Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4 - Pdf 30

Bô GIÁO DUC VÀ ĐÀO TAO
• • • TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
PHAN KIM DUNG
BÒI DƯỠNG NĂNG Lưc CẢM THU VĂN HOC
• • • CHO HỌC SINH LỚP 4
m
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học) Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC Sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
• • • •
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Minh Đức
HÀ NỘI, 2014
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Bùi Minh Đức
người hướng dẫn khoa học; các thầy cô giáo trong và ngoài trường ĐHSP Hà
Nội 2; các cô giáo trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân, trường Tiểu học Thị
Trấn Vĩnh Tường, trường Tiểu học Thị Trấn Thổ Tang (VTnh Phúc) đã tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014 Học viên
Phan Kim Dung
Tôi xin cam đoan luận văn: “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4
” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong luận văn là trung
thực.
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào
khác.
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
1.1.1.1.
1.1.1.2.
về
khả năng phát hiện các tín hiệu nghệ thuật và cảm thụ
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viêt tăt Dịch nghĩa

theo định hướng dạy học phát triển năng lực cho người học, trong đó
có các năng lực trí tuệ - cảm xúc. Vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ
văn học cho học sinh lớp 4 là một vấn đề khó, chưa được nhiều công
trình khoa học nghiên cứu. Đây là vấn đề phức tạp vì học sinh tiểu học
tư duy trừu tượng đang được hình thành và phát triển, các em tiếp nhận
vấn đề này tương đối vất vả. Mà ở tiểu học lại chưa có phân môn học
4
riêng cho cảm thụ văn học, chủ yếu giáo viên phải bồi dưỡng lồng
ghép thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt như Tập đọc, Kể
chuyện, Tập làm văn Không những thế, cảm thụ văn học cũng được
đánh giá là một vấn đề khó đối với giáo viên. Thực tế cho thấy, khả
năng cảm thụ văn học của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế.
Học sinh không tìm được những từ “chìa khoá”, những tò cốt lõi, ẩn
chứa nội dung, những dấu hiệu mang tính nghệ thuật của văn bản. Học
sinh chưa phát hiện được, chưa hiểu hết được cái hay, cái đẹp của từ,
ngữ, ý thơ, câu văn trong một văn bản cụ thể. Nếu có cảm nhận được
thì học sinh diễn đạt ý còn rườm rà hoặc cộc lốc chưa thể hiện hết nội
dung cảm nhận. Đó chính là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng
lực cảm thụ văn học của học sinh còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, tôi
cho rằng, việc nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm
bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh ở bậc tiểu học là một
việc làm thiết thực, góp phần thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
1.3. Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học luôn coi nhiệm vụ bồi
dưỡng năng lực cảm thụ văn cho học sinh Tiểu học là nhiệm vụ quan
trọng nhằm bồi dưỡng tình yêu của các em đối với thế giới văn học,
vói tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
tiếng Việt, từ đó góp phần hình thảnh nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Ngoài các văn bản đọc hiểu trong phân môn Tập đọc,
Chương trình, SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học còn có một số lượng lớn

