ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
------ ------
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỂ TÀI:
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên
: Đoàn Trọng Hưởng
Mã sinh viên
:
Lớp
:
Giảng viên hướng dẫn :
Hà Nội, 2012
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................1
2.3. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam những tháng đầu năm 2012......................15
CHƯƠNG III: GIÁI PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM.......................17
3.1. Điều hành chính sách tài chính-tiền tệ chặt chẽ...........................................17
3.2. Tăng cường quản lý nhà nước về giá............................................................17
3.3. Thúc đẩy trên thực tế quá trình tái cấu trúc nền kinh tế............................18
3.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước............................................19
3.5. Chính sách ổn định tỷ giá..............................................................................19
3.6. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu..........................19
3.7. Chống lạm phát bằng cách tác động lên cung..............................................19
KẾT LUẬN...................................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................20
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt, để
thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như
các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề của nền
kinh tế. Tuy nhiên, một yếu tổ nổi cộm nhất của nền kinh tế ảnh hưởng tác động trực
tiếp đến các nhà kinh tế và các doanh nghiệp là lạm phát.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn liền với nền kinh tế thị trường,
lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ.
Lạm phát ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là
giới lao động. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có
những giải pháp kiềm chế lạm phát, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra ở
bất quốc gia hay chế độ xã hội nào. Nét đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh tế khi có
lạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền
ngày càng giảm nhanh.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm,
nghiên cứu và đề xuất phương án chống lạm phát. Chống lạm phát không chỉ là việc
phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất của lạm phát được thể hiện ở tính
chất của sự tăng giá đó: đó là sự tăng giá với tốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá
cao và liên tục từ thời gian này đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù
của lạm phát. Cũng vì vậy, cái gọi là tỷ lệ tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể
nghe trên đài, báo hay vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần
trăm so với tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể chỉ là
sự thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo dài. Chỉ khi
nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới được coi là biểu hiện của
lạm phát cao
1.1.2. Bản chất của lạm phát:
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung nền kinh tế. Như vậy sự
tăng giá của một vài mặt hàng cá biệt nào đó trong ngắn hạn ngoài thị trường thì cũng
không có nghĩa đã có lạm phát. Các nhà kinh tế thường đo lạm phát bằng hai chỉ tiêu
cơ bản là CPI và chỉ số khử lạm phát GDP. Cách tính thứ nhất sẽ dựa trên một rổ
hàng hoá tiêu dùng và giá cả của những hàng hoá trong rổ ở hai thời điểm khác nhau.
Còn cách tính thứ hai thì căn cứ vào toàn bộ khối lượng hàng hoá và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ở hai thời điểm khác nhau thông thường
theo ngôn ngữ thống kê là giá cố định và giá hiện hành. Về cơ bản thì hai cách tính
này này không có sự khác biệt lớn. Phương pháp GDP sẽ tính lạm phát chính xác hơn
theo định nghĩa của lạm phát. Tuy nhiên CPI sẽ có ưu điểm là tính được lạm phát tại
bất kỳ thời điểm nào căn cứ vảo rổ hàng hoá, còn GDP thì chỉ tính được lạm phát của
một năm sau khi có báo cáo về GDP của năm đó.
Như vậy, những thông tin về thước đo lạm phát đến dân chúng hàng ngày
chủ yếu được tính từ phương pháp CPI. Nhưng CPI lại không thể đo lạm phát một
cách chính xác bởi nó bị tác động bởi hai yếu tố gây sai lệch. Những yếu tố gây sai
lệch này chủ yếu đến từ rổ hàng hoá được quy định trước. Sai lệch cơ cấu vì rổ hàng
hoá chậm thay đổi, nó không bao gồm những hàng hoá tiêu dùng mới phát sinh nhưng
được đa số người tiêu dùng sử dụng. Ví dụ khi mọi người đều có điện thoại di động,
Loại lạm phát thứ ba là lạm phát chi phí đẩy. Lạm phát chi phí đẩy là loại lạm
phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanh nghiệp buộc lòng phải nâng cao giá bán
sản phẩm vì những lí do bất lợi. Khác với hai loại lạm phát trên, thì loại lạm phát này
chủ yếu đến từ phía phía cung và nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hiện tượng tăng
chi phí sản xuất không mong đợi từ phía các doanh nghiệp.
1.2.2. Các loại lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10% một năm
- Lạm phát phi mã: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi
hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn
siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những
năm đầu thực hiện cải cách.
