BÌNH LUẬN về NGUYÊN NHÂN lạm PHÁT ở VIỆT NAM và VAI TRÒ của CHÍNH SÁCH TIỀN tệ GIAI đoạn 1 2007 9 2011 - Pdf 30


TIỂU LUẬN

BÌNH LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ VAI
TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 1/2007- 9/2011. Lạm phát là một căn bệnh tiềm ẩn đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường và
nó xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng dấu hiệu mất cân đối giữa cung – cầu hàng hóa,
mất cân đối giữa cung – cầu tiền tệ.Mỗi lần xuất hiện mang theo một sức mạnh tàn phá
tiềm ẩn làm rối loạn nền kinh tế, làm giảm mứ
c sống của người dân và ở một mức nào đó
thì nó có thể gây rối loạn chính trị xã hội. Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao
sẽ dẫn đến sụt giảm tiết kiệm, sụp đổ đầu tư, các nguồn vốn trong nước sẽ chảy ra nước
ngoài. Ngoài ra, lạm phát sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, mất khả năng thực
hi
ện những kế hoạch dài hạn của quốc gia và cao điểm của nó tạo nên sự căng thẳng về
chính trị xã hội…
Trong bối cảnh hiện nay của nước ta,khi tình hình lạm phát ngày càng leo thang và vào

i.
IV. Cơ sở lý luận

1./ Lạm phát:

Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng trong một thời gian dài.
Cũng như M. Friedman đã nói : nạn lạm phát luôn luôn và bất cứ đâu cũng là hiện tượng
của tiền tệ.
2./Chính sách tiền tệ:

1. Khái niệm: Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng hòa các phương thức mà NHNN sử dụng
nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội đất nước
trong thời kỳ nhất định.
Như vậy, với các công cụ trong tay, NHNN có thể chủ động tạo ra sự thay đổi trong cung
ứng tiền (mở rộng hay thắt chặt), qua đó tác động đến các biến số vĩ mô nh
ằm đạt được
các mục tiêu đã đề ra.
Trong đó có hai chính sách chủ yếu:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: cung ứng thêm tiền,khuyến khích đầu tư, mở rộng sản
xuất , chống suy thoái.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: giảm cung ứng tiền nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát
triển quá nóng của nền kinh tế , kiềm chế lạm phát.

2. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ:
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ rất đa dạng như kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả,
tạo công ăn việc làm (giảm tỷ lệ thất nghiệp), tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài
chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái
Do lạm phát cao có tác động xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong khi đó nguyên nhân
lạm phát lại là tiền tệ. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước, kiềm chế lạm phát, ổn định giá
cả là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu dài hạn của CSTT. Tùy vào tình hình kinh tế của mỗi


Từ năm 2007 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ
công ở châu Âu, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng có những diễn biến phức tạp;
sau những khó khăn về kinh tế năm 2008, 2009, bước sang năm 2010 nền kinh tế có dấu
hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổi lên,
đòi hỏi
Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu giải quyết như: tỷ lệ lạm
phát gia tăng; lãi suất cao; tiền Việt Nam mất giá so với đô la Mỹ; thâm hụt ngân sách
vẫn ở mức cao; hiệu quả của đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có
xu hướng chậm lại…trong đó nhức nhối nhất vẫn là vấn đề lạm phát.
L
ạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực
hay các đối thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự. Ở các nước này,
nhìn chung mức lạm phát luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP , trong khi từ năm 2007
đến nay, lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP. Cá biệt năm 2008 lên đến
23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở m
ức 11,75%, gấp gần 2 lần mức tăng
GDP; và 9 tháng đầu năm 2011 lạm phát đã 2 con số.
Biểu đồ 3: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước mới nổi và đang phát triển, các
nước châu Á đang phát triển và Việt Nam (bình quân năm) Năm 2007

Năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với
mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%;
Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản:
0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn. Quý I/08 lạm phát của Việt Nam đạt
9,19%, vẫn cao hơn so với mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70% so với
mức tăng của cả n

những yếu tố thế giới thì còn những nguyên nhân nào khác?

