BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐÀO THỊ THANH THU PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN “ LUYỆN
TỪ VÀ CÂU” LỚP 4 Chuyên ngành : Giáo dục học ( Bậc tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 PHAN KIM DUNG
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014
Học viên Phan Kim Dung
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh lớp 4” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, căn cứ, kết
quả có trong luận văn là trung thực.
Đề tài này chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình khoa học nào
khác.
HỌC 7
1.1. Cơ sở lý luận 7
1.1.1. Khái quát về cảm thụ văn học 7
1.1.1.1. Khái niệm cảm thụ văn học 7
1.1.1.2. Đặc trưng của cảm thụ văn học 8
1.1.2. Năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi tiểu học 9
1.1.2.1. Khái niệm năng lực cảm thụ văn học: 9
1.1.2.2. Đặc trưng năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi tiểu học 10
1.1.3. Yêu cầu về rèn luyện cảm thụ văn học ở Tiểu học 13
1.1.4. Một số đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học liên quan
đến bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học 13
1.1.4.1. Về mặt nhận thức 13
1.1.4.2. Về mặt tình cảm 16
1.2. Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1. Thực trạng năng lực cảm thụ của HS lớp 4 ở một số trường trên
địa bàn huyện Vĩnh Tường hiện nay 16
1.2.2. Thực trạng việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS
lớp 4 của GV trong các trường Tiểu học ở địa bàn huyện Vĩnh Tường
hiện nay: 18
1.2.2.1. Nhận thức của GV và những khó khăn trong việc bồi dưỡng
năng lực CTVH cho HSTH 18
1.2.2.2. Vấn đề khai thác nội dung, ý nghĩa, tác dụng của các văn
bản nghệ thuật trong dạy đọc hiểu nhằm bồi dưỡng năng lực CTVH
cho HS 22
1.2.2.3.Thực trạng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng 23
1.2.2.4. Thực trạng sử dụng các dạng bài tập bồi dưỡng 25
1.2.3. Nguyên nhân của những thực trạng trên. 27
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ
VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4 29
2.1. Bồi dƣỡng hứng thú cho HS khi tiếp xúc với thơ văn 29
3.6.4. Kiểm tra đánh giá kết quả thực nghiệm 78
3.7.Phƣơng pháp đánh giá kết quả thực nghiệm: 80
3.8. Kết quả thực nghiệm 80
3.8.1. Kết quả bồi dưỡng của học sinh qua thực nghiệm 80
3.8.2. Đánh giá kết quả bồi dưỡng của học sinh trong giờ học 82
3.8.2.1. Về hoạt động học tập của học sinh 82
3.8.2.2. Về mức độ hứng thú bồi dưỡng của học sinh 83
3.8.2.3. Về khả năng phát hiện các tín hiệu nghệ thuật và cảm thụ
được giá trị nghệ thuật của văn bản 84
3.9. Bài học sƣ phạm 85
Tiểu kết chƣơng 3: 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Dịch nghĩa
CTVH
:
Cảm thụ văn học
DHTN
:
Dạy học thực nghiệm
HS
:
Học sinh
nảy sinh những ƣớc mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, cũng nhƣ đƣợc
bồi dƣỡng về tâm hồn. Vì thế, bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn học cho học
sinh luôn là một việc làm cần yếu để giúp các em hình thành, phát triển và
hoàn thiện về nhân cách, có đƣợc một đời sống tinh thần phong phú, nhạy
cảm và giàu ý nghĩa. Thông qua cảm thụ văn học, HS còn đƣợc rèn luyện khả
năng nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm,
biết phát hiện và cảm nhận cái hay cái đẹp của tác phẩm, đồng thời hình thành
những kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm.
