ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH VĂN THÀNH
DẠY HỌC PHẦN TIẾN HÓA – SINH HỌC 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÔNG QUA TÍCH HỢP KIẾN THỨC DI TRUYỀN HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
( BỘ MÔN SINH HỌC )
Mã số:
60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Thế Hưng
HÀ NỘI –2014
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp, bên cạnh
sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình
của giáo viên hướng dẫn, các thầy giáo cô giáo, đồng nghiệp và người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hưng, người
thầy đã tận tình hương dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Lí luận và phương pháp
CLTN Chọn lọc tự nhiên
ĐB Đột biến
GP Giao phối
GV Giáo viên
GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo
HS Học sinh
NST Nhiễm sắc thể
PPDH Phương pháp dạy học
QT Quần thể
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở iii
MỤC LỤC
2.3. Tích hợp kiến thức di truyền học trong dạy học phần Tiến hóa (Sinh học 12
THPT) 26
2.3.1. Quy trình dạy học tích hợp 26
iv
2.3.2. Vận dụng quan điểm tích hợp kiến thức Di truyền học vào dạy học phần Tiến
hóa (Sinh học 12) 27
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1. Mục đích thực nghiệm 63
3.2. Nhiệm vụ 63
3.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm 63
3.3.1. Nội dung thực nghiệm 63
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 63
3.4. Xử lý kết quả 64
3.4.1. Phương tiện đánh giá 64
3.4.2 Xỷ lý số liệu 64
3.5. Kết quả thực nghiệm 68
3.5.1. Phân tích định tính 68
3.5.2. Phân tích định lượng 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
Kết luận: 85
Khuyến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
Bảng 3.9. Phân tích phương sai một nhân tố bài kiểm tra số 1 75
Bảng 3.10. Phân tích phương sai một nhân tố bài kiểm tra số 2 75
Bảng 3.11: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 3 và số 4. 76
Bảng 3.12. Các giá trị đặc trưng mẫu bài kiểm tra số 03 và 04 77
Bảng 3.13: Bảng tần suất (f
i
%) số học sinh đạt điểm x
i
của bài kiểm tra số 3. 77
Bảng 3.14: Bảng hội tụ tiến điểm bài kiểm tra số 3(Số % HS đạt điểm x
i
trở lên) 78
Bảng 3.15: Bảng tần suất (f
i
%) số học sinh đạt điểm x
i
của bài kiểm tra số 4. 79
Bảng 3.16: Bảng tần suất hội tụ tiến bài số 4(% học sinh đạt điểm x
i
trở lên ). 80
Bảng 3.17. Kiểm định điểm trắc nghiệm (bài số 3) 81
Bảng 3.18. Kiểm định điểm trắc nghiệm (lần 4) 81
Bảng 3.19. Phân tích phương sai một nhân tố bài kiểm tra lần 3 83
Bảng 3.20. Phân tích phương sai kiểm tra lần 4 83
vi
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn điểm trung bình các bài kiểm tra số 1 và 2 69
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 1. 70
nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong thời đại mới.
Về nội dung: kiến thức còn hàn lâm cứng nhắc, coi trọng lý thuyết hơn thực
hành, thiếu tính liên thông các bài học với nhau, nhiều vấn đề khai thác trùng lặp
trong nhiều môn học, làm chương trình trở nên thiếu tính hệ thống, quá tải.
Về phương pháp: dạy học chủ yếu nặng về thuyết trình, ít có sự liên hệ kiến
thức giữa các bộ môn với nhau cũng như kiến thức giữa các bài học trong cùng một
môn. Mục tiêu dạy học chỉ chú trọng vào việc cung cấp kiến thức mà ít chú trọng
đến phát triển kỹ năng , ít có sự liên hệ giữa lý thuyết học trong nhà trường và thực
tiễn cuộc sống. Trong khi các tình huống ngoài thực tiễn cuộc sống luôn mang tính
tích hợp thì dạy học trong nhà trường còn thiếu sự tích hợp giữa các bộ môn.
