MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết: Cờ vua là một môn thể thao được phát triển từ năm 1980
ở nước ta, trải qua quá trình hình thành và phát triển đến nay Cờ vua đã trở
thành một nhu cầu sinh hoạt văn hoá - thể thao của mọi tầng lớp nhân dân, đặc
biệt trong thanh thiếu niên và nhi đồng. Các tuyển thủ của chúng ta đã đạt được
các thành tích cao tại các giải khu vực, châu lục và thế giới. Chính vì vậy Cờ
vua được ngành thể dục thể thao xác định là một trong những môn thể thao mũi
nhọn, được tập trung đầu tư.
Song bên cạnh những mặt mạnh, công tác đào tạo huấn luyện viên, giảng
viên, VĐV Cờ Vua hiện nay ở nước ta còn nhiều tồn tại, kìm hãm sự phát triển
của chính môn thể thao này. Đặc biệt là nâng cao kỹ năng chiếu hết trong một số
nước đi hạn định của VĐV trong công tác huấn luyện.
Tác động có hướng đích bằng các bài tập chuyên môn nhằm nâng cao kỹ
năng chiếu hết cho VĐV Cờ vua có ý nghĩa chủ đạo trong việc nâng cao khả
năng tính toán với các thế biến này sinh liên tục và phức tạp. Đặc biệt là việc
nâng cao khả năng tư duy chiến thuật, nó giúp VĐV nâng cao khả năng phân
tích – đánh giá và lập kế hoạch chơi. Kỹ năng chiếu hết thực chất là quá trình tư
duy liên tục nhằm tìm ra những nước đi hiệu quả nhất ở những tình huống cờ
thay đổi trong quá trình thi đấu. Kỹ năng này giúp người học nâng cao khả năng
linh cảm , sự phối hợp giữa các quân trên bàn cờ hướng vào việc giải quyết
nhiệm vụ rõ ràng là chiếu hết, cầu hòa, bắt quân…Gần hơn nữa là sự chuẩn bị
cho đấu thủ có kế hoạch, các đòn chiến thuật, cũng như định hướng chiến lược.
Do vậy việc nâng cao kỹ năng chiếu hết là điều hết sức cần thiết.
Qua tìm hiểu một số giải Cờ Vua, nhận thấy nhiều VĐV có ưu thế trong
tàn cuộc song đáng tiếc lại không giành phần thắng vì kỹ năng chiếu hết còn
kém. Với mục tiêu lâu dài là từng bước hoàn thiện kỹ năng chiếu hết cho sinh
viên chuyên sâu Cờ vua, cần thiết phải tiến hành đồng bộ việc bổ sung các cơ sở
lý luận vfa đặc biệt lfa các nhóm bài tập, bài tập cụ thể. Đây cũng là vấn đề đã
được quan tâm nghiên cứu nhưng phần lớn chỉ giúp nâng cao kỹ năng chiếu hết
1
chung còn kỹ năng chiếu hết trong hai nước đi thì chưa có tác giả nào đề cập chi
cách hình tượng) là một môn thể thao bất động. Bởi vì, trong suốt quá trình hoạt
động sáng tạo, thi đấu, VĐV Cờ vua dùng phần lớn thời gian ngồi sau bàn cờ,
nghĩa là đưa tới một nếp sống ít hoạt động. Với đặc điểm Cờ vua là môn thể
thao trí tuệ, lượng vân động trong Cờ vua là lượng vận động tâm lý, tác động
trực tiếp vào quá trình tư duy của người tập nên cần phải chú ý đến tính chất đặc
biệt này. Bởi vì, trong các môn thể thao khác (đặc biệt trong thời kỳ tiến hành
thi đấu), sự căng thẳng về cảm xúc thường được kết hợp với việc tăng cường
hoặt động cơ bắp. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì tăng cường hoạt động cơ
bắp sẽ bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng không có lợi của hệ thần kinh và hệ tim
mạch. Cờ vua là một dạng hoạt động thể thao có sự căng thẳng về cảm xúc thần
kinh cao độ, dẫn tới một số trường hợp có thể gây ảnh hưởng không tốt đến tình
trạng sức khỏe. Trước đây, có một số quan niệm cho rằng, trên cơ sở tính toán
đến những tác động nguy hại của sự căng thẳng về cảm xúc, có thể xây dựng
được những biện pháp, thậm chí trong một vài trường hợp có thể dùng cả các
chất dược liệu, để nhanh chóng làm giảm đi những căng thẳng đó trong thời gian
thi đấu. Song không nên coi đó là chuẩn mực, vì bản thân những căng thẳng cảm
xúc đó lại là chính những điều kiện cần thiết cho quá trình tư duy sang tạo của
VĐV Cờ vua. Hơn nữa, việc không có khả năng duy trì và chịu đựng những sự
căng thẳng cảm xúc ở mức độ cao lại là một trong những nguyên nhân làm giảm
đi khả năng chơi của VĐV nghĩa là làm mất đi trạng thái sung sức thể thao của
VĐV Cờ vua.
