤN ĐỀ
Thalassemia là tên một hội chứng bệnh về Hemoglobin có tính chất di
truyền do thiếu sự tổng hợp một hay nhiều chuỗi polypeptid trong globin của
hem. Thalassemia là bệnh di truyền có tần suất cao nhất ở loài người. Ước
tính đến năm 2004, thế giới cú trên 300 triệu người mang gen này và phõn bố
rất rộng rãi ở bờ Tây Châu Phi, Địa Trung Hải, Trung Đông, Đông Nam Á,
Tỷ lệ người mắc bệnh β Thalasemia chiếm 4% dân số thế giới [4].
Ở Việt Nam, Thalassemia phân bố khắp các tỉnh và dân tộc trong cả
nước. đặc biệt là các dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi. Tỷ lệ mắc bệnh β
Thalasemia 5 - 25%: Mông (25%), Catu (14%), Tày (11%), Pako (8.3%)
[Error: Reference source not found]. β Thalasemia là nguyên nhân hàng đầu,
chiếm tới 49% các trường hợp thiếu máu tan máu nặng ở trẻ em Việt Nam
[8].
Bên cạnh Thalassemia lưu hành cao. các nước Đông Nam Á và Việt
Nam cũn cú tỷ lệ lưu hành HbE cao. Chính sự đồng thời lưu hành cao này đã
tạo ra nhiều thể bệnh nặng ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam
nói riêng. Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Văn Sơn và cộng sự (2004) HbH
chiếm 4,3%, HbE/β Thalassemia; 25,7% và β Thalassemia chiếm 60% [1],
Theo Phạm Thị Thuận (2008) có 56,7% HbE/beta Thalassemia. 29,6% beta
Thalassemia thể nặng và 14,7% bệnh HbH đến truyền máu ngoại trú thường
xuyên tại viện Nhi trung ương từ tháng 11/2007 – 10 /2008 [17].
Hàng năm, theo thống kê tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng có khoảng 100
bệnh nhi bị bệnh về máu đến khám bệnh trong đó khoảng 1/3 cháu bị bệnh về
hemoglobin chiếm chủ yếu là bệnh Thalassemia. Bệnh viện Trẻ em Hải
Phũng đó cú những nỗ lực nhất định về chẩn đoán sớm và điều trị bệnh
Thalassemia nhưng hiệu quả điều trị còn chưa cao, việc điều trị còn gặp nhiều
khó khăn tốn kém, bên cạnh đó chúng tôi chưa có một nghiên cứu nào về
bệnh. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “NGHIấN CỨU THỰC
TRẠNG BỆNH THALASEMIA TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHềNG”
Nhằm mục tiêu :
1. Nghiên cứu thực trạng bệnh Thalasemia tại bệnh viện Trẻ em Hải
thiếu máu ở người Thái Lan với một đặc điểm là có nhiều thể vùi trong hồng
cầu. Ngoài đặc điểm trên Minich còn phát hiện bệnh nhân này có hồng cầu
3
biến dạng kiểu thalassemia, nhiều hồng cầu hình bia và một số hồng cầu
mảnh. Năm 1955 Rigar cùng Gouttas đã tìm được HbH trong thành phần Hb
của bệnh nhi trên. Tuy nhiên lúc đó các tác giả còn gọi bệnh HbH như một
bệnh Hb riêng biệt.
Qua nhiều công trình nghiên cứu về bệnh. Rigar và cộng sự (1955),
Gouttas (1956), Ramot (1959), Huehns (1960)… đặc biệt Dance và cộng sự
đã phát hiện ra cơ chế tạo thành HbH gồm 4 chuỗi β. 4 chuỗi β này do những
chuỗi β thừa dư (trong khi các chuỗi α bị giảm) các chuỗi β thừa dư này kết
hợp với nhau, tạo thành phần Globin của HbH.
Đầu những năm 1960, ngoài một số quan sát lâm sàng các tác giả còn
bắt đầu nghiên cứu cấu tạo gen di truyền đã đưa ra 2 mô hình gen di truyền
của α Thalassemia, điều đó đã giải thích được các biểu hiện phong phú của
các thể α Thalassemia nói chung và HbH là một thể bệnh của nó.