2
Cùng với việc đổi mới nội dung, đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp
thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Đổi mới PPDH ở trường phổ thông là một
vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục
mà còn thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp xã hội.
Trong khi đó, tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được
quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới. Tích
hợp các môn học không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều
môn học, mà quan trọng hơn là tập dượt cho học sinh cách vận dụng tổng hợp các
tri thức vào thực tiễn. Vì vậy để giải quyết một vấn đề thực tiễn, con người thường
phải huy động tri thức của nhiều môn học.
Chương trình Sinh học thể hiện mối liên hệ mật thiết về kiến thức giữa các vấn
đề, như giữa Tế bào học, Sinh lý học, Di truyền học, Tiến hóa và Sinh thái học. Khi
giảng dạy các phân môn Sinh học, giáo viên cần sự liên kết móc nối các kiến thức
sinh học với nhau để người học có khả năng tư duy toàn diện các vấn đề Sinh học.
Nội dung chương trình Sinh học 12 gồm các phần Di truyền, Tiến hóa, Sinh
thái. Đó là vùng kiến thức rộng đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu rộng về các
chuyên ngành Sinh học liên quan.
Phần Tiến hóa mang một lượng kiến thức khá lớn và trừu tượng. Muốn dạy
- Nội dung kiến thức Tiến hóa (Sinh học 12 THPT) liên quan đến phần Di
truyền học
- Các biện pháp và hình thức tổ chức dạy học được vận dụng vào dạy học phần
Tiến hóa (Sinh học 12 THPT) bằng việc tích hợp kiến thức Di truyền học
6. Giả thuyết khoa học
Việc tích hợp kiến thức Di truyền học vào dạy học phần Tiến hóa (Sinh học 12
THPT) giúp người học hiểu rõ bản chất của các kiến thức Tiến hóa.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu tích hợp một số kiến thức Di truyền học trong dạy học
phần Tiến hóa (Sinh học 12)
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài :
- Luận văn làm sáng tỏ ý nghĩa của việc dạy học Sinh học theo hướng tích hợp
kiến thức của chuyên ngành.
4
Đặc biệt là ý nghĩa của việc dạy học phần Tiến hóa theo hướng tích hợp kiến
thức Di truyền học
8.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :
- Xây dựng được một số nguyên tắc và quy trình dạy học Sinh học THPT theo
quan điểm dạy học tích hợp
- Xác định được một số nội dung Tiến hóa (Sinh học 12) có thể dạy học bằng
việc tích hợp kiến thức Di truyền học
- Đề xuất được một số biện pháp và hình thức tổ chức dạy học phần Tiến hóa
(Sinh học 12, THPT) theo hướng tích hợp kiến thức Di truyền học
9. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
9.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phân tích và tổng hợp các quan điểm về dạy học tích hợp làm cơ sở lý luận
cho đề tài, đặc biệt là các quan điểm vận dụng tích hợp trong dạy học Sinh học.
một mạng hoạt động phức hợp, tương tác nội tại của nhiều cách tiếp cận. Lý thuyết
tích hợp đã được nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong nhiều lĩnh vực
chuyên môn và học thuật khác nhau [24].
Hiện nay, lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan
điểm dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay. Xu hướng tích hợp đang được thực
hiện trên nhiều bình diện, nhiều cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình
giáo dục. Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên
quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học (Rogier, 1996)[17].
Hội thảo quốc tế đón chào thế kỷ 21 có tên “Kết nối hệ thống tri thức trong
một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc 18 quốc gia
được tổ chức từ ngày 6 - 8/12/2000 tại Manila (Philippines). Một trong những nội
dung chính được bàn luận sôi nổi tại hội thảo này là những con đường và cách thức
kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong thời đại thông tin. Muốn đáp
ứng được nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập, đòi hỏi tư
duy tích hợp được thiết kế ngay trong nội dung, phương tiện nghiên cứu và phương
pháp dạy học. Như thế, khi đứng trước nhu cầu giải quyết mâu thuẫn kiến thức của
tình huống học tập, người học không chỉ giải quyết theo hướng trực tuyến hay nội
suy mà có thể còn giải quyết bằng cách ứng dụng một cách linh hoạt khả năng liên
hội kiến thức.
