A. LờI Mở ĐầU:
Trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập và mở cữa, đất nớc có nhiều cơ
hội tiếp cận với nền kinh tế ngoại nhập, cũng nh phải đối đầu với những thách
thức và khó khăn, sự gia nhập của các tổ chức kinh tế nớc ngoài vào trong nớc
đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách quản lý và điều hành nhiều ngành kinh tế
làm thế nào chúng ta có thể cạnh tranh lành mạnh với các tổ chức kinh tế nớc
ngoài, hạn chế những khó khăn, tiếp cận tốt các cơ hội.
Khi gia nhập WTO, ngành ngân hàng là một trong những ngành mở củă đầu
tiên, đòi hỏi phải có những đổi mới trong toàn ngành thì vai trò quản lý của
ngân hàng trung ơng là rất quan trọng cần đợc quan tâm hơn bao giờ hết. Khác
với các tổ chức tài chính thông thờng là hoạt động với mục đích lợi nhuận thì
NHTW hoạt động chủ yếu với mục đích điều tiết ở tầm vĩ mô cho nền kinh tế,
đa ra những chính sách tiền tệ và các công cụ làm ổn định thị trờng tiền tệ tạo
điều kiện phát triển cho nền kinh tế, đảm bảo sự ổn định của toàn hệ thống ngân
hàng bằng việc quản lý giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng thơng mại và các
tổ chức tín dụng. Với vai trò là ngới cung ứng tiền cho nền kinh tế cũng là ngời
hoạch định chính sách tiền tệ quốc gia, trong giai đoạn đầu của hội nhập
NHTW đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự đổi mới các chính sách quản lý
hệ thống tài chính quốc gia. Vì thế tìm hiểu về vai trò quản lý của NHTW giai
đoạn này là rất cần thiết. Chúng ta có thể nắm bắt đợc những thay đổi ở tầm vĩ
mô của toàn bộ hệ thống tài chính trong giai đoạn hội nhập
Hiểu biết của em về ngân hàng trung ơng còn rất hạn chế vì vậy em chọn đề tài
này mong rằng mình có thể hiểu đợc sâu hơn về NHTW.
Em xin cảm ơn các thầy cô đã giúp em hoàn thành xong đề tài này!
1
1
B. Nội dung:
Phần I: Tổng quan về vai trò điều tiết của Ngân hàng
trung ơng (NHTW)
1.1Ngân hàng trung ơng
1.1.1. Sơ lợc sự ra đời của NHTW
khắp Thế giới ra đời, củng cố vai trò quan trọng của thiết chế NHTW trong điều
tiết vận hành và phát triển kinh tế. Điều quan trọng trong giai đoạn 30 năm này
là sự nhận thức về vai trò điều hành tiền tệ củng nh ảnh hởng của nó tới nền
kinh tế. Ngay trong chiến tranh thế giới thứ 2, hầu nh tất cả các NHTW đều cổ
phần t nhân, vốn của Nhà nớc nếu có thì củng chỉ chiếm một phần nhỏ và thờng
không đáng kể. Nghĩa là quyền phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền tệ, trung
tâm thanh toán chuyển nhợng bừ trừ, đại diện cho chính phủ trong và ngoài nớc
vẫn nằm trong tay t nhân. Đó là điều nguy hiểm, vì nó làm cho Chính phủ
không thể bảo đảm việc điều tiết cung tiền tệ hoàn toàn theo ý muốn vào mọi
lúc, và hậu quả là khó đảm bảo nền kinh tế vận động và phát triển đúng h ớng.
Do đó, sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Các nhà nớc lần lợt quốc hữu hoá các
NHTW, đa NHTW thuộc về sở hữu công cộng. Đây là giai đoạn bắt đầu của
NHTW hiện đại.
Năm 1946 Hoa Kỳ quốc hữu hoá hệ thống dữ trữ Liên bang.
Năm 1946 nớc Anh quốc hữu hoá NH Anh.
Năm 1946 Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà quốc hữu hoá chi nhánh
NH phát triển Liên bang Đông Dơng tại Hà Nội.
