MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một
hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Luyện tập TDTT không
những tăng cường sức khỏe, phát triển cân đối về trí tuệ, nhân cách mà còn đáp
ứng nhu cầu về thẩm mỹ của con người. TDTT là một loại hình hoạt động mà
phương tiện chủ yếu là các bài tập thể chất nhằm phát triển, nâng cao trình độ thể
lực, kỹ năng vận động, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, phát triển con
người.
Không những thế, TDTT còn là phương tiện cùng xã hội xây dựng một
cuộc sống tốt, lành mạnh, vui chơi giải trí có ích cho cá nhân, cho tập thể, đồng
thời góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào nước ta. Vì thế mỗi
quốc gia đều chú trọng đến công tác TDTT và cố gắng đưa nền TDTT của nước
mình đến đỉnh cao, cũng như giữ vững và phát triển những môn thể thao mang
đậm đà bản sắc dân tộc. Trong công tác ngoại giao TDTT còn là nhịp cầu giao lưu
thắt chặt tình hữu nghị, đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới. TDTT bao gồm
một hệ thống các môn rất phong phú, đa dạng như: bóng đá, bóng chuyền, bóng
rổ, điền kinh, thể dục, bơi lội trong đó có Bóng ném.
Bóng ném là môn thể thao có nguồn gốc từ châu Âu, môn bóng ném phát
sinh đầu tiên ở vùng Skandincivien (Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch) nó được ra đời
do sự chuyển biến của chế độ phong kiến sang chế độ Tư bản. Có một số tài liệu
cho rằng năm 1890 một giáo sư người Đức đã sáng chế ra môn bóng nhà nghèo là
tiền thân của môn Bóng ném sau này. Sau hơn 100 năm phát triển môn thể thao
này đã lan truyền sang khắp các châu lục. Tuy nhiên Bóng ném được xuất hiện ở
Việt Nam có lẽ vào sau những ngay hòa bình lặp lại ở miền Bắc. Tại miền Nam
1978 Bóng ném đã được đưa vào phổ cập nhờ một giáo viên thể dục.
Bóng ném là một hoạt động mang tính đối kháng trực tiếp, sự phát triển các
khả năng vận động tăng tính đoàn kết, tính dũng cảm, tính kỷ luật, quyết đoán
trong tập luyện và thi đấu. Trong đó “sức bền chuyên môn” là một tố chất quan
trọng đối với các vận động viên (VĐV) Bóng ném, tạo điều kiện cho VĐV duy
trì, ổn định, kỹ chiến thuật trong thời gian thi đấu căng thẳng quyết liệt kéo dài.
1
2
và hiệu quả ném cầu môn không cao.nguyên nhân chủ yếu là do thể lực nói chung
chuyên môn nói riêng của các VĐV bị giảm sút,dẫn đến vận dụng kỹ chiến thuật
đạt hiệu quả không cao.
Trên thực tế sức bền của VĐV Bóng ném còn tồn tại nhiều hạn chế. Thể
lực của VĐV có sự biến đổi rõ rệt trong mỗi hiệp đấu và cả trận đấu biểu hiện qua
sự di chuyển, tốc độ trận đấu, số lượng bàn thắng, khả năng phòng thủ và tấn công
giữa các thời điểm đầu trận thi đấu - cuối trận thi đấu
Về công tác huấn luyện thể lực từ trước đến nay, trên thực tế có nhiều tác
giả đã nghiên cứu các bài tập có hiệu quả cho các VĐV Bóng ném, đặc biệt là các
nữ VĐV trẻ. Đây là lứa tuổi đã có nền tảng nhất định về thể lực chung và kỹ
chiến thuật cơ bản, cùng sự phát triển tương đối ổn định về cấu trúc giải phẫu
chức năng sinh lý sinh hóa trong cơ thể người tập. Đó là đặc điểm của lứa tuổi trẻ,
phù hợp cho việc huấn luyện sức bền chuyên môn
Để nâng cao trình độ Bóng ném, để bắt nhịp thành tích và trình độ với các
nước trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi phải có kế hoạch, bài tập hiệu quả
phù hợp với đặc điểm sinh lý,cấu trúc giải phẫu của còn người cũng như đặc điểm
khí hậu và điều kiện cơ sở vật chất của Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên tôi mạnh dạn tìm hiểu và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nữ
vận động viên Bóng ném lứa tuổi 16 -18 thành phố Hà Nội”
* Mục đích nghiên cứu của đê tài:
- Nghiên cứu ứng dụng bài tập nhằm phát triển sức bền cho nữ VĐV Bóng
ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
- Tạo tiền đề cho các nữ VĐV phát triển thể lực, nâng cao thành tích trong
thi đấu.
* Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nữ VĐV Bóng
ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội trong tập luyện và thi đấu Bóng ném.
- Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng bài tập nhằm phát triển sức bền
như D.Hare (Đức), Richardsen (Mỹ), Matvêép, G.Iacôva Philin, Zaxiorxki (Nga),
Điền Mạnh Cửu (Trung Quốc) đều cho rằng: “Yếu tố thể lực của VĐV ngày càng
đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt thành tích thể thao đỉnh cao”.
Vì vậy việc huấn luyện thể lực là một công việc rất quan trọng và phải
được quan tâm phát triển, đào tạo và là nguyên tắc cơ bản để phát triển các tố chất
thể lực. Lượng vận động phải được tăng lên không ngừng theo thời gian tập
luyện, cùng với quá trình nâng cao năng lực làm việc của các cơ quan thần kinh
trung ương và các trung khu của nó, cũng như nâng cao năng lực làm việc của các
cơ quan chức phận như tuần hoàn hô hấp, đáp ứng yêu cầu của LVĐ ngày càng
tăng. Đó chính là quá trình biến đổi, thích nghi, không ngừng nâng cao giới hạn
của các cơ quan chức phận, phù hợp với LVĐ đổi mới, duy trì trạng thái sung sức
thể thao. Bởi vì lượng vận động là mấu chốt của việc nâng cao thành tích, tất cả
các môn thể thao đều phải huy động tối đa về thể chất cũng như tinh thần.
5
Bóng ném là một trong những môn nằm ngay trong quy luật chung đó, do
những đặc điểm tập luyện và thi đấu của môn Bóng ném, ví dụ: Bóng ném là môn
thể thao thi đấu đối kháng trực tiếp giữa hai đội, mỗi đội gồm 7 người trong đó có
một thủ môn. Vì vậy thành tích thi đấu Bóng ném là hiệu quả chung của cả đội.
Hoạt động thi đấu Bóng ném là những tình huống không có chu kỳ, luôn diễn ra ở
cả hai phía cầu môn nên đòi hỏi VĐV phải có tốc độ di chuyển rất nhanh để triển
khai tấn công và phòng thủ khu vực. Vì thế VĐV phải hoạt động với cống suất
lớn trong một thời gian khá dài (mỗi trận thì đấu kéo dài tới 60 phút), hơn nữa
trong mỗi pha kết thúc để đưa bóng vào gôn đối phương VĐV phải phát huy sức
mạnh tối đa của bản thân .
Vì vậy nếu không có sự trang bị thể lực chung và chuyên môn một cách
đầy đủ thì khó có thể đạt được thành tích cao trong tập luyện và thi đấu.
1.2. Huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao hiện đại
Thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quan tâm không
kém các lĩnh vực văn hóa xã hội khác. Nhất là trong xã hội hiện đại khi mà vai trò
của TDTT ngày càng tăng, nó như là một phương tiện hữu hiệu để nâng cao sức
lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn.
+ Huấn luyện thể lực chung: Là một quá trình nhằm phát triển một cách
toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc
trưng cho một hoạt động riêng biệt nào và tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu
quả huấn luyện thể lực chuyên môn.
