Đánh giá khả năng sinh trưởng và chịu hạn của đậu tương DT – 02 - Pdf 30

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ CHỊU HẠN
CỦA ĐẬU TƢƠNG RAU DT – 02
Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Văn Mã
1Đậu tương rau là giống cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và
giá trị kinh tế cao. Hiện nay, ở nước ta diện tích và sản lượng đậu tương rau vẫn còn
thấp do nguồn gen chủ yếu là nhập nội chưa phù hợp với điều kiện sinh thái của nước
ta. Do đó cần có những nghiên cứu theo hướng chọn các giống đậu tương rau có
năng suất cao, chất lượng tốt và phù hợp với điều kiện khí hậu nước ta. Nghiên cứu
của chúng tôi nhằm tìm hiểu khả năng sinh trưởng và khả năng chịu hạn của giống
đậu tương rau DT – 02. Kết quả nghiên cứu cho thấy DT – 02 là giống có khả năng
sinh trưởng và trao đổi nước khá, có hàm lượng vitamin C trong quả và nitơ trong
hạt cao. Điều kiện thiếu nước làm giảm khả năng hút nước, tăng hàm lượng prolin
nhưng không ảnh hưởng tới hàm lượng diệp lục của lá đậu tương rau DT-02.
1. Giới thiệu
Đậu tương rau là giống cây thuộc họ Đậu có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao,đồng thời còn
có khả năng cải tạo đất tốt. Đậu tương rau có thể trồng cả 3 vụ, trồng luân canh , xen canh với các
cây trồng khác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên ở nước ta diện tích và sản lượng đậu tương
rau còn thấp so với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do
nguồn giống nhập nội nên chi phí đầu vào lớn, năng suất thấp, do đó đã làm cho giá thành sản phẩm
cao và còn ít người tiêu dùng biết đến.Vì vậy, những nghiên cứu sâu hơn để chọn các giống đậu tương
rau có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam là rất cần thiết.
2. Vật liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên giống đậu tương rau DT - 02 do Viện Di truyền Nông
nghiệp cung cấp, được tuyển chọn từ nguồn nhập nội, sinh trưởng từ 70 – 80 ngày cho thu quả non và
từ 95 – 100 ngày thu hạt già.
Thời gian tiến hành thí nghiệm: Vụ xuân hè tháng 03/2009
2.2. Phương pháp thí nghiệm

[5].
Khả năng trao đổi nước: khả năng giữ nước, khả năng hút nước, độ hụt nước “còn lại” được
xác định theo phương pháp của Kozushko [2].
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Đánh giá khả năng nảy mầm của đậu tương rau DT – 02 trong điều kiện phòng thí
nghiệm
3.1.1. Sự nảy mầm của hạt đậu tương rau trong dung dịch Sacaroza.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đậu tương rau có tỷ lệ nảy mầm cao trong nước cất, có khi đạt
tới 100%. Ở những lô thí nghiệm trong dung dịch đường, khả năng nảy mầm của hạt bị suy giảm. So
với đối chứng, tỷ lệ nảy mầm trong dung dịch đường đạt 84%. Nguyễn Huy Hoàng và Trần Đình
Long đã nghiên cứu đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu tương nhập nội [3]. Theo thang
đánh giá này thì đậu tương rau DT – 02 là giống đạt loại giỏi. Điều này được chứng minh là chúng có
sức hút nước mạnh để giành giật nước từ dung dịch có áp suất thẩm thấu cao.
3.1.2. Sự sinh trưởng của mầm trong dung dịch đường

Hình 1. Chiều dài của mầm
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong môi trường đủ nước, mầm đậu tương rau sinh
trưởng mạnh hơn so với khi thiếu nước đặc biệt từ ngày thứ 4 thì sự chênh lệch về chiều dài của rễ,
thân mầm ở lô thí nghiệm với lô đối chứng ngày càng rõ rệt hơn.
Bảng 3.1. Sự sinh trưởng của mầm


0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
Lần1 Lần2 Lần3 Lần4 Lần5 Lần6 Lần7 Lần8 Lần9 LẦN
10
GiAI ĐOẠN CÂY NON GiAI ĐOẠN RA
HOA
GiAI ĐOẠN
RA QUẢ
lần đo
cm
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100