3
Vì vậy, việc định mức áp dụng lượng vận động phù hợp đối với từng
VĐV trong trong tập luyện và thi đấu Cờ vua là một vấn đề hết sức quan trọng
đối với việc đạt được thành tích cao trong thi đấu.
Lượng vận động tâm lý trong Cờ vua chính là sự căng thẳng về cảm xúc
và thần kinh do mật độ, độ khó của bài tập cờ, tình huống cũng như thời gian
thực hiện bài tập, tình huống đó. Các tác nhân tâm lý (cường độ cảm xúc, sự
căng thẳng về lý trí…) có tác động mạnh thì làm tăng cường hoặc làm giảm sút
khả năng chức phận của cơ thể. Theo giáo sư P.Kunat lượng vận động tâm lý là
Những yếu tố nói trên ảnh hưởng tới mức căng thẳng tâm lý và có thể
chiếm ưu thế trong khi xác định lượng vận động. Sự căng thẳng tâm lý cao nhất
được biểu hiện trong các cuộc đấu quan trọng.
1.1.2. Đặc điểm sinh lý.
Vấn đề giá trị sinh lý của ván đấu Cờ vua luôn luôn thu hút sự quan tâm
lớn và đầy thú vị. Bởi lẽ, kết quả của các ván đấu không chỉ có giá trị thuần túy
thể thao (thua, thắng, hòa) và giá trị về chất lượng ván đấu, mà quan trọng chính
là giá trị tâm – sinh lý mà các ván đấu đó đem lại. Thiếu giá trị này, sẽ rất khó
khăn trong việc trong việc chuẩn hóa lượng vận động trong thi đấu, trong việc
dự báo thành tích các VĐV Cờ vua.
Trong những năm 1980-1987, tại khoa Cờ vua trường đại học Matxcơva
đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu quá tình quyết định trong điều kiện
stress với thời gian hạn hẹp (Model Cờ vua)”. Kết quả nghiên cứu đề tài này với
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khác đã chỉ ra rằng, với lượng vận
động thi đấu lớn và không quen thuộc sẽ dẫn tới mệt mỏi tương đối nhanh và
hiệu quả là một số VĐV Cờ vua xuất hiện các “khoảng tối” trong việc nhìn nhận
các thế cờ. Nghĩa là việc định vị được trong trí nhớ chỉ một phần nào đó của bàn
cờ, nơi diễn ra các sự kiện quan trọng hơn cả.
5
Trong quá trình thử nghiệm đã sử dụng tổ hợp các phương pháp về tâm –
sinh lý bao gồm: ghi điện tâm đồ, xác định huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu,
xác định tần số hô hấp và tần số mạch đập.