+ Huấn luyện thể lực chuyên môn: là quá trình giáo dục nhằm phát triển và
hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của môn thể thao
chuyên sâu. Có nhiệm vụ phát triển tối đa những năng lực đó của VĐV. Huấn
luyện thể lực chuyên môn hướng đến củng cố và nâng cao khả năng làm việc của
các cơ quan chức phận, các tố chất thể lực phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao
lựa chọn.
Huấn luyện thể lực chung là nền tảng cho nâng cao thể lực chuyên môn.
Theo quan điểm thể thao hiện đại, đó không phải là một quá trình huấn luyện
7
chung chung mà là phải xuất phát từ yêu cầu của huấn luyện thể lực chuyên môn
để lựa chọn phương tiện và phương pháp phù hợp.
Tổng hợp các ý kiến trên chứng tỏ quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn
của VĐV là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) lên
VĐV nhằm hình thành, phát triển khả năng vận động, mà biểu hiện là ở sự hoàn
thiện các chức năng thể chất (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo
léo), là ở việc nâng cao khả năng họat động của các cơ quan chức phận tương ứng
với năng lực vận động của VĐV và phù hợp với các yếu tố tâm lý đặc trưng cho
hoạt động của mỗi môn thể thao.
1.3. Xu hướng huấn luyện thể lực cho VĐV Bóng ném
1.3.1. Xu hướng huấn luyện Bóng ném hiện đại
Từ xu hướng Bóng ném hiện đại cho thấy trong công tác huấn luyện và đào
tạo vận động viên Bóng ném cần phải:
- Phải có trình độ kỹ thuật toàn diện, trình độ thể lực toàn diện, vững vàng,
cơ bản (tay, chân, mặt, thân). Huấn luyện tốt theo vị trí, dùng cách tập đối kháng
để nâng cao trình độ và giúp VĐV vận dụng được tốt kỹ thuật, nhất là chuyển tiếp
sức bền chuyên môn huấn luyện và sức bền thi đấu. Sức bền chuyên môn huấn
luyện là năng lực hoàn thành tổng khối lượng và cường độ của hoạt động mang
tính chuyên môn trong quá trình huấn luyện một buổi tập, một chu kỳ nhỏ hoặc
dài hơn. Còn sức bền thi đấu là năng lực khắc phục mệt mỏi để đạt hiệu quả hoạt
động thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý trong tình huống thi đấu. Sức bền
chuyên môn là sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao. Sức bền chuyên môn
của VĐV chạy maratông khác với sức bền chuyên môn của VĐV các môn bóng.
Có nhiều cách phân loại sức bền khác nhau đối với từng môn thể thao. Dựa
trên cơ sở yêu cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP, người ta phân
loại sức bền ưa khí, yếm khí và sức bền hỗn hợp ưa - yếm khí. Dựa vào đặc điểm
vận động riêng biệt của từng môn thể thao, người ta phân loại sức bền chuyên
môn và sức bền chung.
a) Phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu cầu khác nhau về trao đổi chất
của cơ thể
9
Trong sinh lý học thể thao người ta phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu
cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP.
Mức độ dự trữ là khả năng tái tổng hợp ATP phụ thuộc vào thời gian có thể
cung cấp năng lượng của các vật chất năng lượng trong cơ thể VĐV. Cho nên
việc phân loại sức bền không những dựa vào nhu cầu khác nhau về trao đổi chất
mà còn dựa vào thời gian vận động (xem bảng 1.2).
Bảng 1.2. Mức độ dự trữ, khả năng tái tổng hợp ATP, thời gian cung cấp
năng lượng (theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn ngọc Cừ - 2003).
Các hệ thống trao đổi chất
Lượng dự
trữ
mmol.kg-D
Khả năng tái
tạo ATP
mmol.kg-D
Nhiều
ngày
Trong đó:
- mmol là khối lượng phân tử gam (tính theo miligam) trong một kg trọng
lượng cơ khô.