1.2 Đặc diểm dịch tễ học Thalassemia
Sự phân bố bệnh và tần số có liên quan đến nguồn gốc dân tộc, sự di cư và
tập quán kết hôn, Bệnh phát hiện ra ở nhiều nước trên thế giới, chủ yếu ở
vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, Cận Đông, Viễn Đông, Bắc Phi, Đông
Nam Á. Theo ước tính của WHO hàng năm có khoảng 97.800 trẻ mới đẻ bị
các thể nặng của Thalassemia. Các nước trong khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ
mắc bệnh thay đổi từ 3 đến 10%.
Theo ước tính cua WHO (1981) Châu Á có khoảng 60,231,000 người
mang gen beta Thalassemia, Châu Âu là 4,800,000 người, còn ở Bắc Phi
khoảng 2,577,000 người [37].
4
Biểu đồ 1.1
Bảng 1.1. Uớc tính số người mang gen bệnh trên thế giới của WHO
(1981)
29.381 84.293
50
10
174
2.6
4.8
Tổng cộng 60 67.608 29.381 84.293 241
Ở Việt Nam. tần suất người mang gen bệnh khá cao và khác nhau ở các
dân tộc. Khi nghiên cứu 84 bệnh nhân Thalassemia tại bệnh viện Nhi đồng I
(2002) nhóm nghiên cứu đã chỉ ra β Thalassemia/HbE chiếm 42,8%; β
Thalassemia 34,5%; HbH 15,4% [15]. Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn
5
Văn Sơn và cộng sự (2005) HbH chiếm 4,3%; β Thalassemia/HbE: 25,7% và
β Thalassemia chiếm 60%. Qua khảo sát 124 người dân tộc Gia Jai. Nguyễn
Văn Dũng và cộng sự (2001) nhận thấy tỷ lệ lưu hành bệnh hemoglobin là
39% trong đó sự lưu hành β thalassemia là 5% và HbE là 34% [3].
β Thalassemia gặp nhiều ở người dân tộc miền Bắc, người Mường
25%, người Thái 16,6%; người Nùng 7,1%. Một nghiên cứu gần đây nhất của
Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2009) khi khảo sát bệnh Thalassemia ở
nhóm người dân tộc Mường huyện Kim Bôi tỷnh Hoà Bình cho thấy bệnh
beta Thalassemia rất phổ biến ở dân tộc Mường. Kim Bôi - Hòa Bình với tần
suất là 10.67 [14]. Theo Bùi Văn Viên (2000), tần suất người mang gen bệnh
β Thalassemia ở dân tộc Mường - Hoà Bình là 20,6% [20].
Song song với tỷ lệ lưu hành cao của beta thalassemia sự lưu hành
HbE cũng cao ở Việt Nam, Theo Nguyễn Công Khanh: bệnh HbE gặp nhiều
ở dân tộc miền Trung và Nam: ấđờ 41%, Khơme 36,8%; Stieng 55,9% [10],
Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2009) thấy tỷ lệ lưu hành HbE ở nhóm
người dân tộc Mường - Hoà Bình là 11,65% [14]. Bùi Văn Viên thấy tỷ lệ lưu
hành HbE ở người Mường - Hòa Bình (2001) là 12,3% [20].
Sự phân bố α Thalasemia cũng phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Tần
việc giảm tổng hợp mạch β globin này.
Do mạch β globin tổng hợp kộm nờn thừa nhiều mạch α. ảnh hưởng
mạnh đến đời sống hồng cầu. gây thiếu máu tan máu trên lâm sàng. Trong
nghiên cứu của Kan và Nathan (1968) cho thấy sự giảm tổng hợp mạch β
globin β thalassemia bị thiếu hụt ngay từ tuổi sơ sinh. Đây là cơ sở cho việc
nghiên cứu, chẩn đoán sớm bệnh β thalassemia ngay từ thời kì bào thai.