Nhìn chung thì lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra
những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá
nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng
ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử
dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch
có giá trị lớn và tích lũy của cải
- Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%
1.3. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế:
1.3.1. Tác động tích cực:
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ tăng
giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ "dầu bôi
trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi
phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này
khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm. Tỷ lệ
1.3.1.2. Đối với lạm phát không dự kiến được
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa
các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên
lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn
người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi
còn người đi vay chịu thiệt hại. Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu
lạm phát nên tác động của nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu
cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là
không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa
phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối
lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ
của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.
CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
2.1. Lạm phát ở Việt Nam năm 2010
2.1.1. Thực trạng:
Năm 2010, lạm phát ở Việt Nam ở mức 11,75%, chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng
12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước lên
11,75% so với năm 2009. Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề
ra ngay từ đầu năm 2010 (khoảng 7%).
Lạm phát tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, mức tăng có độ vênh
lớn, tháng cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn 1,5%. Các tháng từ
tháng 9 đến tháng 11, mức tăng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây.
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%. Tiếp đó là
hàng ăn (16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74). Các ngành Giao thông, hàng hóa
và dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10%. Bưu chính viễn thông là nhóm
duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010. Chỉ số giá vàng tăng
Trong nước, dịch bệnh trong nông nghiệp, bão lũ nặng nề ở miền Trung làm
ảnh hưởng khá lớn đến cung cầu hàng hóa, giá lương thực thực phẩm tăng do việc
chủ động đưa giá lên để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước và nông dân.
Tăng lương cơ bản, tăng chi phí giáo dục, y tế. Do chi tiêu ngân sách và đầu tư công
khá lớn những năm trước đó và cả năm 2010, kết hợp tỷ giá tăng (đặc biệt tỷ giá đôla
Mỹ tăng xấp xỉ 10%), giá vàng tăng 30%, yếu tố tâm lý kỳ vọng lạm phát trong dân
dẫn đến tổng cầu tăng đột biến, làm giá tăng mạnh trong năm 2010…
Trong khi đó, nhiều mặt hàng thuộc diện Nhà nước quản lý cũng được điều
chỉnh lên mức giá mới, đồng loạt áp dụng từ ngày 1/3/2010: giá than bán cho điện
tăng đến 47% tùy loại, giá điện tăng 6,8%, giá nước sạch tại Tp.HCM tăng khoảng
50%. Một tác động khác gây ảnh hưởng lớn đến giá cả và tâm lý người dân, ngay
trước ngày các viên chức trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết kéo dài, trưa 21/2/2010, giá
xăng đột ngột được điều chỉnh tăng khoảng 3,6% cùng lúc dòng xe cộ ùn ùn đổ về các
thành phố. Tiếp theo các diễn biến này, gas, xi măng, sắt thép… cũng kéo nhau tăng
giá.
Thị trường chứng khoán cũng trải qua giai đoạn đi ngang, Vn-Index dao động
trong khoảng hẹp kéo dài từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11, sau đó xuất hiện dấu hiệu
đi lên. Nhưng trước sức nóng của lạm phát tăng cao, đến đầu tháng 11, tín hiệu thắt
chặt lại xuất hiện. Ngày 5/11, các lãi suất chủ chốt được điều chỉnh tăng thêm 100
điểm cơ bản. Cung tiền và tín dụng cũng thu hẹp tốc độ tăng, chốt lại cả năm M2 còn
tăng 23%, tín dụng tăng 27,65% so với cuối năm 2009. Thể hiện trên Vn-Index, từ
giữa tháng 12 đến cuối năm 2010, chỉ số thị trường trong chuỗi giảm điểm liên tiếp.
Trong khi đó, dưới tác động từ giá thế giới, gạo xuất khẩu liên tục lên giá đẩy
mặt bằng giá trong nước lên theo. Cả năm 2010, giá sàn xuất khẩu gạo đã được điều
chỉnh tăng đến 6 lần. Riêng giai đoạn cuối năm, giá gạo tăng bình quân khoảng 3 4%/tháng, kéo dài từ tháng 8 đến những ngày cuối cùng năm dương lịch
Các địa phương cũng không thiếu phần góp trong việc tăng giá CPI giai đoạn
này. Khi mà Nghị định 49/NĐ-CP cho phép điều chỉnh học phí có lộ trình, các tỉnh,
thành phố đã đồng loạt tăng học phí lên rất cao trong tháng 9, dẫn tới nhóm giáo dục
hàng hóa như sữa, sắt thép… cũng điều chỉnh giá bán sau khi tỷ giá được điều chỉnh.