- Đó là khả năng tái tạo ATP tính theo cơ thể VĐV có trọng lượng cơ bắp
là 20Kg; trọng lượng mỡ là 15 kg; VO
2
max 4l/,om/
a. Sức bền yếm khí: là sức bền đòi hỏi sự cung cấp năng lượng chủ yếu từ
các quá trình trao đổi chất yếm khí để thực hiện một lượng vận động với cường
độ tối đa trong khoảng thời gian ngắn từ vài giây tới 2 min nên còn gọi là sức bền
trong thời gian ngắn.
10
b. Sức bền ưa khí: là sức bền đòi hỏi cung cấp năng lượng chủ yếu từ các
quá trình trao đổi vì vậy người ta còn gọi là sức bền trong thời gian dài.
c. Sức bền hỗn hợp ưa khí và yếm khí: là sức bền đòi hỏi đầy đủ cả khả
năng ưa khí lẫn khả năng yếm khí để thực hiện một lượng vận động trong khoảng
từ 2 đến 11 min, hay còn gọi là sức bền trong thời gian trung bình.
b) Phân loại sức bền dựa trên đặc điểm vận động riêng biệt của từng
môn thể thao
+ Sức bền chuyên môn: là sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao. Sức
bền chuyên môn Bóng ném là phối hợp một cách chặt chẽ và từ đầu đến cuối,
phải kết hợp và thích ứng với tốc độ và độ linh hoạt nên trong thi đấu, thời gian
đầu thì tốc độ linh hoạt tốt sau kém dần và giảm đến tốc độ tối thiểu, đó là do thời
gian thi đấu kéo dài vỏ đại não của VĐV ở trạng thái căng thẳng kéo dài.
Bóng ném là một trong những môn mang tính đối kháng trực tiếp, mang
tính đồng đội cao, trong một trận thi đấu kéo dài tới 60 phút đòi hỏi VĐV phải
huy động toàn bộ sức lực và trí lực, vì vậy mà yêu cầu đối với sức bền chuyên
môn càng cao hơn. Người không có sức bền chuyên môn tốt thì không thể duy trì
lớn đến kết quả thi đấu.
Do đó phát triển sức bền chuyên môn tương ứng với người tập cũng là một
việc quan trọng để góp phần nâng cao thành tích.
Sức bền chuyên môn trong Bóng ném là phối hợp một cách chặt chẽ và từ
đầu đến cuối, phải kết hợp và thích ứng với tốc độ và độ linh hoạt nên trong thi
đấu thời gian đầu thì tốc độ linh hoạt tốt sau kém dần và giảm đến tốc độ tối thiểu,
đó là do thời gian thi đấu kéo dài vỏ đại não của VĐV ở trạng thái căng thẳng kéo
dài.
Sức bền chuyên môn trong Bóng ném là sức bền tốc độ và sức bền mạnh
khả năng chống lại mệt mỏi khi hoạt động với cường độ tối đa và gần tối đa.