Những kết quả thu được từ điện não đồ trong quá trình thửu nghiệm đã
chứng tỏ rằng: Sự biến đổi hoạt lực điện sinh vật của não trong quá trình thực
hiện ván đấu cho phép đánh giá về độ khó của nhiệm vụ mà VĐV Cờ vua phải
giải quyết. Khi chơi trong giai đoạn khai cuộc, với các phương án quen thuộc,
việc lựa chọn nước đi dường như là tự động, không hề có khó khăn thì giá trị
sinh lý của ván đấu là không cao. Trong giai đoạn trung cuộc và tàn cuộc, khi
mà phần lớn các ván đấu được xác định bởi sự tính toán căng thẳng thì giá trị
sinh lý của ván đấu đạt kết quả cao nhất. Cùng qua các thử nghiệm cho thấy, giá
HA
(mmHg)
1. DBKT 94 115/75 114 120/70 114 140/80 156 140/80
2. DBKT 83 140/90 108 150 160/110 120 150/100
3. KT 70 105/55 60 120/70 66 110/70 72 110/60
4. DBKT 78 120/75 64 75 88 140/60
5. DBKT 80 115/70 78 96 130/85 92 130/80
6. DBKT 80 120/65 80 130/70 92 86 140/80
7. DBKT 84 130/80 100 100 150/80 104 140/90
8. DBKT 68 120/75 80 82 130/90 90 135/80
9. DBKT 80 115/60 86 120/70 78 88 130/80
10. DBKT 82 95/55 120 120/70 116 120 130/70
11. DBKT 90 120/70 88 90 98 120/75
12. CL 104 110/60 120 128 120 125/70
1.2. Cơ sở lý luận về chiếu hết trong hai nước đi.
1.2.1. Cơ sở về chiếu hết trong 2 nước đi.
Trạng thái cuối cùng trong một ván đấu Cờ vua là thắng, thua và hòa. Một
trong các mục đích khi tiến hành ván đấu của mọi đấu thủ là chiến thắng, Con
đường để đi đến thắng lợi dù ngắn hay dài đều là chiếu hết đối phương.
Theo thuật ngữ Cờ vua, Chiếu hết (còn gọi là Mat) là một bên khi đến
lượt đi của mình không thể đưa Vua của mình thoát khỏi nước chiếu của đối
phương bằng một trong ba cách sau:
+ Tiêu diệt quân đang chiếu.
+ Dùng quân khác che chằn chắn cho Vua
+ Di chuyển Vua đến một ô cờ hợp lệ
Như vậy nếu muốn chiếu hết đối phương trong hai nước thì phải
chiếu Vua liên tục trong hai nước
hoặc nước đi đầu phải tạo lợi thế
để nước cờ tiếp theo chiếu hết.
Ở ví dụ bên ta thấy nếu quân trắng
Để giảng dạy phương pháp chiếu hết trong 2 nước đi, trong quá trình
giảng dạy thông thường sử dụng các phương tiện cơ bản sau:
- Nhóm phương tiện bổ trợ: Bao gồm các bàn cờ chuyên dụng, các bài tập
"chuyển tốt" trong quá trình phát triển các nâng cao năng lực chuyên môn (Cờ
Nhảy, Cờ Vây, Cờ Tướng ) đặc biệt ngày nay, việc sử dụng máy tính là một
trong những phương tiện bổ trợ rất hiệu quả trong quá trình giảng dạy và huấn
luyện Cờ Vua.
- Nhóm bài tập chuyên môn: Gồm các bài tập nghiên cứu, các bài tập hình
thành kỹ năng chiếu hết trong 2 nước đi. Ở đây chủ yếu là các bài tập đánh giá
về mặt chiến thuật, các đòn phối hợp, các bài tập tính toán và các dạng tàn cuộc
cơ bản chủ yếu là tàn cuộc kỹ thuật.
1.3. Đặc điểm quá trình giảng dạy Cờ Vua cho sinh viên chuyên sâu.
1.3.1. Các nguyên tắc về phương pháp trong giảng dạy
Các nguyên tắc về phương pháp là hạt nhân cơ bản trong việc chọn lựa
những phương pháp để ứng dụng vào quá trình giảng dạy, truyền thụ kiến thức
cho đối tượng giáo dục. Nó được xây dựng trên cơ sở của các quy luật về tâm lý
giáo dục nói chung.