7
Sự thiếu hụt này có thể do đứt đoạn hoàn toàn gen β globin, do gen
điều hòa không hoạt động, do sai sót trong cắt đoạn và vận chuyển RNA
thông tin ra khỏi nhân, hoặc do RNA thông tin không được giải mã. Nghiên
cứu gần đây nhất của Lý Thị Thanh Hà và cộng sự (2008) [4] khi áp dụng kĩ
thuật ARM - PCR trong chẩn đoán trước và sau sinh tại bệnh viện Nhi trung
ương cho thấy kết quả trong bảng sau:
Bảng 1.2. Tên đột biến trên gen Hbb
Tên đột
biến
CD17 CD41
/42
-28M IVS1-1 IVS1-5 CD71/
72
IVS20
54
HBE
L.T.Hà
và cs
41,6 34,7 2,8 1,4 2,8 5,6 0 12,5
Saovaros
và cs
20,5 35,3 7,3 6 0 7,3 7,3 31
Cho đến nay. có khoảng hơn 200 đột biến đã được tìm thấy trên gen Hbb
acid amin.
- Phần nhóm ngoại gồm 4 nhân hem. Mỗi nhân hem gắn với một chuỗi
polypeptid.
9
- Ngoài ra, trong phân tử Hb cũn cú 2,3 diphosphoglycerat (DPG).
* Các loại Hb bình thường và thành phần sinh lý
Sự tổng hợp các chuỗi polypeptide và thành phần các Hb sinh lý thay đổi
qua các thời kỳ và lứa tuổi khác nhau [Error: Reference source not found].
Bảng 1.3. Cấu trúc globin của Hb sinh lý
Hb sinh lý Cấu trúc globin Thời kỳ xuất hiện
HbA1
α
2
β
2
Bào thai 6 tuần, Hb chủ yếu ở người bình
thường
HbA2
α
2
δ
2
Thai nhi gần đẻ, Hb ở người bình thường
HbF
α
2
γ
2
Bào thai 5 tuần, Hb chủ yếu ở thai nhi
Hb Gower 1
từng thể bệnh, song hậu quả của nó là 2 quá trình sau:
- Giảm tổng hợp Hb do thiếu phần Globin.
- Mất cân bằng giữa các chuỗi α và các chuỗi không α.
Hiện tượng thứ nhất: giảm tổng hợp Hb.
Qỳa trình bệnh lý thứ nhất là hậu quả trực tiếp của việc thiếu hụt tổng
hợp phần globin. Vì thiếu một loại chuỗi polypeptid nào đó mà việc tổng hợp
globin bị giảm. Biểu hiện của việc giảm tổng hợp Hb này là hồng cầu nhược
sắc và tăng sinh các hồng cầu non trong tủy. Ở thể nhẹ sự mất cân bằng giữa
các chuỗi alpha và beta không nặng nề thì hậu quả của sự giảm tổng hợp Hb
là biểu hiện rõ rệt của Thalassemia. Ở những người dị hợp tử thì biểu hiện
chủ yếu là hồng cầu nhỏ nhược sắc và tăng sinh hồng cầu non trong tủy. Ở
các thể dị hợp tử biểu hiện này ở máu ngoại vi không thấy có sự khác biệt
giữa alpha và beta thalassemia: hồng cầu nhỏ, nhược sắc, thiếu máu nhẹ. Còn
biểu hiện tăng sinh hồng cầu non trong tủy thường nhẹ không có ý nghĩa trên
lâm sàng.
Hiện tượng thứ hai: mất cân bằng giữa hai loại chuỗi globin.
Hiện tượng này là hậu quả thứ hai của việc thiếu hụt một loại chuỗi
globin nào đó. Việc thiếu hụt một loại chuỗi globin sẽ gây ra dư thừa tương
đối loại kia.
Trong β thalassemia do thiếu hụt chuỗi β gây ra dư thừa chuỗi alpha.
Trong alpha Thalassemia do thiếu chuỗi alpha gây ra dư thừa các chuỗi
gamma, beta, delta.
11
Do tính chất lý hóa của các chuỗi alpha và không alpha khác nhau nên
những rối loạn do các chuỗi thừa dư gây ra cũng khác nhau. Các chuỗi alpha
thừa dư sẽ tạo thành những hạt tủa xuống màng hồng cầu, nguyên sinh chất
của các hồng cầu trưởng thành và hồng cầu non trong tủy.