1.3.3. Đặc điểm sức bền chuyên môn của nữ VĐV Bóng ném
Đề tài này chúng tối nghiên cứu nhằm mục đích huấn luyện và phát triển
sức bền chuyên môn cho nữ VĐV Bóng ném, tạo tiền đề cơ sở cho việc hoàn
thiện các yêu cầu kỹ thuật trong thi đấu Bóng ném từ đó giúp cho các VĐV thi
12
đấu tốt hơn, các trận đấu căng thẳng hơn, thì đấu hay hơn, và thu hút được nhiều
người tham gia tập luyện môn này. Bóng ném làm một môn thể thao thi đấu có
tình đối kháng trực tiếp, tình huống diễn ra trên sân rất nhanh và luân phiên, liên
tục ở cả hai phía cầu môn. Trong thời gian thi đấu kéo dài 60 phút (hai hiệp) phải
duy trì một loạt các hoạt động vận động liên tục và chính xác là rất khó khăn đối
với VĐV Bóng ném, đặc biệt là đối với nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành
phố Hà Nội (vì sức bền chuyên môn của các VĐV đã bị giảm sút rất nhiều). Do
đó muốn cơ thể chịu được lượng vận động trên thì mỗi VĐV phải tự rèn luyện
mình để có được thể lực dồi dào, trong đó sức bền chuyên môn là một trong
những tố chất cơ bản quan trọng và rất cần thiết. Trong một trận đấu người có sức
bền chung và chuyên môn tốt sẽ duy trì được năng lực hoạt động đạt hiệu quả cao
nhất trong suốt thời gian diễn ra của trận đấu, thực hiện các động tác kỹ thuật
chính xác, phòng thủ chắc chắn, không bị giảm sút thể lực ở cuối trận đấu cũng
như hiệp đấu. Ngoài ra người có sức bền chung và chuyên môn tốt sẽ luôn nắm
được các tình huống diễn ra trên sân, cục diện trận đấu, luôn giữ được thế chủ
- Theo Matvêep: Sức bền là cơ sở khả năng đối kháng của VĐV khi thực
hiện LVĐ mà thời gian kéo dài.
- Theo V.X. Pharophen: Sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi, chịu
đựng được cảm giác mệt mỏi, duy trì được năng lực mặc dù bị mệt mỏi.
- Theo A.N GnextopnhiCop: Sức bền là khả năng hoạt động trong thời
gian dài.
- Theo GS. PTS Trịnh Trung Hiếu và TS. Nguyễn Sỹ Hà: Sức bền là năng
lực chịu đựng của cơ thể hoạt động trong thời gian dài và chống lại mệt mỏi.
- Còn Dietreh Hare lại cho rằng; Sức bền là khả năng chống cự lại mệt
mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV.
Tác phẩm lý luận và phương pháp giáo dục thể chất của A.Novicop và
Matvêép (1980) đã được đúc kết từ thực tiễn, các tác giả đã dành một chương
trình lớn cho huấn luyện thể lực trong đó có huấn luyện sức bền: “ Sức bền là khả
14
năng chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó”. Sức bền được chia làm 3
loại đó là: Sức bền chung, sức bền chuyên môn và sức bền cục bộ.
“Sức bền chung là sức bền trong một hoạt động nào đó kéo dài với
cường độ trung bình và có khoảng 2/3 nhóm cơ tham gia hoạt động trở xuống,
loại sức bền này không đòi hỏi tuần hoàn và hô hấp phải hoạt động tối đa”.
Ví dụ: Đứng lên ngỗi xuống bằng một chân hay kéo xà đơn, mệt mỏi của
hoạt động này diễn ra ở nhóm cơ trực tiếp tham gia vào hoạt động.
“ Sức bền chuyên môn là sức bền mang tính chuyên nghề nghiệp, sức bền
đặc trưng cho môn thể thao chuyên sâu nhất định”.
Từ những phân tích trên đã hình thành những bài tập huấn luyện sức bền
chung và sức bền chuyên môn.
A.Novicop và Mátvêép đã khẳng định, để huấn luyện sức bền LVĐ được
xác định đầy đủ nhờ 5 nhân tố sau đây:
1. Cường độ tuyệt đối của bài tập
2. Thời gian thực hiện bài tập
3. Thời gian nghỉ giữa quãng.
(VO
2
max càng cao thì công suất hoạt động tối đa càng lớn).
Từ phân tích quan điểm về huấn luyện sức bền và các phương pháp huấn
luyện của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Cơ sở khoa học của huấn luyện sức bền chung là nâng cao khả năng hấp
thụ oxy tối đa của cơ thể và duy trì mức hấp thụ đó trong thời gian dài. Quá trình
huấn luyện là sự phối hợp tổ hợp các phương pháp huấn luyện một cách khoa học
và nắm vững đặc điểm lứa tuổi giới tính nhằm nâng cao hoạt động thể lực.