Qua tham khảo giáo trình Cờ vua thấy rằng cần thiết phải tuân thủ các
nguyên tắc mang tính lý luận – phương pháp sau: Nguyên tắc thống nhất giữa
giảng dạy Cờ vua và giáo dục toàn diện; Nguyên tắc hệ thống; Nguyên tắc vừa
sức; Nguyên tắc trực quan; Nguyên tắc bền vững kiến thức và ứng dụng thực
tiễn.
a. Nguyên tắc thống nhất giữa giảng dạy Cờ vua và giáo dục toàn diện.
Giảng dạy Cờ vua và giáo dục toàn diện có mối quan hệ gắn bó biện
chứng với nhau.
Giảng dạy có nghĩa là truyền thụ một khối lượng kiến thức kỹ năng cần
thiết mang tính chuyên môn và đưa ra những khả năng áp dụng những kiến thức,
kỹ năng đó vào thực tiễn.
9
Giáo dục toàn diện hướng học sinh đến việc làm quen với các chuẩn độ về
như: lứa tuối, đặc điểm tâm – sinh lý, khả năng tiếp nhận kiến thức và các đặc
điểm khác của học sinh.
Ở đây cần nhấn mạnh rằng giảng dạy vừa sức không có nghĩa là giảng
viên phải loại bỏ mọi khó khắn trong quá trình học tập của học sinh, mà điều
chủ yếu là tăng cường những cố gắng sáng tạo và giúp đỡ về mặt lý luận cũng
như thay đổi tốc độ hay nhịp độ giảng dạy, tạo cho người học phải thể hiện sự
nỗ lực cố gắng của mình trong việc tiếp nhận những yêu cầu mà giảng viên đặt
ra.
Từ đó phải có cách đối xử phân biệt với từng cá nhân cũng như tìm hiểu
để biết những khả năng thiên bẩm của học sinh và tác động để hoàn thiện chúng.
d. Nguyên tắc trực quan.
Chúng ta biết rằng, đối với đa số mọi người, trí nhớ thị giác là một trong
những loại trí nhớ hiệu quả nhất, bởi vì con người hiểu biết thế giới xung quanh
85% là bằng mắt. Vì vậy “hình ảnh sinh động” có ý nghĩa về mặt nguyên tắc.
Theo các số liệu thông tin khoa học thì khi tiếp thu một vấn đề nào đó mà
những thông tin đó được gắn với trực quan thì khả năng nhận thức của con
người có thể tăng lên, còn dung lượng trí nhớ thậm chí có thể tăng lên đến 55%.
Bới vậy “trực quan là tiền đề của nhận thức” (I.Pêtalôxi)
Nhứ vậy, khi giảng dạy giảng viên luôn phải là người thị phạm và làm
mẫu cho học sinh.
e. Nguyên tắc bền vững kiến thức và khả năng ứng dụng thực tiễn.
Giảng viên cần phải biết là lượng thồng tin luôn phụ thuộc vào phương
pháp truyền thụ nó.Vì vậy việc tiếp thu kiến thức vững chắc luôn ở trong trạng
thái tranh chấp liên tục với “sự dập tắt thông tin” trong các vùng vỏ não với quá
trình “quên”, nên nhiều nhà sư phạm đã khẳng định việc học tập hiệu quả nhất là
ở những thời gian đầu tiêc của giờ học.
Phương tiện để chống lại “sự quên” thông tin chính là liên tực ôn lại kiến
thức không chỉ trong giờ học đó mà còn ở đầu giờ học mới.
11
Quá trình phát triển năng lực và kỹ năng diễn ra theo nhiều nấc – từ hiểu
bị chuyển tác động sang mức thực hiện bằng lời.
Giai đoạn 3: Trộn lẫn tác động thực hiện thực tế bằng tác động có hình
ảnh với lời nói. Để lưu giữ được hình ảnh, theo quy luật cần sử dụng các điều
kiện tác động trực quan hoặc cách tương đương thay thế. Thực chất của giai
đoạn này là ở chỗ đình chỉ tác động được thực hiện về phương diện vật lý và bắt
đầu xây dựng mối liên hệ hình ảnh và ngôn ngữ. Trong một vài trường hợp, giai
đoạn này cần phải tiến hành thông qua một giai đoạn trung gian nhỏ, mà ở đó
cần loại bỏ những điều kiện trực quan và yêu cầu lưu giữ chúng trong hình ảnh
theo cách riêng.