Đối với các hồng cầu ở máu ngoại vi các tủa này làm cho màng hồng cầu
mất độ mềm dẻo, hồng cầu trở thành một tế bào cứng đờ nờn khú vượt qua
các “màng lọc” ở lách. Mặt khác các hạt tủa này ở màng hồng cầu làm cho
Ferrtin là sắt dự trữ dưới dạng sắt hòa tan trong nước còn gọi là sắt
hydroxyt và có gắn oxy bên trong một cái giá tạo nên apoferritin. Mỗi hạt nhỏ
có chứa hơn 4000 nguyên tử sắt. Vì đại thực bào bắt sắt ở dạng cô đặc, nên
đại thực bào vận chuyển sắt bằng hấp thu nội bào (endocytocis), để mang sắt
gắn với transferin đến các tế bào tiền thân dòng hồng cầu được thuận lợi [30].
Vì vậy Ferrtin huyết thanh là xét nghiệm chỉ điểm để đánh giá tình trạng thừa
sắt.
13
Biểu hiện lâm sàng của hiện tượng nhiễm sắt ở bệnh nhân Thalassemia
thường biểu hiện bởi dấu hiệu nhiễm sắc tố ở da và niêm mạc, da bệnh nhi
sạm và lợi thâm. Nhiễm sắt làm tim to. rối loạn dẫn truyền cơ tim. bệnh nhân
có thể chết vì suy tim loạn nhịp, gan to, chức năng gan rối loạn, đái đường
phụ thuộc insulin, chậm lớn do nhiễm sắt ở tuyến giáp, thượng thận, tuyến
yên và sinh dục.
Về phương diện điều trị. trước những năm 60 của thế kỷ 20. thì phương
pháp duy nhất để giảm bớt lượng sắt thừa trong cơ thể là trớch mỏu tĩnh
mạch. Đến đầu những năm 70, Desferoxamine được áp dụng lâm sàng đã đặt
một mốc quan trọng trong việc điều trị quá tải sắt [25]. Từ đó đến nay đã
nghiên cứu được nhiều loại thuốc mới có tính năng vượt trội hơn
Desferoxamine. trong đó có Deferiprone (1984) và ICL 670 (deferasirox)
(2004) [25]. Chelat hóa là tên của phương pháp điều trị này với cơ chế chung
các chất chelat trên là các phân tử có các vị trí gắn kim loại, cho phép tạo
phức hợp chặt chẽ với sắt tự do. Phức hợp này sau đó được bài tiết ra khỏi cơ
thể.
Trong nghiên cứu về sự tuân thủ điều trị thải sắt của bệnh nhân
Thalassemia, Gabutti và các cộng sự đã chỉ ra rằng 95% số bệnh nhân tuân
thủ điều trị còn sống đến 30 tuổi trong khi đó chỉ có 12% số bệnh nhân không
tuân thủ điều trị sống được đến tuổi này [32].
1.2.4. Biến dạng xương trong Thalassemia
Các thay đổi về xương trong bệnh lý Thalassemia rất đặc trưng, biểu
16
Rối loạn chuyển
hóa HEM
Thiếu hụt một
loại chuỗi globin
Giảm tổng hợp
lượng Hb
Dư thừa một
loại chuỗi kia
Hạt tủa
Hồng cầu
ngoại vi
Sinh hồng cầu
không hiệu
quả
Vỡ hồng cầu
Thừa sắt
Thiếu máu
Ribosome
Nhược sắc
HC non ở tủy
1.3 Phân loại. lâm sàng và xét nghiệm
1.3.1. Phân loại
Tuỳ theo thiếu hụt tổng hợp chuỗi alpha, beta hay thiếu hụt cả chuỗi beta và
delta mà gọi là alpha-thalassemia, beta-thalassemia, delta-beta-thalassemia
[26].
* α-thalassemia:
Gồm các thể:
- α thalassemia thể ẩn hay dị hợp tử α-thalassemia 2: mất 1 trong 4 gen
alpha, không có biểu hiện lâm sàng và huyết học.