1.2. Bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học là một
nội dung khoa học của chuyên ngành Lý luận và phƣơng pháp dạy học Tiếng
Việt ở tiểu học. Nội dung này đang ngày càng đƣợc chú trọng theo định
hƣớng dạy học phát triển năng lực cho ngƣời học, trong đó có các năng lực trí
tuệ - cảm xúc. Vấn đề bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4
là một vấn đề khó, chƣa đƣợc nhiều công trình khoa học nghiên cứu. Đây là
vấn đề phức tạp vì học sinh tiểu học tƣ duy trừu tƣợng đang đƣợc hình thành
và phát triển, các em tiếp nhận vấn đề này tƣơng đối vất vả. Mà ở tiểu học lại
chƣa có phân môn học riêng cho cảm thụ văn học, chủ yếu giáo viên phải bồi
dƣỡng lồng ghép thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt nhƣ Tập đọc,
Kể chuyện, Tập làm văn…Không những thế, cảm thụ văn học cũng đƣợc
đánh giá là một vấn đề khó đối với giáo viên. Thực tế cho thấy, khả năng cảm
thụ văn học của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế. Học sinh không tìm
2
đƣợc những từ “chìa khoá”, những từ cốt lõi, ẩn chứa nội dung, những dấu
hiệu mang tính nghệ thuật của văn bản. Học sinh chƣa phát hiện đƣợc, chƣa
hiểu hết đƣợc cái hay, cái đẹp của từ, ngữ, ý thơ, câu văn… trong một văn bản
cụ thể. Nếu có cảm nhận đƣợc thì học sinh diễn đạt ý còn rƣờm rà hoặc cộc
lốc chƣa thể hiện hết nội dung cảm nhận. Đó chính là những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến năng lực cảm thụ văn học của học sinh còn nhiều hạn chế. Chính
vì vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra biện pháp hữu hiệu
với chuyên luận “Cảm thụ văn học – giảng dạy văn học (1983)” hay bộ giáo
trình “Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trƣờng (1977)”, Lê Phƣơng Nga
với cuốn “Bồi dƣỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học”, Trần Mạnh Hƣởng
với: “Luyện tập về cảm thụ văn học ở tiểu học”, “Hƣớng dẫn dạy tập làm văn
lớp 4”, Dƣơng Thị Hƣơng với: “Giáo trình cảm thụ văn học”, Nguyễn Trí với:
”Dạy văn cho học sinh tiểu học”, Hoàng Hòa Bình với: “Dạy văn cho học
sinh tiểu học”, Đinh Trọng Lạc với cuốn “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ
tiếng Việt”.
Nhóm tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn , Giang Khắc Bình cũng
đã gặp nhau ở lý tƣởng, mục đích nhằm nâng cao năng lực cảm thu cho học
sinh tiểu học (HSTH) nên đã cho ra đời cuốn sách viết chung:”Tìm hiểu vẻ
đẹp ở bài thơ Tiểu học”. Nội dung cuốn sách là những gợi ý tìm hiểu các bài
thơ trong chƣơng trình, chỉ ra một số đặc điểm cần lƣu ý khi đọc và tìm hiểu
các bài thơ trong chƣơng trình đồng thời giải nghĩa một số từ ngữ, hƣớng dẫn
cho các em cách thƣởng thức vẻ đẹp của tác phẩm.
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “Vẻ đẹp ngôn ngữ học qua các bài tập đọc
4-5” đã chú ý khai thác phƣơng diện ngôn ngữ của các bài văn, bài thơ. Cuốn
sách chia làm 2 phần: Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ trong các bài tập đọc và cung
cấp một số kiến thức cơ bản về phân tích các biện pháp tu từ mà học sinh
4
thƣờng gặp để làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc vận dụng, phân tích thơ văn
của HSTH. Các công trình nghiên cứu trên đây đã có nhiều ý kiến sâu sắc và đã
đóng góp rất lớn vào vấn đề bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS.
Nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh với
“Cảm thụ Văn tiểu học 4, Cảm thụ Văn tiểu học 5” dựa vào các văn bản bài
đọc Tập đọc ở lớp 4,5 để gợi ý hƣớng dẫn theo một hệ thống câu hỏi, giúp các
em đọc hiểu bài đọc. Đối với những bài văn, bài thơ hay thì có thêm phần
“nêu cảm nhận” hoặc “nêu cảm nghĩ”. Đặc biệt một số công trình đƣợc đầu tƣ
nghiên cứu trong thời gian dài và có tính bao trùm toàn bộ vấn đề cảm thụ văn
học ở Tiểu học nhƣ các tác giả Lê Phƣơng Nga, Phan Trọng Luận, Đinh
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết
- Phƣơng pháp điều tra
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp thực nghiệm
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu áp dụng thành công các biện pháp mà luận văn đã đề xuất thì hiệu
quả của công tác bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn chƣơng cho HS tiểu học nói
chung và học sinh lớp 4 trên địa bàn huyện Vĩnh Tƣờng nói riêng sẽ đƣợc
nâng lên.
