BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA BIỆN PHÁP TU TỪ
SO SÁNH VÀ NHÂN HÓA
Nguyễn Thị Hoà
1
Tóm tắt: Một mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là giúp học sinh cảm nhận cái hay, cái
đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và bước đầu có những hiểu biết sơ giản về cuộc sống xung quanh.
Vẻ đẹp của ngôn từ tiếng Việt được thể hiện trong ngữ liệu những bài tập đọc. Trong quá
trình giảng dạy, người giáo viên tiểu học cần bồi dưỡng và tích cực hoá khả năng cảm thụ
Văn học của học sinh. Về mặt hình thức, để tạo sức hấp dẫn phù hợp tâm lí lứa tuổi, hầu hết
các tác phẩm Văn học được đưa vào sách giáo khoa bậc học này đều tạo hiệu quả thẩm mỹ
thông qua các biện pháp tu từ. Bài viết giới hạn việc khảo sát tác dụng của hai biện pháp so
sánh và nhân hóa thông qua hệ thống bài tập thực nghiệm, từ đó góp ý kiến trao đổi xung
quanh vấn đề bồi dưỡng khả năng cảm thụ Văn học cho học sinh.
1. MỞ ĐẦU
1.1. Môn Tiếng Việt ở tiểu học có vai trò quan trọng trong việc hình thành các kĩ năng cơ
bản cho học sinh. Riêng phân môn tập đọc có nhiệm vụ hình thành và phát triển các khả năng
tiếp nhận văn bản. Số lượng các tác phẩm văn học được lựa chọn làm ngữ liệu trong sách
giáo khoa bậc học này đều dựa trên cơ sở đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với quan điểm xây
dựng chương trình. Trong các giờ tập đọc mà đối tượng là tác phẩm văn học, phần lớn giáo
viên hướng dẫn các em đọc đúng, đọc hiểu là chủ yếu. Khả năng đọc diễn cảm còn hạn chế
đã ảnh hưởng đến năng lực cảm thụ văn học của các em.
Tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh xuất hiện với
hai tư cách: tư cách ngữ liệu cho một đơn vị bài học và tư cách một tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ. Là tác phẩm nghệ thuật, mỗi bài thơ, câu văn đều ẩn chứa những tín hiệu thẩm mỹ. Từ
mục tiêu chương trình, quá trình đọc hiểu văn bản không chỉ giúp học sinh tri nhận về những gì
diễn ra trong thế giới xung quanh mà còn bồi dưỡng tâm hồn, định hướng những tình cảm tốt đẹp
cho các em. Để đạt mục tiêu ấy, hình thức tác phẩm có vai trò quan trọng. Trên thực thế, qua
khảo sát ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy các biện pháp tu từ đã tạo sức hấp dẫn cho câu văn, lời thơ
tiếng Việt.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Một số vấn đề chung
2.1.1. Một số yêu cầu khi giáo viên hướng dẫn học sinh tiểu học cảm thụ Văn
Từ kết quả nghiên cứu tâm lí học - giáo dục học, các chuyên gia đã khẳng định rằng tiếp
nhận Văn học ở trẻ em mang tính đặc thù lứa tuổi: rất giàu tính sáng tạo nhưng cũng cảm
tính. Sự sáng tạo này đặc biệt bởi tính hồn nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ em. Vì vậy,
khi dạy tập đọc cho học sinh tiểu học, với mục tiêu giúp học sinh đọc - hiểu, giáo viên cần
lưu ý:
+ Giáo viên phải khéo léo gợi mở, dẫn dắt nhằm phát huy tính sáng tạo về tư duy văn
học của mỗi học sinh. Giáo viên đóng vai trò người gợi mở, dẫn dắt các em tiếp xúc với tác
phẩm, tôn trọng những suy nghĩ, những cảm xúc chân thật, thơ ngây của trẻ và nâng chúng
lên ở chất lượng cao hơn. Khi tiếp nhận văn chương, các em phải tư duy khác với lối tư duy
logic thông thường. Đó là năng lực thẩm mỹ khi học sinh biết nghe và đọc được những gì ẩn
chứa bên trong lớp vỏ ngôn từ. Những tín hiệu nghệ thuật này chính là cách biểu hiện của văn
chương bằng những lớp từ gợi cảm, gợi tả, những cách biểu đạt đa nghĩa, những tứ thơ hay,
những hình thức tu từ mới lạ…
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện những tín hiệu nghệ thuật. Để giải mã tác
phẩm văn chương, học sinh phải chú trọng các yếu tố được diễn đạt hàm ẩn, cách nói biểu
trưng, tính đa nghĩa, những cách nói hướng đến “gây ấn tượng” (lạ hóa) khác với ngôn ngữ
thông thường. Các biện pháp tư từ đã góp phần hữu hiệu vào việc thể hiện ý đồ nghệ thuật
của nhà văn. Khi đánh giá các tín hiệu nghệ thuật trong việc biểu đạt nội dung, học sinh
không những cần nhận diện cắt nghĩa mà còn cần đánh giá ý nghĩa của chúng trong đoạn thơ,
câu văn từ dễ đến khó.
