Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu việt nam trong tiến trình hội nhập - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Thuỳ Linh
Lớp : Anh 10
Khoá : 43C - KT&KDQT

2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 5
2.1. Năng lực cạnh tranh quốc gia 6
2.2. Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành 8
2.2.1. Các nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh ngành 8
2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực ngành 9
2.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 11
2.3.1. Định nghĩa 11
2.3.2. Các đặc điểm 12
2.4. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 13
2.4.1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm 13
2.4.2. Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 14
3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu 15
3.1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu 15
3.1.1. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 15
3.1.2. Quy mô doanh nghiệp 15
3.1.3. Năng lực quản lý và điều hành 16
3.1.4. Khả năng nắm bắt thông tin 16
3.1.5. Khả năng hợp tác với các doanh nghiệp cùng ngành 16
3.1.6. Uy tín doanh nghiệp 16
3.1.7. Trình độ công nghệ 17
3.1.8. Chất lượng lao động và quản lý doanh nghiệp 17
3.1.9. Văn hóa doanh nghiệp 17
3.1.10. Chi phí kinh doanh 17 3.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu 17
3.2.1. Thị phần trên thị trường 18

1.4. Chất lượng hàng xuất khẩu 27
2. Những vấn đề tồn tại 28
II. Đánh giá thực trạng một số yếu tố nội sinh cấu thành năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam 29 1. Nguồn vốn 29
1.1. Các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp xuất khẩu 29
1.2. Thực trạng vốn của doanh nghiệp xuất khẩu 31
2. Sản phẩm 32
2.1. Khả năng cạnh tranh của các nhóm mặt hàng 32
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm xuất khẩu chính . 33
2.3. Đặc điểm của các sản phẩm xuất khẩu 35
2.4. Đánh giá về chất lượng, giá bán, phân phối và xúc tiến quảng bá sản
phẩm xuất khẩu nước ta 36
2.4.1. Chất lượng sản phẩm 36
2.4.2. Giá bán sản phẩm 37
2.4.3. Phân phối 38
2.4.4. Xúc tiến quảng bá sản phẩm 39
3. Hoạt động nghiên cứu thị trường và khả năng tiếp cận thông tin 39
3.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường 40
3.1.1. Công cụ và phương pháp nghiên cứu thị trường 40
3.1.2. Hiệu quả của công tác nghiên cứu thị trường 41
3.1.3. Việc lựa chọn thị trường mục tiêu và phân đoạn thị trường 41
3.2. Tiếp cận thông tin 42
4. Xây dựng và tạo lập thương hiệu 43
5. Trình độ công nghệ và chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) 44

CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM 62
I. Quan điểm, định hƣớng cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp xuất khẩu của Đảng và nhà nƣớc 62
1. Định hướng, mục tiêu cho xuất khẩu trong thời gian tới 62
2. Quan điểm của Đảng và nhà nước về nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp xuất khẩu 62
3. Phương hướng của Đảng và nhà nước về nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp xuất khẩu 64
II. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía các bộ ngành và Nhà nƣớc 65
1. Hoàn thiện môi trường kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh 65
1.1. Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi 66
1.2. Hoàn thiện cơ chế và chính sách khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu
67
1.2.1. Đổi mới và hoàn thiện chính sách xuất khẩu hàng hóa sang thị
trường các nước 67
1.2.2. Đảm bảo tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu 68
1.2.3. Cải cách theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong lĩnh
vực xuất khẩu 70
1.3. Xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất cho doanh nghiệp xuất khẩu phát triển
thuận lợi 72
2. Xúc tiến xuất khẩu 73
2.1. Tổ chức hệ thống thông tin thị trường một cách hiệu quả 73
2.2. Củng cố và phát triển hệ thống xúc tiến xuất khẩu 74
2.3. Xây dựng và nâng cao uy tín sản phẩm quốc gia 74


DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia của WEF 7
Bảng 1. 2. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ 1997-2006 8
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam từ 1986-2007 24
Bảng 2.2. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ 2000 đến 2007 25
Bảng 2.3. Thị phần xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam 27
Bảng 2.4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 51
Bảng 2.5. Mức tăng của tỷ giá USD/VND 52
Bảng 2.6. Giá điện cho kinh doanh 57
Bảng 2.7. Giá cước điện thoại quốc tế 3 phút đến Nhật Bản 57
Bảng 2.8. Giá nước kinh doanh 58
Bảng 2.9. Giá thuê mặt bằng 58
Bảng 2.10. Cước phí vận tải biển một số nước (vận chuyển container 40 feet) 59
Hình 3.1. Các bước định giá sản phẩm xuất khẩu 78
1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định đến sự phát triển của đất nước nói
chung và của doanh nghiệp nói riêng. Đất nước có năng lực cạnh tranh quốc gia cao
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh tốt có thể đứng vững trên thị trường, có khả năng duy trì và mở rộng hoạt

đó, một số giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp xuất khẩu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
trong thời gian gần đây (từ năm 2000 đến năm 2007), đồng thời luận văn cũng trình
bày một số yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu vấn đề lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp xuất khẩu, phân tích một cách khái quát các yếu tố nội sinh và ngoại sinh tác
động đến năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam và đề ra một số
giải pháp ở tầm vĩ mô và vi mô. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong khoảng
thời gian 7 năm trở lại đây (từ 2000 đến 2007).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng vì những vấn đề
đặt ra đều dựa trên cơ sở thực tế khách quan. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các
phương pháp khác như phương pháp thu thập thông tin, phương pháp so sánh và
phân tích kinh tế…
6. Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam
Với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của Thạc sỹ Vũ Thị Hạnh cùng với
những cố gắng trong quá trình nghiên cứu, em đã hoàn thành luận văn này. Tuy
nhiên do hạn chế về năng lực, thời gian và nguồn tài liệu nên những thiếu sót và
nhầm lẫn là không thể tránh khỏi. Em rất cảm ơn và mong nhận được sự phê bình,
góp ý và phát triển thêm từ các Thầy Cô giáo, bạn bè nhằm hoàn thiện vấn đề

Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những
chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành
giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu
được lợi nhuận cao.
2. Đặc điểm của cạnh tranh 4
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cạnh tranh nhưng có thể rút ra
một số đặc điểm chung nhất của cạnh tranh như sau:
Thứ nhất cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng, phần lợi ích
của nhiều chủ thể tham dự.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể mà các bên
muốn đạt được. Mục đích cuối cùng có thể là lợi nhuận cao hay những lợi ích nhất
định.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong môi trường cụ thể và có những ràng buộc nhất
định mà các bên tham gia phải tuân thủ.
Thứ tư, các chủ thể tham gia có thể dùng nhiều phương thức, công cụ khác
nhau để cạnh tranh với nhau như sự khác biệt về sản phẩm, mẫu mã, giá cả, các
kênh tiêu thụ sản phẩm…
3. Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại cạnh tranh. Tùy vào từng mục đích và cách tiếp
cận khác nhau, cạnh tranh có thể được xem xét theo các căn cứ sau:
Theo chủ thể kinh tế tham gia thị trường: cạnh tranh giữa người bán hay nhà
sản xuất, cạnh tranh giữa người mua và người bán…
Theo hình thái cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
Tuy nhiên cạnh tranh hoàn hảo chỉ tồn tại trong lý thuyết. Trên thực tế hầu hết các

quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hay sự vượt trội về công nghệ trong so
sánh quốc tế. Cách định nghĩa này chưa đề cập đủ đến các yếu tố của năng lực cạnh
tranh bởi năng lực cạnh tranh không chỉ là chi phí thấp và công nghệ cao.
Nhà kinh tế học P. Samuelson lại cho rằng: “ Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hay thị phần”. Cách định
nghĩa này chỉ tập trung vào mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh mà chưa nêu được
các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Theo OECD (Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp
tác và Phát triển kinh tế) khi định nghĩa cạnh tranh đã cố gắng kết hợp cả định nghĩa
về cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia là “khả năng của các doanh
nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Cách định nghĩa này kết hợp được năng lực
cạnh tranh nói chung của cả quốc gia, ngành và doanh nghiệp vì thế không cho thấy
sự khác biệt giữa các cấp độ cạnh tranh.
2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 6
Năng lực cạnh tranh có thể được phân chia thành bốn cấp độ: năng lực cạnh
tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Các cấp độ của năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo
điều kiện và phụ thuộc lẫn nhau. Nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao
thì phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt và ngược lại để tạo điều
kiện cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh thì môi trường kinh doanh của
nền kinh tế phải thuận lợi, có những chính sách vĩ mô rõ ràng, hệ thống pháp luật
minh bạch… Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế vì thế năng lực cạnh tranh của

năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân
nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế
bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác. Cách định nghĩa này của WEF
được nhiều nước sử dụng và công nhận chung.
Theo WEF, ngoài các yếu tố về địa lý kinh tế, tài nguyên thiên nhiên…có tám
nhóm yếu tố cơ bản với tổng số 250 chỉ số khác nhau tác động đến năng lực cạnh
tranh cấp độ quốc gia. Từ năm 2000, WEF đã điều chỉnh lại các nhóm chỉ tiêu chí,
gộp lại thành ba nhóm chính để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là chỉ tiêu
sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính quốc tế hóa trong đó tầm quan trọng
của sáng tạo kinh tế khoa học công nghệ được tăng lên thông qua việc tăng trọng số
cho tiêu chí này từ 1/9 lên 1/3.
Bảng 1.1. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia của WEF
Số thứ
tự
Nhóm chỉ tiêu
Nội dung chủ yếu
1
Độ mở của nền kinh
tế
- Thuế quan và các hàng rào ẩn ngăn chặn nhập
khẩu
- Khuyến khích xuất khẩu
- Chính sách tỷ giá hối đoái
2
Chính phủ
- Năng lực và quy mô của chính phủ, các chính
sách tài khóa
- Mức độ can thiệp của chính phủ
- Gánh nặng thuế và các mức thuế
3

- Chất lượng các thể chế pháp lý, an ninh và
phòng chống tội phạm
Nguồn: Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược
Năng lực cạnh tranh của nước ta vẫn còn chưa mạnh, chỉ được xếp hạng ở thứ
hạng thấp và trong những năm gần đây lại có xu hướng tụt giảm trong thứ hạng. Vì
thế việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được đặt ra cấp thiết, đặc biệt trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay bởi năng lực cạnh tranh quốc gia có
ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của ngành và của doanh nghiệp.
Bảng 1. 2. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ 1997-2006
Năm
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Xếp
hạng
49/53
39/53
48/53
53/75
60/75
65/80
60/102

soát được một phần.
2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực ngành
Chỉ số về năng suất
Năng suất lao động là năng lực sản xuất ra khối lượng hàng hóa trên một đơn
vị thời gian nhất định. Năng suất lao động có ảnh hưởng lớn tới chi phí để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm. Khi năng suất lao động cao thì giá thành sản phẩm giảm
dẫn đến khả năng thâm nhập thị trường cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm
ngành làm ra được nâng cao và ngược lại. Khi đất nước hội nhập vào nền kinh tế
quốc tế thì cạnh tranh trong ngành không chỉ là cạnh tranh trong nền kinh tế mà là
sự cạnh tranh trong phạm vi quốc tế. Vì thế hiện nay, với sự phát triển của khoa học
công nghệ, các ngành ở mỗi quốc gia đều cố gắng nâng cao năng suất để giảm giá
thành từ đó chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế.
Chỉ số về sản phẩm
Các tiêu chí đặt ra xem xét chỉ số về sản phẩm của ngành là chất lượng sản
phẩm và tính độc đáo của sản phẩm. Chất lượng sản phẩm cao có tác động tốt tới
lợi thế cạnh tranh, tạo danh tiếng cho sản phẩm, từ đó thu được lợi nhuận cao cho
ngành.
Chỉ số về chi phí sản xuất và đầu vào
Chỉ số này được cấu thành trên cơ sở giá đầu vào chủ yếu và chi phí các nguồn
lực phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm. Giá đầu vào biểu hiện qua giá nguyên 10
liệu thay thế hay giá bán thành phẩm được sử dụng để tạo ra sản phẩm. Hệ số chi
phí các nguồn lực phục vụ sản xuất sản phẩm là mức chi phí bỏ ra cùng với giá cả
đầu vào chủ yếu tạo nên giá thành sản phẩm. Việc giảm giá đầu vào và hệ số chi phí
các nguồn lực sẽ giúp hạ giá thành sản phẩm và cũng là mục tiêu mà các ngành cố