6
Như vậy, dạy học theo quan điểm tích hợp đã được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy
nhiên, việc sử dụng dạy học tích hợp vẫn hạn chế và chưa có nghiên cứu ứng dụng
sâu sắc.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về dạy học tích hợp.
Nguyễn Thanh Hùng (2006) nghiên cứu vấn đề Tích hợp trong dạy học Ngữ
văn. Tác giả coi việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn là quan điểm, là hình thức,
phương pháp, phương tiện đã và đang được các nhà trường phổ thông áp dụng, cụ
thể là tích hợp Tập làm văn, Văn học, Ngữ pháp vào trong môn Ngữ Văn. Ngoài ra,
1.1.2.1. Khái niệm tích hợp
Từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình
hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự
thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [15, tr981].
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “Integration” một từ gốc Latin
(Integer) có nghĩa là “Whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Đó là sự phối hợp các hoạt
động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa
chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học” [3].
Theo Phạm Văn Lập “tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được
ở môn này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu
học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng môn học. Thí dụ, toán
học được sử dụng như công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học. Tin học được sử
dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học…” [10].
Dương Tiến Sỹ và Nguyễn Phúc Chỉnh đều cho rằng “Tích hợp là sự kết hợp
một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác
nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và
thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [18].
Như vậy, dưới góc độ Giáo dục học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một có
hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội
dung thống nhất.
8
1.1.2.2. Khái niệm dạy học tích hợp
Theo UNESCO, “Dạy học tích hợp các khoa học được định nghĩa là một cách
trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ
bản của các tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa
các lĩnh vực khoa học khác nhau” [22].
nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho HS vận
dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc
sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự
lập.
- Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. Trong quá trình học tập, HS
có thể lần lượt học những môn khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn
học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ
thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau. Thông
tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em
mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi
phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.
1.1.2.4. Các nguyên tắc dạy học tích hợp
- Kiến thức được tích hợp phải có mối quan hệ logic chặt chẽ với nội dung
kiến thức trong bài học.
- Kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải được sắp xếp một cách có hệ thống
với một lượng hợp lí, vừa làm phong phú thêm kiến thức người học, vừa nâng cao
được chất lượng dạy học nhưng phải sát với thực tiễn, phù hợp với trình độ người
học.
- Kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải đảm bảo tính vừa sức, có giá trị giúp
người học hiểu bài hơn tạo được hứng thú cho người học.
- Phát huy cao độ tính tích cực trong các hoạt động nhận thức của học sinh và
kinh nghiệm thực tế các em đã có, tận dụng tối đa mọi khả năng để học sinh tiếp
xúc trực tiếp với môi trường sống [8, tr169-170].
1.1.2.5. Những khó khăn và thuận lợi trong dạy học tích hợp
- Những khó khăn.
+ Việc dạy học tích hợp khiến cho cả giáo viên và học sinh phải làm quen với
phương pháp dạy học mới. Trong khi giáo viên cũng như học sinh chủ yếu thụ
động, sức ỳ lớn.
10
11
Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã được
học ở tất cả các bộ môn vào giải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong
nhà trường gần lại với kiến thức xã hội.
Dạy học tích hợp còn đảm bảo cho học sinh khả năng huy động có hiệu quả
những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình
huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình
huống chưa gặp.
Học sinh có thể học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học
tập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một
cách hợp lý. Học sinh có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu phương pháp dạy
học của thầy thực sự chuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo
cách tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề mà học sinh là trung tâm, tập dượt cho học
sinh cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn.
Hơn nữa, dạy học tích hợp giúp học sinh rèn luyện tư duy khái quát, năng lực
liên hệ và mở rộng kiến thức; giúp học sinh dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức và
giảm cường độ học tập cho học sinh.