8. Bố cục luận văn
Luận văn gồm các phần:
- Mở đầu
- Nội dung
+ Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dƣỡng năng lực cảm
thụ văn học cho HS lớp 4
6
+ Chƣơng 2: Các biện pháp bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn học cho
HS lớp 4
+ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
“Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chƣơng ở mức độ cao nhất,
ngƣời đọc không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu đƣợc thông tin,
phân tích, đánh giá đƣợc khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo đƣợc mối
giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó
cho ngƣời khác”.
Theo cuốn: “Bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn chƣơng cho HS tiểu học”,
các tác giả cho rằng: “cảm thụ văn học cũng nhƣ các khái niệm tiếp nhận,
thƣởng thức, phê bình văn chƣơng là hết sức đa dạng và vô cùng phong phú
8
đến mức khó thể khái quát thậm chí trong phạm vi một cuốn sách ”, từ đó “có
thể sơ lƣợc mà nói rằng dù hiểu theo cách nào thì cảm thụ văn học cũng bao
gồm ít nhất là khả năng nhận thức và rung cảm trƣớc nội dung, nghệ thuật của
tác phẩm văn chƣơng, các hoạt động tâm lí đó mang tính chủ quan và cảm
tính”.
1.1.1.2. Đặc trưng của cảm thụ văn học
Đây là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức tạp
và có tính sáng tạo. Những tính chất này do đối tƣợng nhận thức tác phẩm văn
học quy định.[14]
Để hình dung rõ những điều trên, ta hãy tìm hiểu đôi dòng tâm sự của
các nhà văn, nhà thơ khi tiếp xúc với văn học.
Hồi nhỏ, khi đọc những câu ca dao:
Giã ơn cái cối cái chày,
Nửa đêm gà gáy có mày có tao.
Giã ơn cái cọc bờ ao,
Nửa đêm gà gáy có tao có mày.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã rất xúc động. Ông nhớ và kể lại: “Trái tim non
nớt của tôi láng máng nhận ra cái vị đắng của cuộc đời đi ở xƣa kia. Khi đó,
tôi chƣa thể hiểu hết ý nghĩa của câu ca, nhƣng tôi thấy nó thật gần gũi. Cái
cối cái chày, cái cọc bờ ao, những thứ ấy quá quen thuộc với tôi nhƣng cứ lạ
mãi, tại sao nó lại trở thành tiếng nói buồn tủi, bắt ta phải thƣơng xót, cảm
Năng lực CTVH là tổ hợp các yếu tố nhƣ kiến thức, kĩ năng, vốn sống,
kinh nghiệm, ý chí, hứng thú… đƣợc huy động, vận dụng vào việc phát hiện,
khám phá, thƣởng thức và thể nghiệm những giá trị độc đáo, đặc sắc của tác
phẩm văn học.
10
1.1.2.2. Đặc trưng năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi tiểu học
Trƣớc khi đến trƣờng, HS đã có vốn văn học nhất định. Đây không phải
là lần đầu tiên các em đƣợc tiếp xúc với hình tƣợng văn học. Ngay từ nhỏ các
em đã đƣợc nghe bố, mẹ, ông, bà kể chuyện cổ tích, truyện kể nghi đồng,
nghe và thuộc các bài đồng dao, một số bài ca dao, dân ca… Dù chƣa có ý
thức rõ rệt, nhƣng các em đã tiếp xúc với thơ, văn từ rất sớm, từ thuở ấu thơ
trong lời bà, lời hát mẹ ru.
Ví dụ:
“Con ong làm mật yêu hoa
Con cá yêu nƣớc, con chim ca yêu trời”
Âm điệu ngọt ngào của lời ru đã đƣa những câu ca ấy đến với các em,
giúp các em tiếp xúc với “thơ” một cách hồn nhiên. Tình yêu cuộc sống đặt
trong sự gắn bó hài hòa giữa thế giới bao la, một hình ảnh khẳng định sức
mạnh của tình đoàn kết… đƣợc tác giả dân gian khái quát bằng hình thức
những câu thơ dễ thuộc, dễ nhớ, đã đi vào đời sống tâm hồn của mỗi con
ngƣời và đƣợc lƣu truyền từ đời này sang đời khác.
Ngay cả khi còn chƣa biết chữ, mỗi lần đƣợc đắm mình vào thế giới
những câu chuyện cổ tích kì diệu, trong trí tƣởng tƣợng của các em có thể
phần nào hình dung và nhớ đƣợc một số chi tiết. Sở dĩ các em có cảm giác
yêu nhân vật này hơn nhân vật khác, thích câu chuyện này hay khoog thích
câu chuyện kia… là vì các em đã có những “cảm nhận chủ quan” về câu
chuyện đƣợc nghe.
