Nghiên cứu thành phần hóa học của vị thuốc phụ tử trồng hái ở sapa - Pdf 30

Bộ Y tê
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
HOÀNG MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA VỊ THUỐC PHỤ TỬ TRỒNG Ở SAPA
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHÓA 1999-2004)
Người hướng dẫn: Tiến sĩ. Phùng ĩ
Dược sĩ. Vũ Chí Nguyễn
Nơi thực hiện: Bộ môn Dược học cổ truyền
Đại học Dược — Viện Dược liệu
Thời gian thực hiện: 1-3-2004 đến 28-5-2004
Hà Nội, tháng 5 - 2004
ỳrsi. u
LÒI CẢM ƠN
Với nỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của các thầy
cô, gia đình, bè bạn, tôi đã hoàn thành khóa luận của mình trong thời gian
quy định.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Phùng Hòa Bình, Thạc
sỹ Bùi Hồng Cường và Dược sỹ Vũ Chí Nguyễn đã tận tình hướng dẫn tôi
hoàn thành khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giảng viên, kỹ thuật viên trong
Bộ môn Dược học cổ truyền Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong thời
gian làm thực nghiệm.
Tôi hết sức cảm ơn Tiến sỹ Phạm Văn Thanh (Trưởng khoa) và các cô,
các chú, các chị trong Khoa Hóa thực vật - Viện Dược liệu đã luôn luôn giúp
đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian làm thực nghiệm khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bè bạn, những
người đã luôn ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2004
Sinh viên
Hoàng Minh Phương

2.1.1- Nguyên liệu: 15
2.1.2- Phương tiện nghiên cứu 16
2.1.3- Phương pháp nghiên cứu 16
2.2- Thực nghiệm và kết quả 17
2.2.1- Nghiên cứu định tính
17
2.2.2- Định lượng alcaloỉd toàn phần 27
2.3- Bàn luận:

30
2.3.1- Định tính: 30
2.3.2- Định lượng: 30
PHẦN 3: KÊT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
33
1- Kết luận 33
1.1- Thành phần hóa học: 33
1.2- Phân tích alcaloid bằng SKLM: 33
1.3- Định lượng alcaloỉd toàn phần: 33
2- Đề xuất: 34
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phụ tử - một vị thuốc quý trong 4 đầu vị của y dược học cổ truyền
“sâm, nhung, quế, phụ”, có tác dụng cải tử hoàn sinh, từ lâu đã được các nhà
khoa học Trung Quốc nghiên cứu và sử dụng.
Vào những năm 1970-1990, Giáo sư - Tiến sỹ Phạm Thanh Kỳ và các
cộng sự đã nghiên cứu về thực vật, chế biến, hóa học và thử một số tác dụng
sinh học của cây ô đầu Việt Nam, tên khoa học là Aconitum Fortunei [9].
Sau chiến tranh biên giới (1979), cây ô đầu - phụ tử bị triệt phá và mất
giống hoàn toàn. Nhân dân Sapa phục hồi lại giống ô đầu - phụ tử không rõ
nguồn gốc. Gần đây, một số nhà khoa học của Việt Nam đã nghiên cứu về
một loài phụ tử ở Sapa có tên khoa học là Aconitum carmichaeli Debx. Họ

Cụm hoa thường mọc thành chùm ở ngọn cành hoặc nách lá. Hoa
không đều, xanh nhạt hoặc vàng nhạt, có cuống, bao hoa dạng tràng, 5 cánh
đài không đều, cánh trên thường có hình mũ, cánh dưới hình trái xoan hoặc
2
mũi mác bé hơn, cánh đài bên hình trái xoan ngược không dối xứng, móng
rộng. Tuyến mật dạng cánh hoa nằm trong mũ rất phát triển, hai cánh hoa ở
trên dạng mũ, thường có móng dài mang các tuyến nằm trong mũ, nhị nhiều,
chỉ nhị có răng hoặc không, có nhiều lông hoặc nhẵn, 3-5 lá noãn, nhiều
noãn [26].
Quả phức gồm 3-5 nang nhỏ. Hạt nhiều, bề mặt sần sùi, có nếp nhăn
[26].
Ô đầu [2]:
Cây ô đầu thuộc loại cỏ, mọc hàng năm, cao chừng 0,6-lm, rễ phát
triển thành củ có hình nón, thân mọc thẳng đứng, có ít cành. Lá mọc so le,
hình dáng, kích thước lá có khác nhau chút ít tùy theo loài:
+ Aconitum napellus: lá xẻ chân vịt gần như lá ngải cứu, mặt trên màu
xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn [2], [13].
+ Aconitum carmichaeli: phiến lá rộng 5-12cm, xẻ thành 3 thùy, 2
thùy 2 bên lại xẻ làm 2, thùy giữa xẻ làm 3 thùy con, mép các thùy đều có
răng cưa thô, to [2], [13]
+ Aconitum íortunei: lá hình mắt chim [13], xẻ thùy hình chân vịt [8]
thành 3 thùy không đều, mép các thùy có khía răng cưa nhọn [2], [8], [9];
thùy hơi hình trứng dài, có răng cưa ở nửa trên [13]
Hoa lưỡng tính, không đều, có màu xanh lơ thẫm hay xanh tím mọc
thành chùm ở ngọn thân. Có 5 lá đài, trong đó có một cái khum thành hình
mũ. Quả có 5 đại mỏng. Hạt có vẩy [2].
1.1.4- Bộ phận dùng
Rễ củ: Củ cái gọi là ô đầu, chỉ được dùng ngoài, củ nhánh gọi là phụ
tử được chế biến thành phụ tử chế để dùng trong.
3