11
Chỉ số về thị phần cho thấy sản phẩm của ngành có tính cạnh tranh quốc tế hay
chỉ đơn thuần có tính cạnh tranh nội địa.
2.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.3.1. Định nghĩa
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Có nhiều quan niệm gắn sức cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm
mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Có quan điểm lại gắn sức cạnh tranh của doanh
nghiệp theo thị phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồng nghĩa công cụ cạnh tranh
với các chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp, có quan
niệm lại hiểu rằng sức cạnh tranh đồng nghĩa với hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp…
Theo Randall, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần
trên thị trường với lợi nhuận nhất định. Quan điểm này tập trung vào kết quả thị
phần mà doanh nghiệp có được sau cạnh tranh, chưa chỉ ra được các yếu tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Theo Dunning, năng lực cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính
doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau không phân biệt nơi bố trí doanh
nghiệp. Trong định nghĩa này, tác giả chỉ nhìn nhận năng lực cạnh tranh ở khía cạnh
cung cấp sản phẩm mà không đề cập đến nhiều yếu tố khác bên trong doanh nghiệp.
Theo Phillip Lasser, năng lực cạnh tranh được xác định bằng thế mạnh mà
công ty có thể hay huy động được để có thể cạnh tranh thắng lợi.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và nước ngoài. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua
khả năng xây dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các
mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Một số quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh chủ yếu phải là thực lực của
chính doanh nghiệp. Điều này cũng đúng, tuy nhiên nếu sức cạnh tranh chỉ là thực

tranh của doanh nghiệp chủ yếu phải là thực lực của doanh nghiệp là chính mà
không tính đến thực lực vay mượn. Việc vay mượn tức thời chỉ giải quyết được
những mục tiêu trước mắt, tức thời của doanh nghiệp không quyết định đến việc
duy trì vị trí của doanh nghiệp một cách lâu dài. Vì vậy việc huy động ngoại lực là
quan trọng nhưng không thể là quyết định trong việc duy trì khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. 13
- Khi nói đến năng lực cạnh tranh thì cần có sự so sánh với các đối thủ cạnh
tranh khác, trong đó doanh nghiệp cần tạo được lợi thế cạnh tranh của riêng mình.
- Các biểu hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng buộc nhau.
Từ đó ta có thể thấy năng lực cạnh tranh không phải là khái niệm tĩnh. Đôi khi
doanh nghiệp có thể có lợi thế từ lao động rẻ, nguyên liệu rẻ, nhưng sau đó có thể
mất đi lợi thế đó và thay vào là lợi thế nhờ quy mô hay công nghệ. Vì thế, doanh
nghiệp có năng lực cạnh tranh cần phải duy trì và liên tục tăng cường khả năng cạnh
tranh của mình.
Như vậy năng lực cạnh tranh là khái niệm động và các chỉ tiêu đánh giá không
phải là hệ thống chỉ tiêu cố định. Đây là hệ thống không chỉ phản ánh năng lực cạnh
tranh hiện tại mà còn phản ánh được khả năng duy trì và phát triển lợi thế trong
tương lai. Thông thường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nhìn nhận trên
các mặt cơ bản như: vốn, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị công nghệ, nguồn nhân
lực, trình độ quản lý và khả năng tiếp cận, chiếm lĩnh thị trường.
2.4. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của sản phẩm về các chỉ tiêu
so với sản phẩm cùng loại do đối thủ khác cung cấp trên thị trường. Năng lực cạnh
tranh của sản phẩm cũng là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của sản phẩm so

như khả năng sử dụng thay thế cho công dụng kinh tế của sản phẩm khác tương tự
sản phẩm của doanh nghiệp hay kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, phương thức tiêu
thụ, quảng cáo.
2.4.2. Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
- Mức doanh thu của mặt hàng đó trong từng năm
- Thị phần của mặt hàng đó trên thị trường trong từng năm so với các đối thủ
cạnh tranh
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã, kiểu dáng so với các đối thủ
cạnh tranh
- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh
- Mức chênh lệch về chất lượng của hàng hóa đó so với hàng hóa cùng loại của
đối thủ cạnh tranh
- Mức độ ấn tượng về hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa của nhà sản xuất mặt hàng
đó so với hàng hóa cùng loại của các đối thủ cạnh tranh. 15
Việc phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm thường có thể
được tiến hành đồng thời bằng ba phương pháp: đánh giá trực tiếp trên sản phẩm(
tính năng, chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã…); đánh giá trực tiếp thị trường
(doanh số bán, thị phần, hệ thống phân phối…); điều tra xã hội học chủ yếu qua
phiếu thăm dò khách hàng (sự thỏa mãn nhu cầu, sự nhận biết sản phẩm, mức độ
trung thành với nhãn hiệu…).
3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu

thế cạnh tranh nhờ quy mô. Ngoài ra quy mô doanh nghiệp cũng bao gồm yếu tố
vốn, một yếu tố quan trọng và nền tảng giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi. Việc tăng quy mô giúp doanh nghiệp tạo
được lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp khác trong khu vực và trên thế giới.
3.1.3. Năng lực quản lý và điều hành
Môi trường kinh doanh luôn thay đổi và biến động không ngừng vì thế doanh
nghiệp cần luôn linh hoạt thích ứng. Những doanh nghiệp nào không thể thích ứng
sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường. Hiện nay khi nhu cầu của thị trường ngày càng đa
dạng, chu kỳ sản phẩm ngày càng rút ngắn, sản phẩm thay thế nhiều hơn thì doanh
nghiệp cần luôn đáp ứng được nhu cầu khách hàng và có những điều chỉnh phù hợp
với sự thay đổi đó. Sự linh hoạt trong kinh doanh, trong cách thức quản lý doanh
nghiệp góp phần giúp giảm chi phí quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
3.1.4. Khả năng nắm bắt thông tin
Thông tin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Thông tin giúp doanh nghiệp ra quyết định hợp lý, nắm bắt cơ hội, giúp hạn
chế rủi ro vì thiếu thông tin và từ đó góp phần tăng cường sức cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Thông tin ở đây bao gồm các loại thông tin về thị trường doanh nghiệp tiến
hàng kinh doanh, thông tin khách hàng, thông tin về đối thủ cạnh tranh…

3.1.5. Khả năng hợp tác với các doanh nghiệp cùng ngành
Trong kinh doanh, đặc biệt là trong xuất khẩu sản phẩm, nếu không có sự hợp
tác đoàn kết giữa các doanh nghiệp với nhau thì việc kinh doanh sẽ gặp khó khăn do
các doanh nghiệp quy mô nhỏ không đủ năng lực cạnh tranh trong khi nếu hợp tác,
tương trợ nhau thì doanh nghiệp có thể giành được lợi thế và nâng cao khả năng
cạnh tranh một cách tương đối.
3.1.6. Uy tín doanh nghiệp
Trong kinh doanh, uy tín là yếu tố then chốt cho sự thành công của doanh
nghiệp. Những hành động gian lận, gây mất niềm tin cho đối tác, khách hàng có tác


Doanh nghiệp muốn tồn tại phải tự đổi mới mình, đổi mới sản phẩm vì thế chi
phí dành cho việc nghiên cứu và phát triển cần được quan tâm một cách thích đáng
trong doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ
khác ở việc phát triển và cho ra các sản phẩm mới.
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu 18
3.2.1. Thị phần trên thị trường
Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm được. Thị phần lớn chứng
tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh lớn. Doanh nghiệp để tồn tại phải có sức
cạnh tranh và phải chiếm được thị trường vì điều này phản ánh quy mô tiêu thụ, khả
năng xuất khẩu của doanh nghiệp.
3.2.2. Vị thế tài chính
Yếu tố tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính mạnh cần được xem xét đến khi đánh giá
năng lực cạnh tranh của các tham số: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay, mức
dự trữ và hiệu suất, lợi tức cổ phần.
3.2.3. Quản lý và lãnh đạo
Quản trị tốt giúp doanh nghiệp đạt được quyết định đúng đắn, định hướng
đúng vào vấn đề chất lượng, tính sinh lời của sản phẩm. Người lãnh đạo phải luôn
đương đầu với những thay đổi và cần có định hướng tốt bất chấp các trở ngại và
thay đổi trong môi trường kinh doanh.
3.2.4. Chất lượng sản phẩm và bao gói
Chất lượng sản phẩm là nhân tố then chốt mà các doanh nghiệp xuất khẩu luôn
cần đề cao. Chất lượng sản phẩm là yếu tố để nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, bao bì mẫu mã đẹp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status