Các yếu tố nội tại ở Việt Nam:
Thứ nhất: Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn c
ầu gia tăng đã tác
động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ như
xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu - là những nguyên nhiên vật liệu đầu vào
chính của sản xuất.
đầu năm 2007 đến hết Quý I/08 giá xăng dầu đã phải điều chỉnh tăng 4 lần, tính chung
giá xăng dầu đã tăng tới 38%, giá thép tăng 91%, giá điện tăng 7,6%; giá than tăng 30%;
giá xi măng tăng 15%; giá phân bón tăng 58%.
Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: việc giá lương thực, thự
c phẩm thế giới
tăng cao đã khiến giá gạo xuất khẩu và giá một số mặt hàng thực phẩm xuất khẩu khác
như thuỷ hải sản gia tăng cộng với chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá lương thực, thực
phẩm trong nước tăng cao ở mức 18,92% năm 2007 và 14,45% trong QI/2008, cao gấp 5
lần so với mức tăng 4,18% của quý I/2007, trong khi nhóm này có quyền số 42,85%, lớn
nhất trong rổ
hàng hoá CPI, có thể nói đây là nguyên nhân chủ yếu tác động làm CPI tăng
mạnh.
Thứ ba: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ 2001-2006
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng cao trong suốt
năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008, đó là nguyên nhân rất quan trong gây sức ép rất lớn
làm gia tăng lạm phát trong thời gian qua.
Thứ tư: Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: Năm 2007 luồng v
ốn
FDI tăng 20,3 tỷ USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so với mức 10,2 tỷ USD của năm
2006, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăng mạnh mẽ khoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần
con số của năm 2006.
CSTT:

với cho vay đầu tư chứng khoán từ 150% lên 250% theo Quyết định 03 ngày 1/2/2008
của NHNN.

Tỷ giá linh hoạt với việc nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% vào đầu năm và tiế
p
tục lên 0,75% vào ngày 12/12/2007. Biên độ dao động không đáng kể chưa đủ thích ứng
với các tác động bên ngoài.
Trước bối cảnh Việt Nam bắt đầu trở thành thành viên của WTO nên lần đầu tiên phải
đối mặt với tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng mạnh mẽ, trong khi kinh
nghiệm thực tế chưa có nhiều nên việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN có phần
chưa linh hoạt, thể hiện việ
c NHNN "đã thực hiện đồng thời nhiều giải pháp mạnh vào
cùng một thời điểm, nhưng lại thiếu đồng bộ với các biện pháp khác, tuy có góp phần
ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trên thị trường tiền tệ, nhưng cũng gây khó khăn cho
NHTM, tạo nên việc chạy đua nâng lãi suất huy động vốn, gây khó khăn cho sản xuất
kinh doanh và xuất khẩu, ảnh hưởng đến tâm lý xã h
ội" .
Năm 2008:

Cùng với sự bất ổn của thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng
diễn biến hết sức phức tạp. Giá dầu thô tăng cao cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng
tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hóa Việt Nam tăng giá cao ở mức đáng lo ngại. So
với tháng 12/2007 giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại.
Trong đó đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm : nhóm lương
thực tăng 59,44% ; nhóm thực phẩm tăng 21,83% đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình
quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,86% /tháng . Đến 6 tháng cuối năm tuy có tăng chậm
nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kì của nhiều năm trước ( 2,14%).

( 3 tháng đầu năm): Tỷ giá liên tục giảm dưới mức sàn ( trên thị trường LNH
giảm từ 16.112 xuống 15.960, trên thị trường tự do dao động từ 15.700 – 16.000 ). Có
nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ việc Chính Phủ và NHNN đang đẩy
mạnh việc kiềm chế lạm phát, thực hiện CSTT thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8.25 lên
8.75%. NHNN thực hiện không mua USD nhằm tránh đưa thêm tiền ra lưu thông , tăng
biên độ tỷ giá USD/VNĐ
từ 0.75% lên 1% trong ngày 10/03/2008.
Giai đoạn 2
( 26/3- 16/7): Tỷ giá tăng với tốc độ chống mặt,đỉnh điểm lên đến 19.400 vào
ngày 18/6 cách hơm 2.600 đồng so với mức trần, tạo nên cơn sốt USD trên cả hai thị
trường LNH và thị trường tự do. Ngày 27/6 NHNN đã tăng biên độ dao động tỷ giá từ
1% lên 2%. Nguyên nhân từ phía CSTT là do quyết định số 09/2008 QĐ-NHNN không
cho phép doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ để chiết khấu bộ chứng từ xuất kh
ẩu , vay
thực hiện dự án xuất khẩu. Nhằm tránh việc vay rồi bán lại trên thị trường .
Giai đoạn 3
(17/07-15/10) Giảm mạnh và dần đi vào ổn định nhờ các biện pháp kịp thời
và hiệu quả của NHNN. Tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng xuống còn 16.400 đồng.
Nhận thấy tình trạng sốt USD ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử NHNN công bố
dự trữ ngoại hối quốc gia 20.7 tỷ USD nhằm bác bỏ tin đồn USD đang khan hiếm.
NHNN cũng ban hành một loạt các chính sách (CS) nhằm bình ổn th
ị trường ngoại tệ như
kiểm soát chặt các điểm thu đổi ngoại tệ ( cấm buôn bán ngoại tệ trên thi trường tự do
không đăng kí với NHTM). Cấm buốn bán USD với ngoại tệ khác nhằm lách biên độ.
Cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng. Bán ngoại tệ can thiệp thị trường
thông qua các NHTM lớn.
Giai đoạn 4
(những tháng cuối năm): Tỷ giá USD tăng trở lại cao nhất là 17.440 đồng sau
khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 07/11/2008. Cầu USD trên thị
trường tự do tăng cao bởi NHNN không cho NK vàng, tình trạng nhập lậu gia tăng dẫn