Đến bậc Tiểu học, lần đầu tiên các em đƣợc tiếp xúc với tác phẩm văn
học bằng chữ viết, chữ viết tiếp tục đƣa các em đi xa hơn nữa trong việc cảm
thụ thế giới văn chƣơng. Mở trang sách Tiếng Việt ở trƣờng Tiểu học: học
lớp Một mới. Ngập ngừng, lƣu luyến, các em chào cô giáo kính mến, đồng
12
thời không quên chào bảng đen, cửa sổ, chỗ ngồi, những đồ vật biết bao thân
thiết từng gắn bó với mình. Đọc bài thơ mà trào dâng nỗi niềm da diết, trào
dâng nỗi xao xuyến, bồi hồi!
Từ ví dụ trên cho ta thấy: từ nghe đến đọc, rõ ràng không phải chỉ là việc
chúng ta nghe hay đọc một cách thuần túy, mà thực sự là trong nghe có hiểu,
trong đọc có hiểu, vừa nghe – hiểu vừa đọc – hiểu. Hiện tƣợng đó dù là ở những
dấu hiệu sơ khai nhất chính là các em thực sự đã tham gia cảm thụ văn học.
Tuy nhiên, lứa tuổi tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiện
những nội dung trừu tƣợng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt. Đó là do tƣ
duy logic ở các em chƣa phát triển ở ngƣời trƣởng thành.
Trong cảm thụ văn học, học sinh tiểu học có những đặc điểm riêng biệt,
tạo nên lợi thế trong cảm quan tuổi thơ. Đó là sự nhạy cảm, trong sáng, hồn
nhiên, chân thật, ngộ nghĩnh rất đáng quý ở các em. Trong con mắt trẻ thơ,
thế giới luôn đầy tính ngạc nhiên. Ngƣời ta thƣờng nói tới “nhãn quan trẻ thơ”
tức cách nhìn từ góc độtrẻ thơ. Thật vậy, dƣới nhãn quan này, cuộc sống luôn
hiện ra những điều mới mẻ. Ngay cả những gì bình thƣờng nhất đang diễn ra
hàng ngày, đối với trẻ thơ cũng có thể đầy sự mới lạ, hấp dẫn. Đó chính là
“tính ngạc nhiên” trong quan sát và thể hiện trong cuộc sống của tuổi thơ.
“Tính ngạc nhiên” là sự tất yếu trong cách nhìn của trẻ. Đó là vì lần đầu
tiên, các em đƣợc chứng kiến tất cả những gì đang diễn ra, đang phát triển
trƣớc mắt mình.
“Tính ngạc nhiên” làm nên đặc trƣng riêng biệt cho nhãn quan trẻ thơ:
vừa ngộ nghĩnh, đáng yêu, lại vừa cho ta thấy vẻ đẹp trung thực, trong sáng,
cội nguồn của tinh thần con ngƣời.
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em, tính “ngạc nhiên” là điều
kiện không thể thiếu trong mọi tác phẩm. Do vậy, cảm thụ văn học đối với trẻ
thơ cũng phải luôn chứa đầy “tính ngạc nhiên”.
13
chức và sâu sắc của trẻ còn yếu, trẻ thƣờng phân biệt những chi tiết ngẫu
nhiên mà ngƣời lớn ít chú ý đến nhƣng chƣa nhìn thấy đƣợc những chi tiết
quan trọng và bản chất [7; 4].
Trong quá trình học tập khi tri giác là một hoạt động nhằm mục đích đặc
biệt, trở nên sâu sắc và phức tạp hơn, trở thành một hoạt động có phân tích,
phân biệt hơn, thì tri giác sẽ mang tính chất của một sự quan sát có tổ chức.
V.A.Krutexki cho rằng: “Sự phát triển của tri giác không tự bản thân nó
xuất hiện đƣợc. Ở đây, vai trò của GV rất lớn, GV là ngƣời hàng ngày không
chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn, xem mà còn nhận xét, không chỉ nghe mà còn lắng
nghe, đặc biệt là tổ chức cho HS hoạt động để tri giác những đối tƣợng nào
đó, dạy cho trẻ vạch ra những dấu hiệu bản chất, những thuộc tính bản chất,
chỉ dẫn cho trẻ cần chú ý đến cái gì, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối
tƣợng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch [12].