+
-thalassemia dị hợp tử
+ (δβ)
o
-thalassemia dị hợp tử
- δβ-thalassemia đồng hợp tử:
+ (δβ)
+
-thalassemia đồng hợp tử
+ (δβ)
o
-thalassemia đồng hợp tử
Tồn tại Hb bào thai
1.3.2. Biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm Thalassemia
1.3.2.1 Biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm Thalassemia thể nặng và trung
gian.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân thể nặng và trung gian là thiếu máu
tan máu mạn tính: thiếu máu từ từ từng đợt tăng dần, vàng da nhẹ hoặc không
rõ, lách to nhiều, nước tiểu màu sẫm, biến dạng xương đặc biệt xương sọ,
chậm phát triển thể chất và nhiều biến chứng nặng nề khác [8].
* β-thalassemia thể nặng.
- Người bệnh thường là người mang gen kiờ̉u đụ̀ng hợp tử
- Trên lâm sàng có đầy đủ các triệu chứng của một trường hợp thiếu máu
tan máu mạn tính nặng [8] .
+ Thiếu máu ngày càng nặng
+ Vàng da nhẹ hay không rõ
+ Lách to
+ Biến dạng xương nếu tan máu lâu ngày, đặc biệt xương sọ
+ Chậm phát triển thể chất
+ Nhiễm sắt: Bệnh thường có gan to, suy gan, tim to, suy tim
* Bệnh HbH:
- Lâm sàng có đầy đủ các triệu chứng của một thiếu máu tan máu mạn
tính. tương ứng với thalassemia thể trung gian.
- Hồng cầu nhỏ nhược sắc và biến dạng
- Sức bền thẩm thấu hồng cầu tăng.
- Tỷ lệ hồng cầu lưới tăng
- Thành phần Hb trên điện di Hb thay đổi đặc hiệu cho chẩn đoán:
+ HbH chiếm tỷ lệ từ 5 - 30%
+ HbBarts chiếm từ 0 - 11.2%
+ Có thể thấy HbCS
Tất cả tác giả đều thống nhất hình ảnh huyết học của Thalassemia là: hồng
cầu nhược sắc nặng, hemoglobin trung bình hồng cầu giảm, thể tích trung
19
bình hồng cầu giảm, số lượng hồng cầu giảm. Hồng cầu biến dạng nặng, to
nhỏ không đều, nhiều hồng cầu hình bia hình giọt nước, bắt màu không đều,
và hồng cầu có hạt ưa kiềm [21]. Sức bền thẩm thấu hồng cầu tăng (hồng cầu
không tan hoàn toàn ở dd NaCl nồng độ 3.5 ‰ )
- Ferritin máu tăng khi có nhiễm sắt. Chỉ số bão hòa transferrin tăng hơn
80%.
1.4 Điều trị
1.4. 1 Truyền máu
Chỉ định truyền máu cho bệnh nhi thalassemia khi bệnh nhi có bằng
chứng rõ ràng về kết quả điện di hemoglobin máu ở thể nặng và thể trung
gian kết hợp với nồng độ hemoglobin máu và biểu hiện lâm sàng [22]. Có
chẩn đoán chắc chắn và Hb < 7 g/dl qua hai lần xét nghiệm cách hai tuần hay
khi Hb > 7 g/dl, nhưng có: biến dạng mặt, chậm lớn, thấp cân, gãy xương hay
tạo máu ngoài tuỷ. Theo TIF khối hồng cầu được chỉ định tốt nhất cho bệnh
nhi.
Liều lượng truyền máu phụ thuộc vào tuổi, cân nặng, tình trạng sức
khỏe (có hay không dấu hiệu suy tim) và mức độ mong muốn nâng của
ra khỏi cơ thể [21].
Desferrioxamine (DFO) là thuốc đầu tiên sử dụng để thải sắt từ những
năm 1970 cho những bệnh nhi Thalassemia thể nặng. DFO là thuốc thải sắt có
hiệu quả cao với cấu trúc gồm 6 vị trí có khả năng gắn sắt. Thuốc có trọng
lượng phân tử lớn nên không thể hấp thu qua đường ruột mà phải dùng đường
tiêm truyền. Vì thời gian bán thải của DFO trong máu rất nhanh 5 - 10 phỳt
nên con đường tốt nhất để đưa và duy trì DFO vào cơ thể là tiêm dưới da hoặc
bơm máy qua đường tĩnh mạch 8 - 12 giờ trong một ngày đảm bảo ít nhất 6
21
ngày trong tuần cho một đợt điều trị. Liều được khuyến cáo với trẻ em 20 -
40 mg /kg cân nặng/24 giờ. DFO thải sắt hiệu quả ở gan hơn.