học (HSTH) nên đã cho ra đời cuốn sách viết chung: ”Tìm hiểu yẻ đẹp ở bài thơ
Tiểu học”. Nội dung cuốn sách là những gợi ý tìm hiểu các bài thơ trong chương
6
trình, chỉ ra một số đặc điểm cần lưu ý khi đọc và tìm hiểu các bài thơ trong
chương trình đồng thời giải nghĩa một số tò ngữ, hướng dẫn cho các em cách
thưởng thức Yẻ đẹp của tác phẩm.
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “Vẻ đẹp ngôn ngữ học qua các bài tập đọc 4-
5” đã chú ý khai thác phương diện ngôn ngữ của các bài văn, bài thơ. Cuốn sách
chia làm 2 phần: Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ trong các bài tập đọc và cung cấp
một số kiến thức cơ bản về phân tích các biện pháp tu từ mà học sinh thường gặp
để làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc vận dụng, phân tích thơ văn của HSTH. Các
công trình nghiên cứu trên đây đã có nhiều ý kiến sâu sắc và đã đóng góp rất lớn
vào vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS.
Nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh vói “Cảm
thụ Văn tiểu học 4, Cảm thụ Văn tiểu học 5” dựa vào các văn bản bài đọc Tập
đọc ở lớp 4,5 để gợi ý hướng dẫn theo một hệ thống câu hỏi, giúp các em đọc
hiểu bài đọc. Đối với những bài văn, bài thơ hay thì có thêm phần “nêu cảm
nhận” hoặc “nêu cảm nghĩ”. Đặc biệt một số công trình được đầu tư nghiên cứu
trong thời gian dài và có tính bao trùm toàn bộ vấn đề cảm thụ văn học ở Tiểu
học như các tác giả Lê Phương Nga, Phan Trọng Luận, Đinh Trọng Lạc.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ các tác phẩm
văn chương mà các tác giả đưa ra chưa cụ thể, còn nặng về mặt lí thuyết, kết quả
của việc cảm thụ tác phẩm văn chương phụ thuộc nhiều vào chủ quan của tác giả
(cảm thụ của người lớn).
Trong đề tài nghiên cứu này, một mặt, chúng tôi tiếp tục kế thừa kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, mặt khác, trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp cụ thể để bồi dưỡng năng lực cảm thụ các tác phẩm văn học cho
HSTH.
7
3. Mục đích nghiên cứu

- Mở đầu
- Nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ
văn học cho HS lớp 4
+ Chương 2: Các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS
lớp 4
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Phụ lục
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG
Lực CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái quát về cảm thụ văn học
1.1.1.1. Khái niệm cảm thụ văn học
Trong từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi đồng chủ biên) chỉ giải thích các thuật ngữ: tiếp nhận văn học, thưởng thức
9
văn học, không có thuật ngữ cảm thụ văn học. Như vậy có thể suy ra rằng, cảm
thụ văn học không được coi là một thuật ngữ, một khái niệm hay nó được coi là
một thuật ngữ bao trùm tất cả các khái niệm sau đây.
Có thể hiểu cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa
đựng trong thế giới ngôn tò, hệ thống tín hiệu thứ hai của loài người. Cảm thụ
văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tinh
tế, đẹp đẽ của văn học được thể hiện trong tác phẩm [10].
Theo: “Giáo trình cảm thụ văn học” (dành cho hệ dào tạo cử nhân Giáo
dục tiểu học của tác giả Dương Thị Hương, NXB Đại học Sư phạm 2009),
“Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất,

loại ra khỏi cái thế giới người, chỉ còn biết thui thủi một mình thổ lộ tâm tư cùng
những vật vô tri vô giác.” [6]
Như vậy, CTVH có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài thơ,
ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thật gần gũi, “nhập
thân” với những gì đã đọc
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng từng nhớ lại tuổi ấu thơ và viết như
sau: “Dể Mèn phiêu lưu kí giúp tôi phát hiện tình bạn như một sức mạnh kì diệu
của tâm hồn, Khi đói quá sắp chết thì Dế Trũi đã đưa càng cho Dế Mèn đề nghị
bạn ăn lấy thịt mình để mà sống. Tôi nhận ra rằng chính Mèn và Trũi mới là nhân
vật của tâm hồn tôi, đã làm tôi chảy nước mắt.” [6]
Rõ ràng, đọc có suy ngẫm, tưởng tượng (hay liên tưởng) và rung cảm thật sự
sẽ giúp ta CTVH tốt. Đúng như nhà văn Anh Đức đã tâm sự: “khi đọc, tôi không
chỉ thấy dòng chữ, mà còn thấy cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều
khi dẫn tôi đi rất xa, vẽ thêu ra lắm điều thú vị” [6]
Cũng cần nói thêm, CTVH diễn ra ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau
do nhiều yếu tố quyết định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến
thức, tình cảm và thái độ khi tiếp xúc với văn học, Ngay cả ở một người, sự
1
1
cảm thụ về một bài văn, bài thơ trong những thời điểm khác nhau cũng có nhiều
biến đổi. Chính nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã từng bộc lộ: “Riêng bài
ca dao Con cò mà đi ăn đêm thì ở mỗi độ tuổi của đời người, tôi lại cảm nhận
một cái hay riêng của nó, và cho đến bây giờ, tôi cảm thấy rằng tôi vẫn chưa đi
thấu tận cùng vẻ đẹp của bài học thuộc lòng thuở nhỏ ấy.” [6]
1.1.2. Năng lưc cảm thu văn hoc ở lứa tuổi tiểu hoc
oi • • •
1.1.2.1. Khái niệm năng lực cảm thụ văn học:
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù họp với những
yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả.
Năng lực CTVH là tổ hợp các yếu tố như kiến thức, kĩ năng, vốn sống, kinh