2.1.2.3. Hiệu ứng từ việc tăng lương tối thiểu
Năm 2010, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng khoảng 10-15%, tùy từng
khu vực. Việc tăng lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh
nghiệp và ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu cũng có
thể tạo ra một hiệu ứng tăng giá ăn theo trên thị trường.
2.1.2.4. Lạm phát do yếu tố cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xuất phát từ sự chênh lệch cung cầu làm cho giá hàng hóa
biến động mạnh. Khi nhu cầu tăng cao đột biến trong khi nguồn cung chưa kịp thay
đổi hoặc ngược lại khi nguồn cung giảm xuống cầu vẫn giữ nguyên đều làm cho giá
hàng hóa tăng.
Năm 2009, các gói kích thích kinh tế và việc tăng chi tiêu của chính phủ khiến
nhu cầu một số hàng hóa tăng mạnh. Hiệu ứng từ việc gia tăng nhu cầu này tiếp tục
kéo dài sang năm 2010, gây sức ép lên giá cả nhiều hàng hóa. Ngoài ra, năm 2010
người dân có thể sẽ tăng cường chi tiêu khi triển vọng kinh tế khả quan hơn, tạo ra
một sức cầu lớn hơn đối với nhiều loại hàng hóa.
2.1.2.5. Lạm phát từ nguyên nhân tiền tệ
Năm 2009, chính sách tiền tệ được mở rộng, lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc
được ấn định ở mức thấp. Tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên đến 37.74%, và là mức
khá cao so với trung bình những năm vừa qua. Tăng trưởng cung tiền M2 lên mức
28.7%, mức tăng này thấp hơn so với năm 2006 và 2007, nhưng vẫn khá cao so với
năm 2008 và những năm còn lại trước đó.
Tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao trong năm 2009 đã ảnh hưởng đến lạm
phát trong năm 2010. Chúng ta đều biết lạm phát có quan hệ chặt chẽ với cung tiền,
nhưng thường có độ trễ từ 5 – 7 tháng
2.2. Lạm phát ở Việt Nam năm 2011
2.2.1. Thực trạng:
Nhìn chung, lạm phát ở nước ta trong năm 2011 ở mức khá cao và diễn biến
tháng. Tuy nhiên, lạm phát tháng 12 lại có dấu hiệu nhích lên so với 2 tháng trước đó.
Cụ thể, lạm phát tháng 10 và tháng 11 chỉ là 0,36% và 0,39% nhưng lạm phát tháng
12 lên 0,53%.
Chỉ số giá cả các mặt hàng lương thực thực phẩm, nhà ở, giáo dục và giao
thông tăng mạnh nhất. Tổng cục Thống kê cho biết giá lương thực thực phẩm tăng
22,8%, giá nhà ở 19,7% trong khi các chỉ số giá giao thông và giáo dục tăng 16% và
23%.
Thị trường bất động sản năm 2011 được chứng kiến việc chào bán giảm giá
của nhiều dự án, đặc biệt là đối với phân khúc chung cư cao cấp. Tuy nhiên, tâm lý
của nhà đầu tư cũng như chính sách thắt chặt tín dụng đã không tạo điều kiện thuận
lợi, các giao dịch trên thị trường gần như đóng băng.
Thị trường vàng liên tiếp lập kỷ lục về giá. Đỉnh điểm của cơn sốt giá vàng
phải kể đến ngày 22/8, giá lập kỷ lục 49 triệu đồng/lượng. Năm 2011 cũng ghi nhận
hoạt động thao túng thị trường của giới đầu cơ, điển hình là việc giá vàng SJC
(thương hiệu chiếm hơn 90% thị phần), có lúc đắt hơn thế giới gần 5 triệu
đồng/lượng.
Sau quãng thời gian tăng trưởng quá nóng với 130 tổ chức tín dụng, gần
10.000 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước, hệ thống ngân đã lộ rõ nhiều điểm
yếu nguy hiểm: tỷ trọng sở hữu chéo cao, đạo đức kinh doanh xuống thấp, những
cuộc đua lãi suất không ngừng và có dấu hiệu "sa lầy" vào bất động sản, nợ xấu gia
tăng..