Giai đoạn 6 tháng đầu năm.:

Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông thì việc sử dụng các công cụ chính sách
tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Sự can
thiệp quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy được chính kiến cũng như sự
quyết tâm của toàn hệ thống ngân hàng trong việc kiềm chế lạm phát. Và kết quả là lạm
phát đ
ã bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm)
trong tháng 5 xuống các mức thấp hơn trong quý và thậm chí âm trong các tháng cuối
năm. Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%.Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng thực
sự các NHTM đã phải trải qua những tháng ngày (đặc biệt là trong tháng 2, tháng 3) cực
kỳ khó khăn về thanh khoản và luôn nằm trong tình trạng “nguy cơ”. Chiến dịch lãi suất
củ
a các ngân hàng giai đoạn này đã tạo nên một dấu ấn khá sâu đậm. Có lẽ mãi sau này
người ta cũng không thể quên được cảnh tượng “tháo chạy” của khách hàng khỏi ngân
hàng có lãi suất thấp và dòng người xếp hàng bất chấp thời gian trước những ngân hàng
có lãi suất cao để gửi tiền vào. Chỉ trong khoảng thời gian vài ngày, có ngân hàng đẩy lãi
suất tiền gửi từ 15%/năm lên 19%/năm, lãi suất cho vay được đẩy lên đúng với lãi suất
tố
i đa 21%/năm ở hầu hết các ngân hàng . Lãi suất cho vay rất cao đồng nghĩa với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ khó nghiệp sẽ đẩy có khả năng vay vốn kinh doanh. Giá cả
cũng chưa chắc xuống thấp được vì dù đồng tiền tăng giá vì lượng tiền lưu thông giảm
xuống nhưng chi phí vốn của các doanh giá lên (lạm phát chi phí đẩy).
Giai đoạn từ tháng 6 đến cuối năm 2008:

Chính phủ đã có chủ trương giảm tăng trưởng, tập trung chống lạm phát.
Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới
lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức quan trọng. LSCB đã hạ dần
từ đỉnh 14% xuống 13% (từ 21/10/08), 12% (từ 05/11/08) và liên tiếp được điều chỉnh tới

hối có những diễn biến không thuận lợi . Do áp lực từ những cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu , lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Mặt khác do chính sách hạ thấp lãi suất VNĐ nên các DN có xu hướng chuyển từ vay
USD sang vay VNĐ rồi dùng tiền vay mua USD, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng
mạnh, cung- cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.
Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ NHNN đã tăng cường nhiều giải pháp
như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VNĐ từ 3% lên 5% so với tỷ giá bình
quân LNH. Cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường
ngoại tệ như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn
định sản xuất và đời sống , điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ NH. Các biện pháp
chấn chỉnh ngoại hối cũng được tăng cường. Đặt biệt áp dụng các biện pháp nhằm hạn
chế tâm lí găm giữ ngoại tệ c
ủa DN và dân cư , đẩy mạnh công tác truyên truyền và công
bố công khai rộng rãi về tình hình ngoại hối , tỷ giá. Yêu cầu các NHTM NN giảm lãi
suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ. Đề nghị Hiệp hội Ngân Hàng yêu cầu các
NHTM như các NHTM NN kể từ ngày 8/6/2009.
Các biện pháp trên ít nhiều cũng đã góp phần giảm bớt căng thẳng cung- cầu ngoại tệ.
Tuy nhiên thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện mà vẫn tiếp tục gia tăng (
theo số liệu của tổng cục hải quan 11 tháng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước giảm
14,7% so với cùng kì năm 2008). Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhưng vẫn không đáp
ứng được nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp biểu hiện ở lãi suất VNĐ tăng cao và thanh
khoản yếu của các NH. Do thị trường vẫn thiếu vốn hay do các DN làm ăn không hiệu
quả và sự thiếu thận trọng của các NH khi cho vay chấp nhận rủi ro cao khiến nợ xấu
ngày càng tăng và thanh khoản yếu đi.
Sự khan hiếm về mặt lý thuyết đã làm cho VNĐ lên giá. Nhưng mục tiêu chính sách điều
tiết vĩ mô thì là lãi suất lại thấp , kích thích nhu cầu dùng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng
, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền đồng, gây áp lực của NHNN phải cung ứng thêm tiền
đồng. Điều này tiếp tục gây áp lực giảm giá VND .Đồng thời sự biến động của giá vàng
cũng gây áp lực lên tỷ giá.
Trước tình này ngày 26/11 NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá nâng tỷ giá công bố lên