7,65± 0,75
9,15± 0,30
Nốt sần tổng số
0
4,30 ± 0,30
24,50 ± 1,20
27,30± 1,50
Nốt sần hữu hiệu
0
2,25 ± 0,25
18,25 ± 1,56
20,75± 1,75
Kết quả nghiên cứu về diện tích lá được trình bày ở bảng 3.2 cho thấy diện tích lá tăng lên
qua các giai đoạn sinh trưởng. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng lại không giống nhau. Diện tích lá lớn
nhất ở giai đoạn ra quả là giai đoạn quyết định năng suất, lúc này quá trình quang hợp diễn ra rất
mạnh.
3.2.3. Khả năng tạo nốt sần: Một đặc điểm của cây họ Đậu nói chung và đậu tương rau nói
riêng là chúng có khả năng sử dụng nitơ từ khí quyển nhờ vi khuẩn Rhizobium cộng sinh với rễ cây.
Trong đất, nơi nào có rễ cây họ Đậu thì vi khuẩn nốt sần cũng bị kích thích sinh sản mạnh. Mức độ
tạo nốt sần ở rễ cây họ Đậu ảnh hưởng rất lớn tới các quá trình sinh lý, sinh trưởng của chúng.
Nghiên cứu cho thấy khi cây còn non, số nốt sần còn ít, chỉ khoảng 4,3 nốt sần/cây, trong đó
số nốt sần hữu hiệu là 2,25 nốt sần/cây. Bước vào giai đoạn ra hoa và giai đoạn ra quả số nốt sần tăng
lên. Ở giai đoạn ra hoa số nốt sần tăng đột biến đạt 24,50 nốt sần/cây ( 6 lần) và số nốt sần hữu hiệu là
18,25 nốt sần/cây ( tăng 8 lần), ở giai đoạn ra quả số nốt sần tăng lên đạt mức cao nhất 27,30 nốt
sần/cây trong đó số nốt sần hữu hiệu 20,75 nốt sần/cây. So với các cây họ Đậu khác thì số nốt sần của
đậu tương rau ít hơn, có thể là do nền đất trồng đã ảnh hưởng đến khả năng tạo nốt sần của chúng.
3.3. Khả năng trao đổi nước
Bảng 3.3. Sự trao đổi nước

Thời kì 2 lá

thấy khả năng hút nước mạnh dần qua các thời kì sinh trưởng của cây, thể hiện ở lượng nước không
hút được sau khi héo giảm dần qua các thời kì sinh trưởng.
Độ hụt nƣớc “còn lại” dùng để đánh giá mức độ nước còn thiếu hụt sau một đêm cây hút
nước. Chúng tôi xác định chỉ tiêu này vào sáng sớm khi mà sự thoát hơi nước là tối thiểu. Độ hụt
nước “còn lại” của lá cũng là một đại lượng cho biết khả năng chịu đựng sự mất nước của thực vật.
Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng nước thiếu hụt thấp nhất ở giai đoạn cây non và cao nhất ở giai
đoạn ra hoa.
So với khả năng trao đổi nước của các giống đậu tương DT84, DT96, DT99 và các cây họ
đậu trong các nghiên cứu trước đây thì đậu tương rau DT - 02 có khả năng phục hồi sức trương tốt, độ
thiếu hụt nước ít hơn, do đó chúng có khả năng chịu hạn tốt hơn.
3.4. Các yếu tố tạo năng suất, chất lượng
Bảng 3.4. Các yếu tố tạo năng suất, chất lượng

3.4.1. Các yếu tố tạo năng suất
Số hoa, số quả đợt 1 được xác định khi 2/3 số cây ra hoa ra quả. Theo kết quả nghiên cứu thì số hoa, số quả của giống đậu tương rau DT - 02 có ít hơn so với các giống đậu tương khác. Tuy nhiên tỉ lệ quả chắc và tỉ lệ quả 2 -3 hạt lại khá cao. Nếu xét trên 100 quả thì có tới 92 – 95% số quả là quả chắc và số quả có 2- 3 hạt đạt tới 75- 80%
Khối lượng của P
1000 hạt
là 350g. Các giống đậu tương năng suất cao như DT84, DT96, DT99 có khối lượng 1000 hạt chỉ đạt từ 200 -250g. Như vậy, khối lượng của giống đ ậu tương rau DT - 02 cao hơn hẳn.
3.4.2. Một số chỉ tiêu về chất lượng: Để đánh giá chất lượng của đậu tương rau chúng tôi xác định ở 2 chỉ tiêu là hàm lượng vitaminC và hàm lượng nitơ tổng số, đây là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất của hạt.
Hàm
lƣợng
vitami
nC
được
Chỉ tiêu
Kết quả
Số hoa đợt 1/cây
11,3
Số quả đợt 1/ cây
14,7


Về khả năng hút nƣớc, hạn hán đã làm cho lượng nước không hút được ở cây bị hạn cao hơn
nhiều so với cây đối chứng . Ở giai đoạn ra hoa lượng nước không hút được ở cây bị hạn đạt 157,02%
so với đối chứng. Ở giai đoạn ra quả lượng nước thiếu hụt tăng lên đạt 163,00% so với đối chứng.
Về độ hụt nƣớc”còn lại”, hạn hán đã làm gia tăng lượng nước thiếu hụt. Kết quả cho thấy lượng
nước thiếu hụt ở cây bị hạn tăng lên cao hơn so với cây đối chứng. Ở giai đoạn ra hoa lượng nước
thiếu hụt ở cây bị hạn bằng 139,60% so với cây đối chứng. Đến giai đoạn ra quả lượng nước thiếu hụt
tăng lên 1,5 lần.
3.6. Ảnh hưởng của điều kiện gây hạn đến hàm lượng proline ở rễ và lá đậu
tương rau DT - 02