1
3
Trường Tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện một số
kĩ năng, năng lực cẩn thiết cho cảm thụ văn học. Học sinh bắt đầu làm quen vói
các thao tác, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Đó là những câu hỏi,
những bài tập yêu cầu phát hiện ý của đoạn văn, đoạn thơ, ý chính hay nội dung
của bài thơ, bài văn hoặc tìm từ, ngữ “chìa khóa” làm nên cái hay cái đẹp của
đoạn văn bản Học sinh cũng được trang bị một số kiến thức về hình tượng, về
ngôn ngữ nghệ thuật thông qua hệ thống câu hỏi, bài của bài tập đọc
Ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng nhạy cảm, tinh tế ttong cảm thụ của các em
mang những đặc thù riêng. Tình cảm, tâm hồn của các em rất hồn nhiên, trong
sáng, rất dễ rung động trước những kích thích, trong đó có kích thích thẩm mĩ.
Chẳng hạn: Học sinh lớp 1 chuẩn bị được nghỉ hè để năm học tới lên học
lớp Hai, trong bổi cuối các em luyện đọc:
Lớp Một ơi! Lớp Một Đón em
vào năm trước Chào bảng đen
cửa sổ Chào nơi ngồi thân quen
Tất cả! Chào ở lại Đón các bạn
nhỏ lên Chào cô giáo kính mến
Cô sẽ xa chúng em
Nay giờ phút chia tay Gửi lời
chào tiến bước! Làm theo lời cô
dạy Cô sẽ luôn ở bên Lớp Một
ơi! Lớp Một Đón em vào năm
trước Nay giờ phút chia tay
1
4
Gửi lời chào tiến bước (Gửi lời chào lớp Một - Hữu Tưởng) Chia tay lớp Một, các
em như đang trong tâm ừạng khó tả: vừa vui mừng khôn xiết vì đã được nghỉ hè,
vì sắp được lên lớp Hai; song nghỉ hè, cũng phải chia tay cô giáo đã dạy mình để

•/
• t I •
1
5
Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học luôn coi nhiệm vụ bồi dưỡng
năng lực CTVH cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng nhằm “Bồi dưỡng tình
yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự ừong sáng, giàu đẹp của tiếng
Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho
học sinh”. Dưới sự dẫn dắt của thầy giáo, cô giáo, những bài thơ, bài văn hay
trong sách giáo khoa sẽ đem đến cho các em bao điều kì thú và hấp dẫn. Tuy
nhiên, muốn trở thành một học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt, mỗi em
cần phải tự giác phấn đấu và rèn luyện về nhiều mặt. Kinh nghiệm của nhiều
nhà văn, nhà thơ hồi nhỏ và của các bạn học sinh giỏi ở Tiểu học từ trước tới
nay đều cho thấy: để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần
có sự say mê, hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết
về thực tế cuộc sống và văn học; nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt phục
vụ cho cảm thụ văn học; kiên trì rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn
học.
1.1.4. Một sổ đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học liên quan đến
bồi dưỡng năng lực cảm, thụ văn học
Tuổi học sinh tiểu học là giai đoạn phát triển quan trọng nhất của con
người. Tuổi tiểu học được tính từ 6 đến 11 tuổi đối với vùng có điều kiện kinh tế
phát triển và từ 6 đến 14 tuổi đối với vùng kinh tế khó khăn. Ở giai đoạn này,
hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo. Để quá trình bồi dưỡng có hiệu quả thì
việc nắm vững các đặc điểm tâm-sinh lý của trẻ là rất quan trọng. Sau đây chúng
tôi nêu ra một số đặc điểm tâm-sinh lý của HSTH làm cơ sở cho việc xây dựng
các biện pháp bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh.
1.1.4.1.
về
mặt nhận thức