độ lịch sử, Việt Nam luôn có tỷ lệ lạm phát cao hơn các nước láng
giềng. Ví dụ, lạm phát trung bình ở Việt Nam trong 10 năm vừa rồi là khoảng 8,8%, so
với con số 2,7% của Thái Lan và 5,1% của Philippines.
"Ở một mức độ nào đó, điều này có thể cho thấy mục tiêu chính sách của Việt Nam có sự
thiên vị cố hữu, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao hơn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Đến khi phả
i đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao hơn dự kiến, Chính phủ lại phải viện đến các
cơ chế hành chính như kiểm soát giá cả, lập quỹ bình ổn giá" - Ngân hàng Thế giới nhận
định.
CSTT

Với mục tiêu duy trình ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát , tăng trưởng kinh tế bền
vững trong năm 2010 . Trước tình hình kinh tế thế giới đầy biến động , NHNN quyết
định điều chỉnh lãi suất quy định lên 1%. Cụ thể lãi suất cơ bản 8%, lãi suất tái cấp vốn
8%, lãi suất chiết khấu 6%. Áp dụng từ ngày 1/12/2009.
Trong 10 tháng đầu năm lãi suất cơ bản và lãi suất tái c
ấp vốn ổn định ở mức 8% . Điều
chỉnh lãi suất huy động và cho vay giảm dần.(đến cuối tháng 10 , lãi suất huy động VND
10,44% /năm , cho vay 13,18%/năm. Hai tháng cuối năm NHNN tiếp tục tăng lãi suất cơ
bản và lãi suất tái cấp vốn thêm 1% . Kết hợp điều hành chặt chẽ lượng tiền cung ứng ,
quy định trần lãi suất huy động VND 14% để ổn định thị trường đã tăng lãi suất thị
trường và giảm cầu tín dụng.
Điều chỉnh tỷ giá - mua bán ngoại tệ của các TCTD tăng 5,52% , thực hiện các biện pháp
ổn định thị trường tiền tệ. -> thị trường ngoại tệ và tỷ giá tương đối ổn định trong 9 tháng
đầu năm, từ tháng 10 tỷ giá thị trường tăng phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô.
Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầu n
ăm. Đóng cửa
sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài , điều hành
xuất nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầu thị trường : ban hành thông tư số 22/2010/TT-
NHNN ngày 29/10/2010 thu hẹp huy động và cho vay bằng vàng -> giá vàng trong nước

như tỷ lệ nghịch vớ
i hiệu quả của các dự án trên. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ
bản như đường xá, cầu cống, sân bay, hải cảng là rất cần thiết để góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn ở Việt Nam hiện nay đó là các dự
án đầu tư công đang dàn trải, không có định hướng quy hoạch cụ thể. Các dự án đ
òi hỏi
đầu tư với lượng vốn lớn nhưng hiệu suất sử dụng thu về thì không nhiều. Điều này tạo ra
một sự mất cân đối trong nền kinh tế, khiến thâm hụt ngân sách của nước ta hàng năm
tăng cao trong khi đó bộ mặt của nền kinh tế không có dấu hiệu cải thiện rõ rệt.
Tốc độ tăng truởng tín dụng cao gấp nhiều lần tă
ng trưởng GDP. Tình trạng Dola
hóa,Vàng hóa tác động tiêu cực đối với lạm phát chưa được chấm dứt. Thực hiện giá thị
trường dồn dập tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn. Giá cả thế giới tăng cao, sự chuyển
dịch của các dòng tiền tạo nên sự cộng hưởng và chia sẽ dòng tiền với thị truờng tiêu
dùng.
CSTT