Giai đoạn 4: Thể hiện tác động bằng lời với sự giảm dần vai trò của hình
ảnh. Về thực chất, ở đây bắt đầu bằng sự hạn chế và sau đó dừng hẳn những tác
động hình tượng và chuyển sang thuần túy bằng ngôn ngữ.
Giai đoạn 5: Giai đoạn loại bỏ việc nói thành lời, đầu tiên nó được giảm
dần như nói thầm một mình sau đó trở thành không cần. Hành động đã hoàn
toàn được tự động hóa và được thực hiền thầm trong trí não.
Các giai đoạn nâng cao kỹ năng như trên trong Cờ vua cần được thực hiện
lôgic để phát triển chính xác trình độ cho sinh viên chuyên sâu.
1.4. Chương trình môn học Cờ Vua cho sinh viên chuyên sâu Cờ Vua.
Nội dung môn học Cờ Vua được thiết kế trong 8 học phần, trong đó nội
dung phần chiếu hết trong 2 nước là nội dung cơ bản và đánh giá trình độ thực
hành chính xác nhất của sinh viên ở học phần 1. Trong đó nội dung cụ thể như
sau:
1.4.1. Vị trí môn học và học phần.
Cờ Vua đã được ngành Thể dục Thể thao xác định là môn Thể thao mũi
nhọn trong chiến lược phát triển của Ngành. Bởi vậy, Cờ Vua là một môn học
bắt buộc đối với sinh viên các trường Đại học TDTT. Do đòi hỏi của thực tiễn
phong trào, từ năm 1988, trường Đại học TDTT I đã quyết định đào tạo môn thể
thao chuyên sâu Cờ Vua.
13
Chương trình Cờ Vua này là phần mở đầu của chương trình đào tạo cử
Tự học
1
Bài 1. Tri thức cơ bản của môn Cờ
Vua
4 1 2 2
Bài 2. Các phương tiện chuyên
môn và bổ trợ trong môn Cờ Vua
5 4 2
2
Bài 1. Phương pháp tính toán 3 4 5
Bài 2. Kỹ thuật tàn cuộc 3 5 6
Bài 3. Khai cuộc cơ bản 3 4 7
TỔNG 18 1 19 20
14
1.4.5. Nội dung chương trình môn học Cờ Vua học phần 1.
Học trình 1: Tri thức cơ bản của môn Cờ Vua. Số tiết: 20
a. Lý thuyết: 11 tiết.
Bài 1. Tri thức cơ bản của môn Cờ Vua. 6 tiết.
- Giới thiệu môn học Cờ Vua.
- Lịch sử, xu hướng phát triển môn Cờ Vua.
- Các thuật ngữ, khái niệm cơ bản.
- Cách ghi biên bản và sử dụng đồng hồ Cờ Vua.
- Cách thức nghiên cứu tài liệu Cờ Vua.
- Đặc điểm tâm, sinh lý của hoạt động tập luyện và thi đấu Cờ Vua.
Bài 2. Các phương tiện chuyên môn và bổ trợ trong môn Cờ Vua. 5
tiết.
- Các phương tiện chuyên môn cơ bản trong Cờ Vua. 1 tiết.
- Các phương tiện bổ trợ cơ bản của môn Cờ Vua:
+ Cờ Tướng: 2 tiết.
+ Cờ Vây: 2 tiết.
- Tàn cuộc kỹ thuật: Tàn cuộc Vua chống Vua + Tốt, Vua + Tượng chống
Vua + Tốt, Vua + Mã chống Vua + Tốt, Vua + Xe chống Vua + Tốt, Vua + Hậu
chốnh Vua + Tốt.
- Phương pháp rèn luyện tàn cuộc kỹ thuật.
Bài 3. Khai cuộc cơ bản. 3 tiết.
- Khái niệm, nguyên tắc, phân loại khai cuộc.
- Phương pháp nghiên cứu khai cuộc.
- Một số khai cuộc cơ bản, thông dụng: Khai cuộc ván cờ Ý, Phòng thủ 4
Mã, Xixilia, Scăngđinavơ, Ấn Độ cổ, Gam bít Hậu.