+ Nhóm 2: các alcaloid có 1 nhóm chức esther gắn vào khung diterpen
+ Nhóm 3: các alcaloid không có nhóm chức esther gắn vào khung
diterpen
Công thức cấu tạo của một số alcaloid:
ACONITIN NAPELLIN
N-DESACETYLLAPPACONITIN
7
DELSOLÈN
LYCACONITIN PERCHLORAĨ
o
SONGORÍN
ATISIN ỉ GNAVIN ỈGNÂVIN
8
1.2.3- Tính chất của aconitỉn và sản phẩm thủy phân:
Aconitin trong môi trường nước dễ bị thủy phân thành benzoylaconin
và acid actic. Benzoylaconin chỉ bằng 1/400-1/500 aconitin; độ độc của
aconin bằng khoảng 1/10 benzoyl aconin [2].
Aconitin (Acetylbenzoylaconin C34H47NOu) là alcaloid có trong
tất cả các loài thuộc chi Aconitum: M = 645,75 đvC; t°nc = 204°C; [a] D =
+17,3° (cloroform); lg tan trong 2ml cloroform, 7ml benzen, 28ml cồn tuyệt
đối, 50ml ether, 3.300ml nước, ít tan trong ether dầu hỏa [23].
Aconin (C25H41N 0 9) dạng bột vô định hình, vị cay tê. M = 449
vđC; t°nc = 132°C; [a] D = +23°. Tan tốt trong nước và cồn, tan vừa trong
cloroform, ít tan trong benzen, rất ít tan trong ether và ether dầu hỏa [23].
1.2.4- Định lượng alcaloỉd toàn phần và aconitin:
1.2.4.1- Định lượng alcaloid toàn phần
- Theo phương pháp của Dược điển Việt Nam in [5]:
Kiềm hóa mẫu, chiết alcaloid dạng base bằng dung môi hữu cơ có độ
phân cực thấp như chloroform, ether. Chuẩn độ bằng dung dịch HC1 0,1N.
Chỉ thị là hỗn hợp đỏ methyl và xanh methylen.

+ Tác dụng trợ tim, cường tim [10], [11], [13].
+ Tác dụng hạ huyết áp [16].
+ Tác dụng chống loạn nhịp tim [18].
- Tác dụng giảm đau [16], [20], [21]
- Tác dụng chống viêm [2], [9], [16], [17]
- Các tác dụng khác: phụ tử còn được dùng với mục đích kháng
khuẩn, hạ sốt, chữa viêm, đau dây thần kinh ngoai biên [17], tăng miễn dịch
cơ thể [11]
- Độc tính của phụ tử và aconitin
+ Độc tính:
a. Aconitin rất độc. Liều gây chết đối với người lớn là 2-3mg [12]; 1-
5mg [2]; 3-6mg [17]; 0,02-0,05mg/kg thể trọng [13].
b. Khi thủy phân aconitin thành benzoylaconin hoặc aconin có độc
tính thấp, aconitin độc gấp 400-500 lần so với benzoyl aconin, 4000-5000
lần so với aconin [2]. Trên chuột nhắt trắng, LD50 của benzoyl aconin cao
gấp 191 lần aconitin và của aconin gấp 1000 lần [27].
c. Phụ tử sống (ô đầu) rất độc. Độc tính của phần tan trong cồn rất cao
so với phần tan trong nước [11]. LD50 của củ con ô đầu Sapa trên chuột nhắt
trắng là 2g/kg thể trọng [10]; LD50 của củ Aconitum bracchypodum là 1,02±
0,18g/kg thể trọng [20]
Phụ tử chế Sapa (Aconitum fortunei) LD50 = 78,75g/kg thể trọng; bạch
phụ Trung Quốc LD50 = 45,00g/kg thể trọng [10]; phụ tử chế Trung Quốc
LD50 = 17,42g/kg thể trọng (đường uống) và 3,5g/kg thể trọng (đường tiêm)
[20].
+ Ngộ độc phụ tử: độc tính của phụ tử chủ yếu là do aconitin, các biểu
hiện ngộ độc như ngộ độc aconitin:
11
a. Ngộ độc nhẹ: ngứa, nóng ở miệng, lưỡi, dạ dày (là đặc trưng quan
trọng nhất) kéo theo tê liệt và mất cảm giác. Một số triêu chứng khác là rối
loạn đường ruột, rối loạn mạch, khó thở, lạnh, da tím tái, nhược cơ, chóng