+ Giáo viên phải hướng đến chủ trương tích hợp các phân môn. Khi học sinh được trang
bị những kiến thức về sử dụng hiệu quả biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong tác phẩm
văn học, các em sẽ nhận thấy cái hay, cái đẹp của cuộc sống và con người. Từ đó, các em sẽ
biết sử dụng các biện pháp tu từ sao cho đúng, cho hay để viết văn miêu tả gợi hình, gợi cảm
và sinh động.
+ Giáo viên phải đảm bảo tính vừa sức, đúng đối tượng. Hệ thống câu hỏi, bài tập thực
hành cần phải phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nhưng cũng cần đảm bảo tính
mỗi tuần có 2 tiết tập đọc với 62 bài.
Nhóm văn bản nghệ thuật ở phân môn tập đọc bậc tiểu học (đặc biệt là tập đọc lớp 4, 5),
nhiều đoạn văn, câu thơ các tác giả đã sử dụng hiệu quả biện pháp so sánh, nhân hóa. Chỉ tính
riêng biện pháp tu từ nhân hóa, qua thống kê, chúng tôi nhận thấy các văn bản tập đọc có sử
dụng biện pháp này chiếm số lượng lớn. Ở lớp 3 có 21/93 bài tập đọc có sử dụng biện pháp
nhân hoá; lớp 4 có 14/62 bài; lớp 5 có 8/62 bài có sử dụng biện pháp nhân hoá. Trong đó ở
lớp 3 có 11/93 bài có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu giá trị của biện pháp tu từ nhân hoá; lớp 4
có 6/62 bài và ở lớp 5/62 bài có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu giá trị tu từ nhân hoá. Sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 3, 4, 5 có rất nhiều bài tập đọc có sử dụng biện pháp nhân hoá và các câu
hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị của biện pháp này. Điều đó chứng tỏ rằng biện pháp
nhân hoá đã được chú ý đưa vào giảng dạy giúp học sinh có được những kiến thức về những
biện pháp tư từ phổ biến. Từ đó các em có khả năng phân tích giá trị nghệ thuật của biện
pháp tu từ trong các bài văn, bài thơ để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của cuộc sống và
ngôn ngữ tiếng Việt.
Việc đưa các tác phẩm văn học có xuất hiện với tần số cao hai biện pháp tu từ trên đây
xuất phát từ mấy nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, tư duy cảm thụ của học sinh bước đầu đã được hình thành từ bậc học mầm
non, qua phân môn tập đọc bậc tiểu học, với mục tiêu nhằm giúp các em hiểu biết, khám phá
cuộc sống và con người xung quanh, đồng thời hình thành những tình cảm thẩm mỹ tốt đẹp,
học sinh được tiếp cận những văn bản văn học có chất lượng nghệ thuật cao hơn, đòi hỏi sự
tinh tế trong cảm thụ, liên tưởng, tưởng tượng.