16
b. Tập luyện: 13 tiết.
- Thực hiện các bài tập tính toán. 4 tiết
- Kỹ thuật chiếu hết Vua bằng Hậu, Xe, 2 Tượng, Tượng + Mã: 1 tiết.
+ Tàn cuộc kỹ thuật: Tàn cuộc Vua chống Vua + Tốt, Vua + Tượng chống
Vua + Tốt, Vua + Mã chống Vua + Tốt, Vua + Xe chống Vua + Tốt, Vua + Hậu
chốnh Vua + Tốt: 4 tiết.
- Bài tập nghiên cứu khai cuộ: Khai cuộc ván cờ Ý, Phòng thủ 4 Mã,
Xixilia, Scăngđinavơ, Ấn Độ cổ, Gam bít Hậu: 4 tiết.
c. Tự học: 18 tiết.
- Phương pháp tính toán: 5 tiết.
+ Nghiên cứu lại lý luận để có thể vận dụng vào thực tiễn giải bài tập tính
toán theo chủ đề. (1 tiết)
+ Thực hiện các bài tập tính toán. (4 tiết)
Yêu cầu: biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, giải được các bài tập tính
toán theo công thức.
- Tàn cuộc: 6 tiết.
+ Kỹ thuật chiếu hết Vua bằng Hậu, Xe, 2 Tượng, Tượng + Mã: 2 tiết.
+ Tàn cuộc kỹ thuật: Tàn cuộc Vua chống Vua + Tốt, Vua + Tượng chống
Vua + Tốt, Vua + Mã chống Vua + Tốt, Vua + Xe chống Vua + Tốt, Vua + Hậu
chốnh Vua + Tốt: 4 tiết.
năng chiếu hết trong một số nước đi hạn định, vận dụng hệ thống các test đã lựa
chọn. Các test mà chúng tôi tiến hành kiểm tra là: test cờ tàn kỹ thuật, test tính
toán phương án, test đòn phối hợp. Nội dung, cách thức thực hiện đánh giá của
các test trên được chúng tôi trình bày cụ thể tại phần 3.1.4
2.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp này chúng tôi sử dụng trong việc ứng dụng các bài tập đã
lựa chọn vào thực tiễn giảng dạy nhằm xác định ảnh hưởng của những bài tập đó
đến việc nâng cao kỹ năng chiếu hết trong hai nước cho sinh viên chuyên sâu Cờ
Vua trường Đại học TDTT Bắc Ninh. Từ đó, đưa ra những kết luận chính xác và
khách quan về hiệu quả những bài tập đó trong thực tiễn công tác giảng dạy
2.1.5. Phương pháp toán học thống kê:
Được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý số liệu đã thu thấp được của
quá trình nghiên cứu từ đó rút ra kết luận của bài tập đã chọn.
19
Là phương pháp được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu
đã thu thập được của quá trình nghiên cứu.
Trung bình cộng:
i
x
x
n
=
∑
Phương sai:
( )
2
2
( )
30
1
=
∂
Tính hệ tương quan:
2 2
( )( )
( ) ( )
x x y y
r
x x y y
− −
=
− −
∑
∑ ∑
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2010 đến tháng 5/2011
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2010 đến tháng 05/2010 và
được chia lầm 3 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Từ tháng 03/2010 đến tháng 04/2010.
+ Xác định tên đề tài
+ Lập đề cương, bảo vệ đề cương nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 05/2010 đến tháng 03/2011.
+ Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
20
+ Đánh giá thực trạng trình độ chiếu hết trong hai nước của sinh viên
chuyên sâu Cờ Vua Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
+ Tiến hành phỏng vấn các giảng viên Cờ vua trường Đại học TDTT Bắc
Ninh.
+ Xây dựng kế hoạch thực nghiệm, tiến hành thực nghiện đối tượng
nghiên cứu.
+ Đòn chiếu thắt cổ
+ Đòn mở đường
+ Đòn tiêu diệt quân bảo vệ
+ Đòn che chắn
22
+ Đòn giằng quân
- Phương pháp tính toán: Chủ yếu sử dụng các bài tập Cờ thế chiếu hết
trong 2 nước đi theo chủ đề trắng đi trước.