hoặc chức năng thận kém, dương khí không đủ, lưng gối đau lạnh, nhất là
những người già, chức năng thận suy yếu, chân tay phù nề (phương thức: bát
vị quế phụ) [3].
+ Kiện tỳ vị: dùng trong trường hợp tỳ vị hư hàn, đau bụng tiêu chảy
do hàn tà nhập lý [3]; đau bụng, đau vùng thượng vị kèm vói cảm giác lanh
chữa chứng đồng thời nôn và tiêu chảy hoặc phù kèm cảm giác lạnh hoặc
lạnh chân tay [22].
Liều dùng: thường dùng cho thuốc thang là 4-12g [3]; 3-15g
[11], [22]; có thể tới lOOg hay cao hơn [11].
Kiêng kỵ: những người âm hư, dương thịnh; trẻ em; phụ nữ có
thai, đang cho con bú không dùng [3]. Không dùng chung với bán hạ, bạch
cập, bối mẫu, qua lâu nhân [5], [22].
1.5- Một số phương thuốc cổ truyền có vị thuốc phụ tử
1.5.1- Tứ nghịch thang [3]:
Phụ tử chế: 20g
Cam thảo: 6g
Can khương: 12g
Công năng chủ trị: hồi dương cứu nghịch, trị chứng vong dương, thoát
dương, chân tay giá lạnh (trụy tim mạch).
1.5.2- Bát yị quế phụ [3]:
13
Phụ tử chế:
4g
Thục địa: 32g
Sơn thù:
16g
Phục linh:
12g
Quế phụ:
4g

học là Aconitum carmichaeli PX
Các mẫu nghiên cứu được thu hái tại các thời kỳ phát triển khác
nhau của cây gồm:
+ Ml: lấy của gia đình ông Nguyễn Hữu Cư ở Khu lâm trường, Tổ 11,
Thị trấn Sapa (Lào Cai).
+ M2: lấy của gia đình bà Vũ Thị Miên (hay ông Trần Văn Tâm), tổ
11, Khu lâm trường, thị trấn Sapa.
+ M3: trồng tại Công ty TNHH Traphaco Sapa tại thị trấn Sapa.
Các mẫu được thu hái vào các tháng:
+ 14-7-2003: cây chưa ra hoa
+ 18-8-2003: cây bắt đầu ra nụ
+ 17- 9-2003: cây đang nở hoa rộ
+ 18- 10-2003: cây ra quả
+ 6-12-2003: cây lụi
• Các mẫu của bộ phận dưới mặt đất:
Rễ của cây ô đầu — phụ tử: 6-12-2003.
Ô đầu củ cái của cây ô đầu - phụ tử: 6-12-2003.
• Các mẫu mua trên thị trường:
15
Xuyên ô Trung Quốc mua tại Tứ Xuyên (Trung Quốc) 1-10-
2003
Thảo ô Trung Quốc mua tại Tứ Xuyên (Trung Quốc) 1-10-2003
Một số mẫu chế:
+ Hắc phụ Trung Quốc, bạch phụ Trung Quốc mua tại Tứ Xuyên
(Trung Quốc) 1-10-2003
+ Hắc phụ Trung Quốc, bạch phụ Trung Quốc mua tại phố Lãn Ông -
Hà Nội 17-3-2004.
+ Phụ tử chế Sapa do dân Sapa chế theo kinh nghiệm mua ngày 17-3-
2004.
• Mẫu chê do Công ty Traphaco cung cấp: gồm các mẫu phụ tử chê