Ra hoa
Ra quả
TN
ĐC
%ĐC
TN
ĐC
% ĐC
Khả năng
giữ nước
12,16 ± 0,90
25,36 ± 1,25
47,95
24,73 ± 0,85
29,70 ± 1,15
62,30
Khả năng
hút nước
12,75 ± 1,20

% ĐC

1,56 ± 0,23
0,35 ± 0,11
445,71
1,06 ± 0,05
0,27 ± 0,07
389,02
Rễ
0,55 ± 0,08
0,31± 0,03
177,42
0,33 ± 0,02
0,25 ± 0,11
129,87

Ở thời điểm ra hoa: Hàm lượng proline ở cây bị hạn tăng lên rõ rệt so với cây đối chứng tưới
đủ nước. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Mức tăng hàm lượng proline ở lá là lớn
nhất chiếm 445,71% so với đối chứng. Sự tăng cường tổng hợp proline là một chỉ tiêu quan trọng
phản ánh khả năng chịu hạn của cây giúp cây duy trì được áp lực thẩm thấu, cấu trúc thành tế bào,
đảm bảo cho sự trao đổi nước bình thường khi cây sống ở môi trường khô hạn. Khi ra quả hàm lượng
proline ở lá và rễ thấp hơn so với thời điểm ra hoa. Tuy nhiên hàm lượng proline ở cây gây hạn vẫn
cao hơn so với cây đối chứng. Ở lá hàm lượng proline ở lá cây bị hạn chiếm 389,20% so với đối
chứng, còn ở rễ là 129,87%.
Như vậy việc gây hạn đã làm gia tăng hàm lượng proline ở lá và rễ của giống đậu tương rau DT
– 02, mức tăng thể hiện lớn nhất là ở lá ở giai đoạn cây ra hoa.
3.7. Ảnh hưởng của điều kiện gây hạn đến hàm lượng diệp lục của giống đậu tương rau
DT - 02
Diệp lục có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp là hấp thụ năng lượng của photon
ánh sáng và truyền năng lượng hấp thụ được vào trung tâm phản ứng và tham gia vào quá trình


98,50
3,06 ± 0,06
a

3,09 ± 0,01
a

99,00
Diệp lục
b
2,29 ± 0,21
b
2,43 ± 0,28
b
*

94,24
4,63 ± 0,05
b
4,82 ± 0,07
b
*

96,05
Diệp lục
a+b
4,95 ± 0,29
c
5,16 ± 0,29

2. Kozushko. N.N, Xác định tính chịu hạn của cây lấy hạt theo sự biến đổi thông số chế độ nước
(khả năng giữ nước, khả năng hút nước, độ hụt nước “còn lại”), Nxb Vir. Leningrad: 3 – 1. (
Bản dịch Tiếng Nga), 1984.
3. Nguyễn Huy Hoàng, Trần Đình Long, Đánh giá khả năng chịu nóng của tập đoàn đậu tương
nhập nội Miền Bắc Việt Nam, Tạp chí Sinh học 17(3). Tr 45 – 48, 1995.
4. Nguyễn Văn Mã, Phan Hồng Quân, Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của cây đậu
tương trong điều kiện gây hạn, Tạp chí Sinh học, 22(4): 47-52, 2000.
5. Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Như Khanh, Thực hành sinh lý thực vật, Nxb Giáo dục, 1982.
6. Đinh Thị Phòng, Nghiên cứu khả năng chịu hạn và chọn dòng chịu hạn ở lúa bằng công nghệ
tế bào thực vật, Luận án Tiến sĩ Sinh học, TTKHTN và Công nghệ Quốc gia. Tr6 – 80, 2001.
7. Volcova A.M, Xác định tính chịu hạn và chịu nóng tương đối của các mẫu giống ngũ cốc
bằng cách gieo hạt trong dung dịch Sacaroza và xử lý nhiệt, Nxb Lêningrat (Bản dịch tiếng
Nga), 1984.
8. Bokari. U.G and Trent J.D, Proline concentrations in water. Stressed grases, Journal of range
Management. Page 37 – 38, 1985.
9. Viện Di truyền Nông nghiệp, Báo cáo kết quả chọn tạo giống đậu tương rau DT - 02. 9tr.

GROWTH AND DROUGHT RESISTANCE OF VEGETABLE SOYBEAN DT – 02
Nguyen Thi Giang, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Van Ma

Abstract
Vegetable soybeans are plants of high nutrient and economical values. Recently, the area and
production of vegetable soybeans in Vietnam have still remained rather low because the genes mainly
exported have not been suitable to the ecological conditions of the country yet. Therefore, it requires
to have researches in the direction of selecting the vegetable soybeans that have high production, good
quality and are consistent with Vietnamese climate. Our research aims at studying the possibilities of
growth and drought resistance of vegetable soybean DT - 02. The research results show that DT - 02
has quite good growth capability and water exchange, as well as high content of vitamin C in nuts and
nitrogen in grains . The water shortage reduces the ability of water absorption, increases the content of
proline, but does not affect the chlorophyll content of the leaves.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status