3.1.2. Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao kỹ năng chiếu hết
trong hai nước đi cho sinh viên chuyên sâu Cờ vua
3.1.2.1. Xác định cơ sở thực tiễn của các bài tập
Xuất phát từ thực trạng trên với mục đích lựa chọn những bài tập nhằm
nâng cao kỹ năng chiếu hết trong hai nước thực sự có hiệu quả cho đối tượng
nghiên cứu, qua tham khảo các giáo viên giảng dạy bộ môn Cờ Trường Đại học
TDTT Bắc Ninh, đề tài đã xác định các dạng bài tập để nâng cao kỹ năng chiếu
hết trong 2 nước đi cho sinh viên chuyên sâu Cờ Vua năm thứ nhất (năm học
phần 1) bao gồm:
- Các bài tập đánh giá về mặt chiến thuật.
- Các bài tập đòn phối hợp.
- Các bài tập đánh giá kỹ năng tính toán.
- Các dạng tàn cuộc cơ bản.
Tuy nhiên ở nội dung giảng dạy ở học phần 1 thì nội dung phần chiến
thuật và đòn phối hợp lại không có, trong khi đây là nội dung mà các dạng bài
tập chiếu hết trong 2 nước chiếm số lượng khá lớn. Nhưng do đây cũng là phần
thuộc dạng chiếu hết trong 2 nước nên đề tài vẫn lựa chọn dạng bài tập này.
Từ thực tiễn việc đánh giá kỹ năng chiếu hết nêu trên qua tham khảo các
tài liệu chuyên môn đề tài đã tổng hợp được các bài tập để nâng cao kỹ năng
chiếu hết cho sinh viên chuyên sâu cụ thể được đề tài trình bày ở bảng 3.1.
Nhằm mục đích lựa chọn các bài tập nâng cao kỹ năng chiếu hết trong 2
nước đi, đề tài tiến hành phỏng vấn các giáo viên môn, cũng như trao đổi qua
Thí quân theo chủ đề 5 71 2 40 2 40 1 20
Chiếu hết bằng quân theo
chủ đề
5 71 2 40 3 60 - -
Đòn đánh lạc hướng 4 57 3 75 1 25 - -
Đòn phong cấp 4 57 2 50 1 25 1 25
Đòn chiếu đôi 6 86 4 67 2 33 - -
Đòn thu hút 5 71 3 60 2 40 - -
3.
Cờ thế
Chiếu hết trong số nước đi
hạn định
3 43 - - 1 33 2 67
Chiếu hết cho bên đi trước 2 29 1 50 1 50 - -
Từ những kết quả thu được ở bảng 3.1 cho thấy:
Trong số 3 nhóm bài tập đưa ra phỏng vấn lựa chọn sử dụng trong việc
hình thành kỹ năng chiếu hết cho sinh viên chuyên sâu Cờ vua có 2 nhóm bài
tập là cờ tàn kỹ thuật và đòn phối hợp được đa số các giảng viên lựa chọn trên
50% và đại đa số các ý kiến chọn lựa những bài tập trên đều xếp chúng ở mức
độ quan trọng trở lên mà chúng tôi quan tâm , đó là các bài tập:
1. Cờ tàn kỹ thuật: gồm 4 nhóm bài tập (từ 1 đến 4)
2. Đòn phối hợp: gồm 6 nhóm bài tập đều được lựa chọn ở bảng 3.1.
24
Từ những kết quả nghiên cứu trên, đề tài đã lựa chọn được 280 thế cờ
thuộc 2 nhóm bài tập trên nhằm nâng cao kỹ năng chiếu hết trong hai nước.
Nội dung, cách thực hiện của các nhóm bài tập trên như sau:
1. Nhóm bài tập cờ tàn kỹ thuật:
Đây là nhóm bài tập cờ tàn có quy tắc rõ ràng và số lượng quân ít.Các
dạng bài tập gồm có:
- Chiếu hết bằng Xe: dùng Vua và Xe đưa Vua đối phương vào góc cạnh