Thị trường chứng khoán 2011 liên tiếp bắt đáy với nhiều cổ phiếu “rẻ hơn giá
mua một mớ rau”, thậm chí giá nhiều cổ phiếu tương đương giá một nửa cốc trà đá.
65 công ty chứng khoán thua lỗ và 71 công ty chứng khoán có lỗ lũy kế. Giá trị vốn
hóa thị trường chỉ còn hơn 20% GDP.
Hàng trăm vụ vỡ nợ tín dụng đen liên tiếp lộ ra ở nhiều địa phương đã khiến
không ít người lao đao, khốn đốn. Không có gì ngạc nhiên khi những "con nợ"
thường gắn với giới bất động sản, ngân hàng và chứng khoán. Tín dụng đen được cho
là gắn với sự tăng trưởng "bong bóng" của bất động sản trong vài năm qua, gắn với
thời tranh tối tranh sáng "tiền tái cấu trúc" của hệ thống ngân hàng và sức chịu đựng
mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nước bằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu
tư toàn xã hội) là một mức quá cao.
2.2.2.2. Tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại diễn ra trong thời
gian dài: Tình trạng này nếu tiếp tục kéo dài gây khó khăn cho việc hoạch định triển
khai chính sách tỷ giá, nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ và quá trình
tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
2.2.2.3. Chính sách ổn định tỷ giá cứng nhắc và có nhiều vi phạm: Việc theo đuổi
chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn tăng cao làm giảm
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc
sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và
xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho một lượng
hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút. Sự lãng phí tham nhũng trong đầu tư công
cũng như sự phân bổ vốn thiệc lệch như trên còn dẫn đến một hệ lụy khác là nhiều
người giàu lên bất thường có nhu cầu chi tiêu các hàng hóa xa xỉ nhập ngoại cộng với
việc định giá cao đồng tiền làm cho tình trạng nhập siêu ngày một căng thẳng hơn.
Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá như trên
đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt thương
mại, thâm hụt ngân sách luôn dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn ở
mức rất cao
2.2.2.4. Lạm phát từ nguyên nhân tiền tệ: Mở rộng tín dụng và đầu tư một cách quá
mức để hy vọng đạt được tăng trưởng kinh tế cao. Vàng được coi là một loại hàng hóa
đặc biệt, giá vàng được coi là một trong những sự kiện đáng chú ý của năm 2011,
theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2011, giá vàng đã tăng 39%. Tỷ giá USD cũng
tăng đến 8,47% so với năm 2010.
Các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương còn kém hiệu quả. Cung ứng
lượng tiền qui ước vượt quá mức mà nền kinh tế đòi hỏi. Chính sách tiền tệ mở rộng
được thực hiện trong thời gian dài, khiến lượng cung tiền tăng cao, làm đồng tiền bị
ép tăng từ 5-10%. Giá nước sinh hoạt ở nhiều đô thị lớn cũng tăng mạnh, như từ ngày
1-1-2012 TP.HCM tiếp tục tăng 10%, còn TP.Hải Phòng tăng khoảng 40%. Đặc biệt,
theo dự thảo thông tư về khung giá nước sạch sinh hoạt do Bộ Tài chính xây dựng
đầu năm 2012, giá nước sạch có thể lên tới 18.000 đồng/m3. Giá thành điện 2012 dự
kiến sẽ là 1.242 đồng mỗi kWh, tăng 4,6% so với 2011... Những làn sóng tăng giá các
hàng thiết yếu nêu trên - vốn chiếm tỷ trọng lớn trong rổ tính CPI của Việt Nam đang và sẽ làm cho mục tiêu an sinh xã hội bị đe dọa, mức sống thực tế của người dân
bị hạ thấp. Hơn nữa, chúng còn gây áp lực tăng lạm phát với mức cao.
Thực tế những tháng đầu năm đang cho thấy khả năng hiện thực hóa mục tiêu
kiềm chế lạm phát năm 2012 xuống còn khoảng 9-9,5% được xác lập bởi những nhân
tố tích cực như nhận thức và quyết tâm chính trị mới từ cấp cao nhất; sự nhất quán
chính sách tài chính-tiền tệ linh hoạt và thận trọng, theo hướng tiếp tục thắt chặt, nâng
cao hiệu quả đầu tư công; đổi mới mô hình và cơ chế phát triển...