Deferiprone (1.2 dimethyl-3hydroypyrid-4-one. L1) là thuốc thải sắt
dược dùng đầu tiên năm 1995 tại Ấn Độ và được dùng phổ biến tại Châu Âu
vào những năm 2000. Thuốc dùng đường uống được sử dụng cho những bệnh
nhi có hiệu quả thấp với DFO. Thuốc được hấp thu nhanh chóng, đạt nồng độ
tối đa sau 45 đến 60 phút và được thải trừ hoàn toàn qua thận. Điều trị bằng
L1 với liều 75mg/kg /24 giờ chia làm 3 lần, mỗi lần cách nhau 8 giờ sẽ làm
tăng hiệu quả điều trị của thuốc. Theo Herhko. Deferipron thải sắt hiệu quả ở
tim hơn dự nó chỉ có 2 vị trí gắn sắt. Có thể kết hợp hai loại: DFO và Kelfer
làm tăng hiệu quả thải sắt.
ICL 670 (deferasirox) là thuốc thải sắt được sản xuất bởi Novartis.
Thuốc dùng qua đường uống với liều 20-40mg/kg/24 giờ sẽ giảm đuợc lượng
sắt ứ đọng trong gan tương đương với việc dùng DFO 40mg/kg/24 giờ.
Ưu điểm của ICL 670 là chỉ uống một lần duy nhất trong ngày với liều
trên, tuy nhiên đây là loại thuốc rất đắt tiền nên chưa được sử dụng ở Việt
Nam.
1.4.3 Cắt lách
Chỉ định cắt lách [5]:
- Nhu cầu truyền máu hàng năm tăng > 1,5 lần (trên 300mg/kg/năm)
- Lỏch quá to gây đau hạ sườn trái chèn ép dạ dầy, có nguy cơ vỡ
truyền trước hôn nhân thất bại, đặc biệt cho các gia đình có tiền sử có con đầu
bị beta thalassemia thể nặng, giảm thiểu tỷ lệ sinh con mắc bệnh beta
thalassemia.
23
CHƯƠNG 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm tất cả các bệnh nhân Thalassemia thể nặng
và thể trung gian điều trị tại khoa Huyết học lâm sàng bệnh viện Trẻ em Hải
Phòng trong thời gian từ 01/07/2009 đến 31/08/2010.
2.1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán Thalassemia
* Lâm sàng:
Có đầy đủ các triệu chứng thiếu máu tan máu mạn tính.
* Xét nghiệm:
Thay đổi thành phần Hb đặc thù theo từng thể bệnh: điện di Hb có bất
thường [26]:
- β-thal thể nặng: HbF tăng, HbA
1
giảm hoặc bằng không, HbA
2
bình
thường hoặc tăng.
β
0
-thal: HbA
1
bằng không, HbF tăng rất cao > 90%, HbA
2
> 3,5%
β
cứu thống nhất.
24
2.2.2. Nội dung nghiên cứu.
* Thực trạng bệnh thalassemia ở bệnh viện trẻ em Hải Phòng.
• Mức độ thường gặp của bệnh.
• Tuổi.
• Giới.
• Các thể bệnh.
• Phân bố bệnh theo địa bàn cư trú.
• Tiền sử gia đình.
• Chẩn đoán lúc vào viện.
• Phả hệ.
* Thực trạng điều trị.
• Tuổi khởi phát bệnh và tuổi bắt đầu được truyền máu.
• Hb trung bình /năm trước truyền máu.
• Hb trung bình/ năm sau truyền máu.
• Khoảng cách trung bình giữa 2 lần truyền máu.
• Số lần truyền máu trong một năm.
• Loại chế phẩm truyền.
• Lượng khối hồng cầu trung bình/ kg /năm.
• Thải sắt.
• Cắt lách.
* Kết quả điều trị.
• Chậm phát triển thể chất.
• Chậm phát triển tuổi xương.
• Loãng xương. gãy xương.
• Biến dạng xương mặt.
• Lách to.
• Gan to.
25