Từ những đặc điểm tri giác trên cho thấy tri giác của trẻ không tự nhiên
mà có. Điều đó yêu cầu ngƣời giáo viên không chỉ dạy cho trẻ em nhìn , xem,
mà còn phải dạy cho trẻ em nhận xét, biết nghe và biết lắng nghe, và đặc biệt
là tổ chức cho học sinh hoạt động để tri giác đối tƣợng một cách tích cực, dạy
trẻ vạch ra những dấu hiệu bản chất, những thuộc tính bản chất, phải làm thế
nào đó để trẻ có thể biết cần chú ý đến cái gì, rèn luyện cho trẻ phân tích
những đối tƣợng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch. Đây cũng
chính là cơ sở để xây dựng các biện pháp, nhằm bồi dƣỡng năng lực CTVH
cho HSTH.
1.1.4.1.2. Khả năng chú ý
Đối với HSTH cùng một lúc các em chƣa chú ý đến đƣợc nhiều đối
tƣợng và sự phát hiện cũng chƣa cao nên việc duy trì sự tập chung chú ý 40
phút trong mỗi giờ học thƣờng bị phá vỡ bởi những việc riêng nhất là khi học
15
các phân môn của môn Tiếng Việt và phần rèn luyện CTVH cuối mỗi giờ
học. Do đó để bồi dƣỡng năng lực CTVH, ƣơm mầm năng khiếu văn chƣơng
cũng nhƣ việc giúp các em cảm nhận đƣợc giá trị thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật,
chúng ta có thể xác lập đƣợc một hệ thống bài tập bồi dƣỡng năng lực cảm
thụ văn học phù hợp với sự phát triển tƣ duy của các em nhằm bồi dƣỡng
năng lực cảm thụ văn học cho các em.
1.1.4.2. Về mặt tình cảm
Tình cảm của HS tiểu học mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc.
Tình cảm đó đƣợc biểu hiện trong quan hệ đời sống hàng ngày và cả trong
hoạt động tƣ duy của các em. Tình cảm đời sống thể hiện ở việc các em chăm
lo đến kết quả học tập, hài lòng khi có kết quả tốt và ngƣợc lại các em sẽ buồn
bực lo lắng nếu nhƣ kết quả không cao, tình cảm đời sống còn đƣợc thể hiện ở
mối quan hệ giữa các em với gia đình và trong giao lƣu với những ngƣời xung
quanh. Tình cảm trí tuệ của các em thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu thế giới sự
vật xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng năng lực cảm thụ của HS lớp 4 ở một số trường trên địa
bàn huyện Vĩnh Tường hiện nay
Để khảo sát toàn diện chất lƣợng học tập, thực trạng năng lực CTVH của
học sinh Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành một thực nghiệm mang tính thăm
dò: cho học sinh cả 3 trường Tiểu học nêu trên cùng làm một bài khảo sát
về năng lực CTVH (xem: “Phiếu điều tra thực trạng năng lực CTVH của
học sinh Tiểu học” ở phần phụ lục 2). Bài khảo sát này là các bài trắc
nghiệm về CTVH, trong đó có các bài tập kiểm tra việc tìm hiểu và vận dụng
một số biện pháp tu từ gần gũi với các em, bài tập kiểm tra khả năng đọc diễn
cảm có sáng tạo, bài tập kiểm tra khả năng trần thuật lại văn bản, bài tập kiểm
17
tra kĩ năng đối chiếu văn bản với các loại hình nghệ thuật khác, bài tập kiểm
tra khả năng bộc lộ CTVH của các em qua một đoạn viết ngắn. Kết quả thu
đƣợc trên 180 học sinh thuộc 3 trƣờng Tiểu học (nhƣ đã nêu ở trên) nhƣ sau:
Bảng 6: Thực trạng năng lực CTVH của HSTH hiện nay
(Khảo sát trên tổng số 180 học sinh)
TT
Năng lực đọc diễn cảm có sáng
tạo
15%
25%
50%
10%
5
Năng lực trần thuật sáng tạo
8%
15%
67,2%
10%
6
Năng lực đối chiếu văn bản với
các loại hình nghệ thuật khác
5%
10%
65%
20%
7
Năng lực bộc lộ CTVH qua một
đoạn viết ngắn
12,8%
17,8%
52,2%
17,2%
Kết quả khảo trên cho chúng ta thấy số HS giỏi về năng lực CTVH đang
còn chiếm tỉ lệ rất thấp, số học sinh còn yếu về năng lực này chiếm tỉ lệ khá
cao. Về cơ bản các em đang còn thiếu rất nhiều các kĩ năng và kiến thức đặc