CHƯƠNG III – GIẢI PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
3.1. Điều hành chính sách tài chính-tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và linh
hoạt theo tín hiệu thị trường: bảo đảm tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư
nợ tín dụng hàng năm không vượt quá mức khoảng 15%; giảm dần mặt bằng lãi suất
hợp lý; tiếp tục chủ động điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường, không để chênh
lệch 2 giá cao, kéo dài; bảo đảm và giảm chi phí vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho
vay bất động sản và kinh doanh chứng khoán; kiểm soát nợ xấu; phối hợp tốt các cơ
quan, tổ chức có liên quan nhằm giữ vững và đảm bảo cao nhất sự ổn định các thị
trường tài chính- tiền tệ và thị trường bất động sản.
Cùng với đó, giảm sâu hơn bội chi ngân sách; tăng cường tiết kiệm chi thường
xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) các cấp và áp khoán, lượng hóa bắt buộc tiết kiệm
chi phí quản lý, kinh doanh đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN); sắp xếp
mình định ra) và tìm cách giải trình lý do khi muốn tăng giá sao cho hợp lý (kể cả khi
việc tăng giá này không phải do tăng giá nhập, mà do cả các yếu tố khác như tăng chi
phí vận chuyển, tăng mức chiết khấu và lợi nhuận) là có thể hợp pháp bán hàng theo
giá đăng ký đó, mà rất ít khi bị “tuýt còi”. Hơn nữa, giá đăng ký chỉ áp dụng được tại
các đại lý trực thuộc hệ thống của doanh nghiệp, còn các đại lý tư nhân thì không thể
kiểm soát được (do luật cho phép được lấy hàng từ 3 doanh nghiệp khác nhau).
3.3. Thúc đẩy trên thực tế quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo một
chương trình tổng thể, đồng thời, chủ động giảm thiểu các tác động mặt trái của
quá trinh này: kiểm soát chặt chẽ hơn nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích;
phát triển sản xuất thay thế có hiệu quả hàng nhập khẩu để giảm nhập siêu và cải
thiện cán cân thanh toán; tiếp tục khuyến khích thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân
các nguồn vốn ODA và FDI trong các lĩnh vực mục tiêu (đặc biệt trong phát triển cơ
sở hạ tầng, công nghiệp phụ trợ và nông nghiệp); tăng cường quản lý các dòng vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); tạo điều kiện thuận lợi để tăng khách du lịch quốc tế
và nguồn kiều hối. Kiên quyết thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà
Nhà nước không cần chi phối và thoái vốn đã đầu tư vào các hoạt động ngoài ngành
kinh doanh chính.
Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường; đa dạng các hình thức và các
nguồn vốn đầu tư theo các cơ chế BOT, BT, BTO; đẩy mạnh hình thức hợp tác công tư (PPP) để phát triển hạ tầng có quy mô lớn nhằm tạo bước đột phá trong lĩnh vực
quan trọng này. Phát triển ổn định các vùng sản xuất, chế biến lúa gạo và các hàng
nông sản, thực phẩm khác, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
3.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường công tác
phòng chống tham nhũng: tăng cường cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và đổi mới
công tác cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chú trọng cải cách thể chế
và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân; đề cao trách
nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước; nâng cao chất lượng công tác tham mưu,
công tác thông tin, dự báo và phản biện chính sách xã hội, tăng cường tham vấn nhân
tiền thấp. Như vậy phải duy trì chính sách tài khóa chặt chẽ sao cho thâm hụt ngân
sách cũng thấp, phải có những thay đổi trong chính sách thu nhập, trong thể chế, trong
luật lệ và phải học cách sống với lạm phát.
Qua sự tìm hiểu về vấn đề lạm phát ở nước ta hiện nay, chúng ta thấy rằng lạm
phát là một vấn đề nan giải, nó đã đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển bền
vững của nền kinh tế. Vì vậy Nhà nước ta cần có những chính sách có hiệu quả hơn
để kiềm chế lạm phát, giúp cho cuộc sống của nhân dân ta ngày càng ổn định hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân)
2/ Giáo trình kinh tế đại cương (Nhà xuất bản Công an Nhân dân)
3/ Giáo trình Kinh tế học vĩ mô (Bộ Giáo dục và đào tạo)
4/ Tạp chí kinh tế và phát triển
4/ Tạp chí nghiên cứu kinh tế
6/ Báo Thời báo kinh tế
7/ Báo điện tử Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
7/ Báo điện tử vneconomy.vn, cafef.vn