mỗi giờ học thường bị phá YỠ bởi những việc riêng nhất là khi học các phân
môn của môn Tiếng Việt và phần rèn luyện CTVH cuối mỗi giờ học. Do đó để
bồi dưỡng năng lực CTVH, ươm mầm năng khiếu văn chương cũng như việc
giúp các em cảm nhận được giá trị thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật, giá tn giáo dục
trong mỗi tác phẩm, GV nên phối hợp linh hoạt các biện pháp, các con đường
1
7
tiếp cận khác nhau. Hơn nữa, các em chỉ có thể lĩnh hội được những giá trị trên
khi các em đã được luyện đọc cũng như tìm hiểu kĩ và nắm được nội dung tác
phẩm.
1.1.4.1.3. Trí nhớ
Nhìn chung ttẻ em tiểu học có trí nhớ tốt, cả ghi nhớ chủ định và không chủ
định đều đang phát triển, ở cuối bậc tiểu học ghi nhớ chủ định của các em phát
triển mạnh. Việc ghi nhớ các tài liệu trực quan hình tượng có nhiều hiệu quả.
Khả năng ghi nhớ từ ngữ rất tốt, tuy nhiên việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ cụ thể
vẫn có nhiều hiệu quả hơn việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ trừu tượng. Điều này
cho ta thấy tác dụng của việc rèn luyện thường xuyên các tố chất ngôn ngữ là
cần thiết và thiết thực.
1.1.4.1.4. Tưởng tượng
Tưởng tượng của HS tiểu học được hình thành trong quá trình học tập. Ở
các lớp đầu bậc tiểu học hình ảnh tưởng tượng của các em còn giản đơn và
không bền vững. Hình ảnh tưởng tượng của các em bền vững và gần thực tế hơn
khi các em bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã có từ
trước và dựa trên vốn ngôn ngữ.
1.1.4.1.5 Tư duy
Theo các nhà tâm lí học, tư duy của trẻ em ở bậc tiểu học chuyển dần từ
trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát nhờ vào khả năng ngôn ngữ
của các em. Tư duy ở cấp độ cao được xác lập khi trẻ em đã thay thế công cụ tư
duy từ vật thật, hình ảnh cụ thể sang cấp độ tư duy ngôn ngữ.
Khi hình thành khái niệm HS dựa vào những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ

tra kĩ năng đối chiếu văn bản với các loại hình nghệ thuật khác, bài tập kiểm
tra khả năng bộc lộ CTVH của các em qua một đoạn viết ngắn. Kết quả thu
được trên 180 học sinh thuộc 3 trường Tiểu học (như đã nêu ở ừên) như sau:
Bảng 6: Thực trạng năng lực CTVH của HSTH hiện nay
(Khảo sát trên tổng số 180 học sinh)
1
9
TT NÔI DUNG ĐÁNH GIÁ MỨC Độ (%)
Giỏi Khá T.Bình Yêu
1
Năng lực tìm hiêu tác dụng của cách
dùng từ, đặt câu sinh động
5% 15% 65% 15%
2
Năng lực phát hiện những hình ảnh,
chi tiết có tác dụng gợi tả
10% 20% 60% 10%
3
Năng lực tìm hiêu và vận dụng một
số biện pháp tu tò gàn gũi (so sánh,
nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ)
7,8% 17,8% 62,2% 12,2%
4
Năng lực đọc diên cảm có sáng tạo
15% 25% 50% 10%
5 Năng lực trân thuật sáng tạo 8% 15% 67,2% 10%
6
Năng lực đôi chiêu văn bản với các
loại hình nghệ thuật khác
5% 10% 65% 20%