Vận dụng tích hợp trong dạy học tạo điều kiện cho học sinh phát triển tốt các
kỹ năng. Khi vận dụng tích hợp vào dạy học, các quá trình học tập không tách rời
cuộc sống hằng ngày cũng như không tách rời các môn học riêng rẽ mà có sự liên
hệ các môn học với nhau và với thực tiễn cuộc sống.
Dạy học tích hợp giúp học sinh thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ
năng, phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý để giải quyết
những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Dạy học tích hợp giúp học sinh phát triển phối hợp nhiều kỹ năng, trong đó có
những kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó hình thành được.
1.1.2.7. Các quan điểm tích hợp trong dạy học.
Theo d’ Hainaut(1977) có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học [24,
tr47].
thống kiến thức. Kiến thức ở phần này có thể giải thích, cụ thể hóa phần kia và
ngược lại.
Ví dụ: Khi dạy về kiến thức sinh thái học, người dạy có thể liên hệ kiến thức
Di truyền, Tiến hóa vào giảng dạy để giúp người học hiểu sâu thêm về các khái
niệm: cá thể, quần thể, quần xã, các đặc trưng cơ bản của quần thể, quần xã
13
- Dạy học tích hợp liên môn: Người dạy để người học nghiên cứu các hiện
tượng, nguyên lí và các quá trình sinh học trong các mối quan hệ với các ngành
khoa học khác như Toán, hóa, lí nhờ đó người học hiểu rõ và làm sáng tỏ về bản
chất các sự vật, hiện tượng sinh học.
Ví dụ: Để người học hiểu rõ hơn về bản chất sinh học học trong bài “Gen, mã
di truyền và quá trình nhân đôi ADN” người dạy có thể đưa ra bài tập: Một gen có
3000 nucleotit, Tỉ lệ A/G = 2/3. Hãy tính:
a. Khối lượng gen và số chu kỳ xoắn
b. Số lượng nu. mỗi loại của gen
c. Tổng số liên kết hidro của gen
Để giải bài học trên, người học có thể vận dụng các kiến thức để tính toán như:
- Khối lượng 1 nucleotit trung bình là 300 đvC như vậy nếu gen có tổng số nu
là N thì khối lượng là 300.N đvC
- Một chu kỳ xoắn gồm 10 cặp nucleotit thì số chu kỳ xoắn là N/20
- Nội dung nguyên tắc bổ sung thể hiện: Một bazo lớn (A hoặc G) bù với một
bazo bé (T hoặc X) trong đó: A chỉ liên kết với T bằng 2 liên kết hidro, G chỉ liện
hết với X bằng 3 liên kết hidro. Nên số lượng A = T và số liên kết hidro giữa A và T
là 2A. Số lượng G = X và số liên kết hidro giữa G và X là 3G. Tổng số liên kết
hidro là H = 2A + 3G.
Với việc sử dụng các công thức toán học, người học giải quyết bài tập trên.
1.1.3. Tích hợp nội bộ môn học môn Sinh học
Các môn học thường có rất nhiều phân môn với những kiến thức sâu rộng mà
học sinh đều khó có thể đạt mục đích tìm hiểu trong quá trình dạy học. Làm thế nào
- Dẫn liệu khoa học nào ủng hộ các lập luận của em ?
Tương tự như vậy, ở mức độ tế bào chúng ta có thể nêu vấn đề để học sinh suy
nghĩ như :
- Tại sao các tế bào sinh vật nhân thực đặc biệt là các sinh vật bậc cao lại có số
lượng NST là lưỡng bội thay vì chỉ có một NST vòng như hầu hết các loài sinh vật
nhân sơ ? Nếu sự gia tăng về số lượng NST đem lại nhiều lợi thế cho sinh vật thì tại
sao mọi sinh vật lại không tiến hóa tất cả thành các sinh vật lưỡn bội mà lại có
nhiều loài sinh vật nhân sơ đơn giản như vi khuẩn ?
Những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp các phần khác nhau sẽ làm cho
học sinh phải chủ đọng tìm tòi câu trả lời đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các
sinh vật với nhau.