Từ thời điểm đó, NHTW trở thành NH mẹ của toàn bộ các NH còn lại trong
mỗi lãnh thổ, với các đặc điểm chính sau:
- NHTW là một định chế công cộng, có nhiệm vụ in tiền giấy và phát hành
tiền, là chủ NH của các NH còn lại và Chính phủ. NHTW quản lý và
3
3
điều tiết những vấn đề vĩ mô nền kinh tế. Không tiếp xúc trực tiếp với
nhân dân
- Những NH còn lại hợp thành hệ thống NH trung gian. ở một số nớc NH
trung gian còn đợc gọi là NH thành viên hay NHTM.
Ngày nay tất cả các quốc gia trên Thế giới đều có một NHTW phơng thức tổ
chức và hoạt động của mỗi NHTW có thể khác nhau khi so sánh NHTW này
với NHTW khác. Do đặc điểm tổ chức và mức độ phát triển của mỗi nền kinh
+NHTW là trung tâm thanh toán chuyển nhợng, bù trừ của các NH trung
gian: Vì tất cả các NH thơng mại và tổ chức Tài chính trong nớc đều phải
mở tài khoản và ký quỹ tại NHTW nên NH này hoàn toàn thực hiện vai trò
điều tiết thanh toán giữa các NH thơng mại. Vai trò này giúp cho NHTW
một mặt có thể theo giỏi kiểm soát và quản lý hoạt động của toàn bộ hệ
thống tài chính trong nớc. Mặt khác có thể quản lý lợng tín dụng ra vào
trong hệ thống Tài chính vào những thời điểm nhất định. Thông qua đó
NHTW kiểm soát đợc khối lợng tiền cung ứng bởi các NH thơng mại và tổ
chức Tài chính trong nền kinh tế.
+NHTW là NH quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống NH trung gian: Dữ trữ
bắt buộc là tiền mặt và tỷ lệ dữ trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tiền mặt/ tổng
số tiền mặt do nhân dân gửi vào, mà các NH thành viên phải lu lại tại kho
tiền mặt của NH hoặc ký gửi tại NHTW. Từ thế kỷ XIX trở về trớc tỷ lệ dữ
trữ tối thiểu là do mỗi các NH thơng mại va tổ chức tài chính tự xác định.
Đến đầu thế kỷ XX và đặc biệt là sau chiến tranh Thế giới th 2 các NHTW
dần dần quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc tối thiểu. Cho các NH thành viên. Khi
NHTW quyết định thay đổi dữ trữ bắt buộc, nó ảnh hởng lớn đến việc thắt
lại hay nới lỏng cung ứng tiền tệ của hệ thống NH trung gian, tức là cung
ứng tiền trong nền kinh tế. Với vai trò quản lý dữ trữ bắt buộc, NHTW có
công cụ thứ 2 để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, là việc quyết định tỷ lệ dữ trữ
bắt buộc.
5
5
+ NHTW là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống NH trung gian.
Không có NH trung gian hoặc tổ chức tín dụng nào dám đảm bảo rằng trong
lịch sử hoạt động của mình cha hề có lúc kẹt tiền mặt và có lúc dễ bị vỡ nợ
vì những đợt rút tiền ồ ạt của nhân dân. Vì thế khi NH trung gian không có
chổ nào khác cho vay không thu hồi cho vay về kịp. Thì nó phải đến NH
trung ơng vay tiền nh cứu cánh cho vay cuối cùng. NHTW cho NH trung
gian vay với phơng thức cho vay chiết khấu, lãi suất của sự cho vay này là
đầu bằng tác động vào tiền tệ. Mối quan hệ này đã làmc cho những biến
động về tiền tệ đợc gọi là chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối
lợng tiền trong nền kinh tế để phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn tài
nguyên nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trởng, cân đối nền kinh tế, trên cơ
sở ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ thao nghĩa hẹp là chính sách đảm bảo sao cho khối l-
ợng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tơng ứng với mc tăng trởng kinh
tế và chỉ số lạm phát (nếu có) nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng thể các biện pháp của nhà nớc pháp
quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phơng tiện thanh toán cho nền kinh tế,
trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc tế. Chính sách tiền tệ của
NHTW là tổng thể tất cả các biện pháp, công cụ ma NHTW sử dụng nhằm
điều tiết khối lợng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ, góp phần đạt đợc các
mục tiêu của chính sách kinh tế.