Với mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát.
Ngày 8/3/2011 , NHNN ban hành quyết định số 379/ QĐ-NHNN theo quyết định này lãi
suất chiết khấu , lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất cho vay qua đêm bằng 12%/năm.
Ngày 9/4/2011 NHNN đã ban hành quyết định số 750/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ
bắt buộc ngoại tệ từ 4% lên 6% đối với các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết số 94/NQ-CP ngày 27/9/2011 và diễn biến thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà
nước Việ
t Nam quyết định điều chỉnh một số mức lãi suất điều hành như sau: Điều chỉnh
tăng lãi suất tái cấp vốn từ 14%/năm lên 15%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh
toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm lên 16%/năm áp dụng từ ngày 10/10/2011. Giảm
lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ củ
a các TCTD tại
NHNN từ 0,1%/năm xuống 0,05%/năm, áp dụng từ kỳ dự trữ bắt buộc tháng 10/2011;

Các CSTT đều có độ trễ về thời gian , vì vậy không thể nôn nóng trong việc điều hành và
thực thi chích sách, l
ại càng không thể hướng đến mục tiêu ngắn hạn.
Trong dài hạn, nền kinh tế thị trường phải được điều hành bằng các CS mang tính thị
trường, không nên lạm dụng các biện pháp hành chính, dễ gây những tác động trái chiều.
Chú trọng phát triển bền vững hệ thống tài chính.
Nâng cao năng lực điều hành của CP. Sự phối hợp giữa các ban ngành và niềm tin, sự kỳ
vọng của người dân.
CP nên thắ
t chặt và kiểm soát mức cung tiền và tín dụng cho từng năm,cho trung và dài
hạn, định lượng cụ thể trong mối tương quan với các mục tiêu về lạm phát, tăng trưởng
GDP thực tế và cán cân thanh toán. Sau khi đã có các chỉ tiêu kế hoạch, CP phải kiên
định theo chỉ tiêu đã dặt ra .
Thắt chặt hoạt động tín dụng là điều tiên quyết, đặc biệt đối với kênh cho vay đầu tư vào
TTCK và BĐS. Cần có những phân định rõ ràng và chi tiết trong việc xét hồ sơ vay vốn,
cần phải linh hoạt trong vấn đề cho vay đối với ngành phi sản xuất. Chẳng hạn đối với
BĐS thương mại thì hạn chế nhưng đối với đầu tư BĐS nhằm phụ
c vụ sản xuất như xây
dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp, mở rộng nhà xưởng …thì không nên quá hạn chế , hoặc
đối với các hoạt độngdịch vụ.
Hiện nay với lãi suất cho vay thực tế trên 20% thì nếu ưu tiên định hướng dòng chảy tín
dụng vào lĩnh vực sản xuất thì các nhà đầu tư cũng không thể vay vì chi phí vốn quá cao.
Bên cạnh đó các NHTM vẫn cho vay vào lĩnh vực phi sản xu
ất nhưng lách luật bằng cách
sửa đổi hồ sơ vay vốn. NHNN cần có những CS khơi thông và kiểm soát dòng chảy tín
dụng này. Triển khai các CS cho vay ưu đãi với ND, các nhà sản xuất, gỡ bỏ các rào cản
để giúp các thành phần này dễ dàng tiếp cận nguồn vốn; tăng cường kiểm soát dư nợ cho
vay đối với các NHTM.
Để các giải pháp hạn chế mức tín dụng đối với các NHTM, NHNN phải có lộ trình dài
hạ

Nâng cao chất lượng dự báo lạm phát, dự báo tác đọng của các yếu tố vĩ mô trong và
ngoài nước. Đánh giá được
độ trễ của CSTT đến lạm phát trong tình hình thực tế của Việt
Nam.
Kết Luận

Qua bài phân tích và bình luận trên, chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của CSTT đối
với việc kiềm chế lạm phát .Một CSTT tốt là một chính sách góp phần tăng tính ổn định
và phát triển bền vững của nền kinh tế trong dài hạn. T rong ngắn hạn nếu có CSTT kịp
thời , phù hợp và linh hoạt thì nó sẽ trở thành một công cụ hữu ích điều tiết nền kinh tế
trước những biến động hằng ngày theo quy luật chung của nó.
Lạm phát ở mức cao là một hiện trạng không thể tránh khỏi đối với một nền kinh tế đang
trên đà phát triển như Việt Nam. Lạm phát giống như con dao hai lưỡi nếu biết cách sử
dụng thì con dao ấy sẽ
là vũ khí sắc bén để giúp Việt Nam hoàn thành mục tiêu phát triển
kinh tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong tương lai gần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status