15
Có thể nhiều người sẽ nói rằng cách dạy chương trình theo tích hợp như vậy từ
một vấn đề ta có thể phát triển rộng ra rất nhiều thì làm gì còn thời gian dạy các
phần khác. Đúng là thời gian rất hạn chế và dạy theo cách này rất mất thời gian nên
ta không thể tham dạy tất cả mọi thứ. Giáo viên phải biết chọn những vấn đề quan
trọng mấu chốt nhất để giảng dạy theo cách này còn những phần kiến thức nào dễ
hiểu nên để học sinh tự chủ nghiên cứu.
Với quan điểm như vậy, chương trình đào tạo thường được xây dựng theo kiểu
tích hợp một cách cân đối hài hòa giữa các lĩnh vực có liên quan thông qua các sợi
dây khâu nối. Và đó là cơ sở cho việc tích hợp nội bộ môn học trong môn Sinh học.
1.2. Cơ sở thực tiễn của dạy học tích hợp
1.2.1. Xu hướng tích hợp trong chương trình sách giáo khoa ở Việt Nam
Theo hướng tích hợp nhiều nước đã đưa vào trường trung học các môn học
như khoa học tự nhiên (Sinh học, Vật lý, Địa chất, Thiên văn), khoa học xã hội và
nhân văn (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Xã hội học). Kinh nghiệm các nước
cho thấy việc dạy học tích hợp các môn học sẽ giúp học sinh dễ vận dụng kiến thức
vào thực tiễn vì những vấn đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất ít khi chỉ liên quan
với một lĩnh vực tri thực nào đó mà đòi hỏi vận dụng tổng hợp các tri thức thuộc
với thực tiễn cuộc sống nhưng vẫn không làm việc học trở nên nặng nề.
1.2.2. Thực trạng dạy học Sinh học THPT theo hướng tích hợp
Khi nghiên cứu thực trạng dạy học Sinh học THPT chúng tôi tiến hành điều
tra, khảo sát bằng bảng hỏi đối tượng là giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn
Khuyến và THPT A Bình Lục. Kết hợp với đó là việc quan sát, dự giờ thăm lớp.
Kết quả như sau:
Về phương tiện dạy học: Hầu hết các lớp học của trường THPT Nguyễn
Khuyến và THPT A Bình Lục đều được trang bị phương tiện dạy học khá đầy đủ,
đảm bảo đáp ứng nhu cầu dạy và học cho giáo viên và học sinh hiện nay.
- Tài liệu tham khảo dành cho môn Sinh học khá phong phú, đáp ứng đủ nhu
cầu dạy và học của giáo viên và học sinh.
- Phòng thí nghiệm có trang thiết bị, dụng cụ hóa chất tương đối đầy đủ, đáp
ứng được nội dung các bài thực hành cơ bản.
- Các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu,
Về phương pháp giảng dạy của giáo viên. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn,
điều tra 42 giáo viên của hai trường. Kết quả được thể hiện như bảng 1.1.
17
Bảng 1.1. Điều tra giáo viên về dạy học tích hợp
Tiêu chí Lựa chọn
Tỉ lệ %
Dạy học
tích hợp
Rất cần thiết 5 11,9%
Cần thiết 35 83,3%
Không cần thiết 2 4,8%
Vì
Kích thích được hứng thú học tập của HS 30 71,4%
giáo viên xác định rõ: mục tiêu về kiến thức, về kỹ năng, vê thái độ. Nội dung bài
soạn, các hoạt động của bài giảng được đặt ra có tương ứng với mục tiêu bài học.
Phương pháp giảng dạy cũng được xác định rõ trong bài soạn. Tuy nhiên, giáo án
vẫn chưa thể hiện nội dung tích hợp các kiến thức trong giảng dạy. Việc sử dụng
giáo án tích hợp và phương pháp dạy học của giáo viên thì đa số mới dừng lại ở
mức độ thỉnh thoảng (30/42 ≈71,4%), một số ít giáo viên (1 – 2 giáo viên) thường