Dù quan niệm chính sách tiền tệ theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm
mục tiêu ổn định giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế,
chính sách tiền tệ là tổng thể của các chính sách kinh tế của Nhà nớc để thực
hiện vai trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, ở những nớc mà NHTW trực
thuộc Chính phủ thì sự phân biệt chính sách tiền tệ của NHTW với chính
7
7
sách tiền tệ quốc gia không có ý nghĩa gì. Trong trờng hợp này chính sách
tiền tệ mà NHTW thực hiện là chính sách tiền tệ quốc gia.
Chính sách tiền tệ luôn hớng vào việc thay đổi lợng tiền cung ứng nên chủ
thể nào thực hiện chức năng phát hành tiền và điều hoà lu thông tiền tệ thì
chủ thể đó phải trực tiếp vạch ra và thực thi chính sách tiền tệ. Chủ thể đó
không ai khác ngoài NHTW.
- Các công cụ của chính sách tiền tệ.
Đảm bảo sự cạnh tranh giữa các NH vì nó áp dụng không phân biệt mọi
NH trong toàn bộ hệ thống NH.
Đảm bảo khả năng thanh toán cho NHTM , giúp NHTM tránh đợc rủi ro
do mất khả năng thanh toán.
Nhợc điểm:
Mặc dù có thể có những thay đổi trong cung ứng tiền tệ băng những thay
đổi nhỏ trong DTBB nhng lại khả tốn kém về chi phí quản lý
Việc tăng DTBB có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối
với một NH có dữ trữ vợt mức thấp
Việc không ngừng thay đổi tỷ lệ DTBB củng gây ra tình trạng kém ổn
định cho các NH và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản cho các
NH đó khó khăn hơn
+ Công cụ nghiệp vụ thị trờng mở.
Nghiệp vụ thị trờng mở là hoạt động của NHTW mua, bán giấy tờ có giá
ngắn hạn ( Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi...). Trên
thị trờng, điều hoà cung _ cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hởng đến khối dữ
trữ của các NHTM từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các
NHTM dẩn đến làm tăng hay giảm các khối lợng tiền tệ bằng cách bán các
loại giấy tờ có giá, NHTW có thể thu hẹp tín dụng, giảm khối lợng tiền tệ
theo ý muốn để ngăn chặn lạm phát. ngợc lại, khi NHTW mua các loại giấy
9
9
tờ có giá ngắn hạn, tăng khối lợng tiền tệ, mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu t
và tăng trởng kinh tế, khả năng thành khoản của các NHTM.
Ưu điểm:
NHTW có thể chủ động can thiệp vào thị trờng tiền tệ từ đó tác động trực
tiếp vào khả năng cung ứng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
Độ linh hoạt và chính xác cao, có thể sử dụng ở bất kỳ mực độ nào, mong
muốn mức thay đổi của dữ trữ hoặc cơ số tiền tệ dẫu lớn hay nhỏ thế nào,
NHTW cũng có thể thực hiện đợc bằng cách mua hoặc bán một khối lợng
Thông qua cơ chế tái cấp vốn chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay cầm cố
chng từ có giá...) của NHTW đối với các tổ chức tín dụng. NHTW thực hiện
quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế. Cơ chế
này đợc thựcn hiện theo nguyên tắclà trong điều hành chính sách lãi suất,
NHTW chỉ công bố mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết
khấu hoặc cho vay cầm cố chng từ có giad của mình đối với các tổ chức tín
dụng. Các mức lãi suíât tiền gửi và cho vay cụ thể theo từng thời hạn, từng
đối tợng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế sẽ do tổ chức tín dụng
ấn định, dụa trên cơ sỡ cung cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị truờng. Khi
muốn điều chinh rlãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối với nền kinh
tế, phù hợp ví mục tiêucủa chính sách tiền tệ tng giai đoạn. NHTW sẽ thực
hiện thông qua việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu của mình đối với các tổ
chức tín dụng. Từ đó tác động đến lãi suất thị trờng tiền tệ liên ngân hàng.