nghiên cứu các phần:
2.2.1.1- Nghiên cứu định tính các nhóm chức bằng thuốc thử đặc
hiệu và bằng các phản ứng đặc trưng.
• Định tính chất béo, carotenoid, sterol, phytosterol. Cho vào bình
cầu 5g bột phụ tử, thêm 20ml ether dầu hỏa, đun hồi lưu cách thủy trong 30
phút. Lọc qua giấy lọc gấp nếp, bay hơi dung môi.
- Định tính chất béo: trong quá trình bay hơi dung môi trên đến khi
đặc, lấy dịch nhỏ 1-2 giọt lên tờ giấy lọc, sấy khô thấy để lại vết dầu mỡ
(phản ứng dương tính).
x%= n.12.9
p.10
17
- Định tính caroten, sterol, phytosterol: dung môi còn lại được chia
vào 3 ống nghiệm và đem bay hơi dung môi. cắn thu được làm các phản ứng
sau:
+ Định tính caroten: lấy một ống nghiệm chứa cắn ở trên cho vào 2
giọt H2S04 đặc, thấy có màu xanh nâu (phản ứng dương tính).
+ Định tính sterol: hòa tan cắn trong 3ml dd choloroform, phản ứng
liebermann- bourchard. Chuẩn bị hỗn hợp gồm lml anhydrid acetic và lml
chloroform đã để lạnh ở 0°c, sau đó thêm một giọt H2S04 đặc. Cho hỗn hợp
này tác dụng với dung dịch chloroform ở trên (cho đồng lượng), thấy dung
dịch xuất hiện màu xanh bền vững (phản ứng dương tính).
+ Định tính phytosterol: hòa tan cắn trong 2ml chloroform, thêm 10
giọt anhydrit acetic. Thêm từ từ theo thành ống 2ml H2S04đặc, chỗ giáp giới
xuất hiện màu vàng lục. Lắc nhẹ, màu xanh khuếch tán lên trên (phản ứng
dương tính).
■=> Nhận xét: qua kết quả định tính trên, sơ bộ nhận định trong phụ
tử có chất béo, carotenoid, sterol, phytosterol.
• Định tính flavonoid: lấy 5g bột phụ tử cho vào bình nón dung tích
150ml, thêm 50ml cồn 90°, đun sôi cách thủy 15 phút, lọc, dịch lọc này dùng

- Phản ứng diazo hóa:
+ Chuẩn bị thuốc thử: hòa tan 0,9g acid sulfanilic trong 3ml HC1 đậm
đặc, pha loãng với nước đến 100ml. Lấy 10ml dung dịch ngâm trong nước đá
rồi cho thêm 10ml dung dịch NaN02 4,5% cũng vừa được ngâm trong nước
19
đá. Lắc đều rồi giữ ở nhiệt độ 0°c trong 15 phút. Dung dịch chỉ pha để dùng
ngay.
+ Tiến hành: cho vào ống nghiệm 2ml dịch chiết phụ tử, kiềm hóa
bằng dung dịch NaC03 2%, đun cách thủy, để nguội, thêm vào đó vài giọt
thuốc thử diazo mới pha, dung dịch trong ống có màu vàng cam ( phản ứng
dương tính).
Quan sát huỳnh quang: nhỏ lên giấy lọc 2 giọt dịch chiết phụ tử
trong cồn, nhỏ thêm 1 giọt NajCC^. Hơ nhẹ cho khô. Lấy 1 miếng kim loại
che đi một nửa vết, sau đó soi đèn tử ngoại ở bước sóng 365nm, thấy phát
huỳnh quang xanh. Bỏ miếng kim loại ra, thấy nửa còn lại sáng dần lên cho
đến khi bằng bên không che (phản ứng dương tính).
■=> Nhận xét: Qua các phản ứng định tính trên sơ bộ nhận định,
trong phụ tử có coumarin.
• Định tính tanin: lấy 5g bột phụ tử cho vào cốc, thêm 30ml nước cất,
đun sôi vài phút rồi lọc, dịch lọc có màu vàng tối. Làm các phản ứng sau:
- Phản ứng với FeCl3: cho vào ống nghiệm lml dịch chiết, thêm 1-2
giọt FeCl3 5% thấy dịch trong ống nghiệm có màu xanh thẫm (phản ứng
dương tính).
- Phản ứng với dung dịch gelatin 1%: cho vào ống nghiệm lml dịch
chiết, thêm vài giọt dung dịch gelatin 1%, không thấy có tủa bông xuất hiện
(phản ứng âm tính).
■=> Nhận xét: dịch chiết cho phản ứng âm tính với dung dịch
gelatin 1% nhưng cho phản ứng dương tính với dung dịch FeCl3 5% (đây có
thể là phản ứng của coumarin với FeCl3 5%). Như vậy, có thể sơ bộ kết luận,
phụ tử không có tanin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status