TT Các khái niệm vê năng lực CTVH ở Tiêu học Sô ý kiên Tỉ lệ (%)
1
Là khả năng tiêp nhận vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ
đẹp của cách nói văn chương. Khả năng phát
hiện được những tín hiệu nghệ thuật và đánh
giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung.
21 23%
2
Là khả năng hiêu được nội dung, ý nghĩa của
văn bản được đọc.
42 47%
3
Là khả năng phát hiện và cảm nhận được các
biện pháp tu tò gần gủi với các em.
16 18%
4
Là khả năng cảm nhận và sáng tạo các văn bản
nghệ thuật.
11 12%
?
ĩ
r|H A A
Tông sô
90 100%
2
1
Kết quả điều tra cho thấy:
- Ở phương án trả lời thứ nhất: Đây là cách hiểu đúng nhất và đầy đủ nhất
về năng lực CTVH của HSTH nhưng số GV đồng ý với ý kiến này chỉ
chiếm tỉ lệ khá khiêm tốn 23%.

khi được hỏi về vai trò của năng lực này trong việc nâng cao chất lượng giáo
dục nhân cách toàn diện ở Tiểu học thì có tới 78% số GV đồng ý, điều này mâu
thuẫn với quan niệm ban đàu được khảo sát.
Qua đây chúng ta có thể hiểu rằng: đa số các GV rất trăn trở trong việc tìm
kiếm các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu
học nhưng lại chưa thấy được vai ừò của năng lực CTVH ừong quá trình nâng
cao chất lượng dạy học và giáo dục nhân cách con người Việt Nam thế hệ mới,
cũng như vai trò của CTVH trong việc vận dụng ngôn ngữ vào cuộc sống, học
tập cũng như trong việc sản sinh văn bản của HS.
TT NỌI DƯNG ĐANH GIA Mức độ (%)
Trở ngại
nhiều
Trở ngại ít
Không trở
ngại
1
HS không có hứng thú khi tiêp xúc
với văn học.
56% 44% 0%
2
Không có điêu kiện đê tô chức
tham quan, quan sát, ừải nghiệm
thực tế cho HS.
30% 40% 30%
3
Không có thời gian đê tô chức các
buổi ngoại khoá TV cho các em.
20% 30% 50%
4
Tài liệu, sánh báo vê văn học phù

nhỏ, ý thức tổ chức chưa cao.
Từ những trở ngại ừên dẫn đến kết quả khi làm bài viết, nhất là tập làm văn
đều thể hiện kĩ năng hành văn của các em là rất kém. Chính vì vậy kết quả làm
bài ở các làn kiểm tra định kì các em thường bị mất điểm ở phần viết.
1.2.2.2. Vấn đề khai thác nội dung, ỷ nghĩa, tác dụng của các văn bản
nghệ thuật trong dạy đọc hiểu nhằm bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS
Nội dung, chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học bắt đầu từ năm học
2004 - 2005 đã được thay đổi toàn bộ cho phù họp với yêu càu nhận thức thực tế
cuộc sống của HS. Đến nay, chương trình mới đã được thực hiện qua nhiều năm
nhưng đa số GV vẫn chưa thật thảnh thạo do thiếu sự cập nhật kiến thức mới.
Nhiều GV còn gặp khỏ khăn trong việc xác định mục đích, ý nghĩa, tác dụng
giáo dục của bài đọc (ngoài việc rèn luyện các kiến thức, kĩ năng về tiếng Việt
còn là việc rèn luyện khả năng tư duy ngôn ngữ ; khả năng lĩnh hội, tái tạo và
sản sinh văn bản). Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng cho đến nay, nhiều GV
vẫn chưa khai thác hết nội dung bài học. Hầu hết các văn bản nghệ thuật được
đưa vào chương trình là những tác phẩm, đoạn, những bài văn đoạn thơ được
chọn lọc kĩ càng tiêu biểu cho các chủ điểm. Điều đó đòi hỏi GV ngoài những
kiến thức, kĩ năng đã có về văn học còn cần phải cập nhật thông tin từ những
phương tiện truyền thông, để có thể lĩnh hội và truyền thụ hết những giá trị nghệ
thuật chứa đựng trong mỗi bài đọc cho HS.
2
5

Trích đoạn Dạng bài tập phát hiện những hình ảnh đẹp, ẩn tượng; những chi tiết có tác dụng gọi tả Dạng bài tập tìm hiểu và vận dụng một số các phương tiện, các biện pháp tu từ gần gũi với HSTH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status