- Thứ hai, ở bậc tiểu học, học sinh được làm quen với tác phẩm văn học một cách hệ
thống và khoa học thông qua các chủ điểm tuần. Đến lớp 4, 5, học sinh bắt đầu viết bài làm
văn về cảm thụ tác phẩm, văn miêu tả, biểu cảm. Như vậy, chính việc cảm thụ và đánh giá
vai trò của hình thức (trong đó có tác dụng của các biện pháp tu từ) góp phần hình thành kĩ
năng viết, kĩ năng cảm thụ tác phẩm, khả năng tưởng tượng trong bài làm văn. Thao tác này
đã cụ thể hoá chủ trương tích hợp các phân môn khác nhau trong môn Tiếng Việt. Thực tế
cho thấy, có thể coi những tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa tiểu học là những
bài văn mẫu mực. Học sinh hoàn toàn có thể học tập cách viết của các nhà văn, nhà thơ thông
qua những tác phẩm.
Lúc ấy,
Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông
Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ
Chỉ còn tiếng đàn ngân nga
Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.
(Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà - Quang Huy - Tiếng Việt 5, tập
1)
Ví dụ 2: Tìm các hình ảnh so sánh trong đoạn văn sau:
“Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh.
Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh. Thân
chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu. Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả
dài trên mặt hồ. Bốn cánh khẽ rung rung như đang còn phân vân”.
(Con chuồn chuồn nước - Nguyễn Thế Hội - Tiếng Việt 4, tập 2)
* Dạng bài tập viết thêm từ ngữ phù hợp để tạo hình ảnh nhân hóa, so sánh
Ví dụ 1: Hãy thêm vế câu có hình ảnh so sánh thích hợp vào chỗ trống để mỗi dòng dưới
đây trở thành một câu văn có ý mới mẻ, sinh động:
a. Lá cọ tròn, xòe ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như
b. Trái bầu nậm lủng lẳng như
c. Đôi mắt của bé tròn và đen như
d. Dòng sông uốn lượn như
Ví dụ 2: Tìm từ ngữ chỉ đặc điểm, dấu hiệu của con người điền vào chỗ trống cho thích
hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hóa.
a. Vầng trăng …
b. Mặt trời …
c. Cổng trường
* Dạng bài tập chỉ ra và sửa lại những câu văn, câu thơ có sử dụng các biện pháp tu từ
những chỗ chưa hợp lí
Ví dụ: Hàng ngày, gà mẹ phải đau khổ chăm sóc cả chục đứa con. Mà chục đứa con của chị
đứa nào cũng đáng yêu. Mười chú đều vàng như cuộn tơ, hai chân của các chú gà con to như hai
- Những em nhỏ quần áo đủ màu sặc sỡ như một đàn bướm đang nô đùa trên sân trường.
- Bé có đôi mắt đen tròn như hai hạt nhãn, hai má ửng hồng như hai trái đào chín.
- Mặt trăng đêm rằm tròn như cái đĩa đang mỉm cười với chúng em.
- Cành cây dày rậm đan xen vào nhau như gọng ô.
* Dạng bài tập tập tạo câu văn có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa
Ví dụ 1: Dựa vào các cặp từ ngữ dưới đây, hãy viết các câu văn có hình ảnh so sánh:
a. Mặt trăng - quả bóng
b. Miệng bé cười - hoa hồng
c. Chiếc đĩa bạc - vầng trăng
d. Tấm thảm vàng - cánh đồng lúa chín
Ví dụ 2: Hãy sử dụng biện pháp nhân hóa và so sánh để diễn đạt lại những câu văn dưới
đây cho sinh động, gợi cảm.
a. Mặt trời mọc từ phía đông, chiếu những tia nắng xuống cánh đồng lúa chín.
b. Đôi mắt bé đen tròn, hai má ửng hồng.
c. Bông hoa đang nở trong nắng sớm.
d. Mấy con chim đang hót ríu rít trên vòm cây.
e. Mùa xuân, sân trường mướt xanh màu lá.