Và cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối
với các chủ thể trong nền kinh tế.
Ưu điểm: Nhờ công cụ này NHTW là ngòi co vay cuối cùng, kiểm tra chất
lợng tín dụng của các NHTM, bơm tiền ra lu thông theo mức độ dã đợc
khống chế để kìm chế lạm phát hoặc kích thích tăng trởng kinh tế. Đối với
các NHTM, với t cách là ngời đi vay để cho vay, khi vốn khả dụng bị đe doạ
thì NHTW là chổ dựa, là cứu tinh của họ. Bởi vì, với số tiền NHTM cung
11
11
ứng họ có khả năng điều tiết đợc vốn khả dụng, phục hồi khả năng sẵn sàng
thanh toán.
Nhợc điểm: NHTW không thể nắm chắc đợc kết quả của sự điều tiết.
Trong trờng hợp này, quyền lực của NHTW và NHTM hầu nh ngang nhau.
NHTWcó quyền cho vay và đẻ khuyến khích vay, họ hạ lãi suất tái cấp vốn
xuống, nhng NHTM lại có quyền quyết định là có vay hay không và nếu
NHTM không vay thì mục đích công cụ này không thực hiện đợc.
Thứ hai: Cơ chế điều hành trực tiếp:
Lúc này NHTW phải theo dõi hoạt động cho vay của các NHTM, nếu
NHTM cho vay vợt quá hạn mức tín dụng quy định sẻ bị xử phạt.
Ưu điểm:
Hạn mức tín dụng là một công cụ trực tiếp điều tiết lợng tiền trong lu thông.
Bằng việc quy định hạn mức tín dụng, NHTW có thể kiểm soát chặt chẽ l-
ợng tiền cung ứng. Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phơng
tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao. Khi đó nó đợc NHTW sử dụng
nếu các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu quả .
Nhợc điểm:
Tuy nhiên kiểm soát tín dụng còn nhiều khiếm khuyết. Vì thế hiện nay ở các
nớc phát triển và đang phát triển đang từ bỏ cách kiểm soát này để chuyển
sang kiểm soát tổng khối lợng tiền cung ứng. Sử dụng công cụ hạn mức tín
dụng có một số bất lợi sau:
Hạn mức tín dụng có thể làm cho lãi suất tăng lên, bởi vì cung về vốn bị
giới hạn không thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Hạn mức tín dụng có xu hớng làm giảm cạnh tranh giữa các NHTM bời
vì một khi đã cho vay hết hạn mức tín dụng thì NH đó không còn muốn huy
động vốn nữa, nều huy động thêm sẽ gây đọng vốn và thiệt hại cho NH
13
13
Hạn mức tín dụng có thể làm sai lệch cơ cấu đầu t của các NHTM, ảnh h-
ởng đến cơ cấu của nền kinh tế.
Khi thị trờng tiền tệ hoạt động cha có hiệu quả thì hạn mức tín dụng có
thể làm cho các khoản tín dụng đợc cấp ra nhỏ hơn so với tổng hạn mức tín
dụng đã đợc xác định từ trớc. Lý do mà các NH có thể huy động nhiều vốn
thì việc cho vay đã bị hạn chế trong khi các NH không có khả năng huy
động vốn thì sẻ cho vay ít hơn hạn mức đã phân bổ. Điều này nguy hiểm
hơn là sẻ phát sinh các tổ chức tài chính mới thực hiện nghiệp vụ NH ngoài
phạm vi kiểm soát của NHTW. Kết quả cuối cùng là làm cho chính sách tiền
tệ dựa trên hạn mức tín dụng mất đi hiệu lực của nó.