Ví dụ 3: Sử dụng biện pháp so sánh để tạo những câu văn sinh động, gợi cảm để tả:
a. Mặt trời mọc
b. Dòng sông uốn khúc
c. Biển phẳng lặng, rộng
d. Tiếng mưa rơi
e. Cánh đồng lúa chín
* Dạng bài tập viết đoạn văn cảm thụ giá trị của ngôn từ thông qua các biện pháp tư từ
Đây là dạng bài tập ở mức độ cao nhất, là cái đích của quá trình rèn cảm thụ, là sản phẩm
cảm thụ văn học mà học sinh tiểu học cần đạt được. Dạng bài tập này đòi hỏi học sinh phải
biết nhận dạng, tái hiện, cắt nghĩa và bình giá về tác dụng, giá trị của biện pháp được người
viết sử dụng trong bài thơ, bài văn (hoặc đoạn trích). Sản phẩm của dạng bài tập này không
chỉ là những câu văn đơn lẻ mà là cả đoạn văn. Dưới đây là một số dạng bài luyện tập và đáp
án minh họa cho mỗi bài.
tưởng ở hai dòng thơ đầu ta càng thấy thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng và yên bình.
Ví dụ 3: Hãy chỉ ra hình ảnh so sánh có trong khổ thơ sau và nêu rõ hình ảnh đó gợi cho
em cảm nghĩ gì.
Thế rồi cơn bão qua
Bầu trời xanh trở lại
Mẹ về như nắng mới
Sáng ấm cả gian nhà.
(Mẹ vắng nhà ngày bão - Đặng Hiển - Tiếng Việt 3, tập 1)
Đáp án tham khảo: hình ảnh so sánh có trong khổ thơ trên là Mẹ về như nắng mới, Sáng ấm
cả gian nhà. Hình ảnh này đã làm nên vẻ đẹp của đoạn thơ, gợi lên trong lòng ta những ấn tượng
đẹp đẽ. Người mẹ trở về nhà khi cơn bão qua được so sánh với hình ảnh nắng mới hiện ra khi bầu
trời xanh trở lại sau cơn bão. Sự so sánh đã giúp ta hiểu được một điều sâu sắc: người mẹ cần
thiết cho cả gia đình chẳng khác nào ánh nắng cần thiết cho sự sống. Chính vì vậy, khi mẹ trở về,
cả gian nhà trở nên sáng ấm bởi tình yêu thương đẹp đẽ. Vai trò của mẹ trong gia đình thật quan
trọng và đáng quý biết bao nhiêu.
3. KẾT LUẬN
Trong dạy học Tiếng Việt, đọc hiểu, cảm thụ tác phẩm văn học là quá trình vất vả, công phu
nhưng thú vị. Cảm thụ văn học là một năng lực bắt buộc phải có ở học sinh giỏi Tiếng Việt. Khả
năng cảm thụ phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của học sinh và kinh nghiệm, phương pháp đinh
hướng của giáo viên. Muốn hình thành kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh ngay từ bậc tiểu
học, trước hết giáo viên cần phải bồi dưỡng vốn sống cho các em bằng nhiều con đường, nhiều
thao tác sư phạm khác nhau. Thông qua biện pháp so sánh, nhân hóa xuất hiện trong các ngữ liệu
sách giáo khoa, giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy, tính sáng tạo, khả năng lựa chọn từ ngữ
khi nói và viết để có được những câu văn, lời thơ giàu hình ảnh và cảm xúc. So sánh và nhân
hóa luôn là cánh cửa mở ra cho các em bao điều mới lạ trong cuộc sống muôn màu vẻ.
Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh phải tôn trọng mục tiêu: đi từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp và phải được tiến hành thường xuyên. Để giúp học sinh phát
huy và phát triển năng lực này, mỗi giáo viên cần có biện pháp tự bồi dưỡng nâng cao kinh
nghiệm, vốn hiểu biết về văn học và cuộc sống. Bài viết trên chỉ góp một ý kiến nhỏ về một
vấn đề lớn.