Mấu chốt của tập luyện sức bền là phải khắc phục đuợc mệt mỏi trong quá
trình tập luyện, vì vậy phải thường xuyên giáo dục đạo đức, ý chí cho người tập.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý của VĐV
Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện để đạt hiệu quả tốt thì người giáo
viên và huấn luyện viên phải nắm chắc các đặc điểm về tâm, sinh lý của lứa tuổi
từ đó mà áp dụng các phương pháp và các phương tiện tập luyện sao cho phù hợp
với trình độ, lứa tuổi, giới tính và trạng thái sức khỏe, đó cũng là một trong các
16
nhân tố quan trọng để tác động bài tập thể chất lên cơ thể con người. Vì nói đến
bài tập thể chất là nói đến LVĐ, mà LVĐ bao gồm cường độ và khối lượng sẽ tác
động trực tiếp lên cơ thể người tập, muốn có thành tích cao thì LVĐ là mấu chốt
của việc nâng cao thành tích, cho nên việc hiểu và nắm rõ đặc điểm tâm, sinh lý
lứa tuổi là diều không thể thiếu được. Cơ thể con người là một khối thống nhất
hoàn chỉnh, bất cứ một sự tác động nào cũng gây nên sự biến đổi trong cơ thể cho
nên phải xác định mức độ vừa với người tập. Lượng vận động vừa sức là LVĐ
không dễ quá mà cũng không khó quá nhưng người tập phải có sự khắc phục của
ý chí để hoàn thành bài tập thì mới gọi là LVĐ vừa sức. Để biết được LVĐ phù
hợp với các đặc điểm trên hay không thì thường xuyên còn phải có sự kiểm tra y
học và kiểm tra sức khỏe của bác sỹ, trên cơ sở đó mà điều chỉnh các phương
pháp tập luyện sao cho phù hợp mà không ảnh hưởng tới sức khỏe của người tập.
1.5.1. Đặc điểm về tâm lý
luyện các tố chất thể lực. Không những họ biết đánh giá hành vi của mình mà còn
biết đánh giá những phẩm chất, mạnh, yếu của người khác.
Sự hình thành thế giới quan.
Ở lứa tuổi này sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên,
xã hội về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử những điều đó được ý thức vào các
hình thức tiêu chuẩn, nguyên tắc, hành vi xác định, vào một hệ thống hoàn chỉnh.
1.5.2. Đặc điểm về sinh lý
Hệ xương: Xương cơ khớp đã phát triển ở mức độ cao có thể chịu được
LVĐ lớn. Tuy nhiên xương xốp hơn, lỗ tủy rỗng, bắp thịt còn yếu và nhỏ, xương
chậu to và yếu nên khi bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm
trong khung chậu như dạ con, buồng trứng
Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy, phân
tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho
việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra do hoạt động mạnh của tuyến giáp,
tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho quá trình hứng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu
thế. Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng, ảnh hưởng đến họat động thể lực
cho nên phải sử dụng các bài tập sao cho phù hợp.
18
Hệ cơ: Riêng cơ bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) các cơ co
phát triển sớm hơn cơ duỗi vì vậy sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh là hợp
lý nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các
loại cơ.
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện mạch đập của nữ vào khoảng 70 -75
lần/phút, nữ 75 - 80 lần/ phút. Sau vận động, mạch và huyết áp hồi phục tương đối
nhanh cho nên phù hợp với các bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối
lượng và cường độ tương đối lớn.
Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện vòng ngực trung bình nữ 69 - 74 cm, diện tích
tiếp xúc của phổi khoảng 100 - 120 cm
2
, dung lượng phổi khoảng 3 - 4 lít, tần số
tìm hiểu sâu hơn về tình hình phát triển của TDTT nói chung và môn Bóng ném
nói riêng. Từ đó, cho phép đánh giá thực tế công tác huấn luyện và thực trạng của
nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu phỏng vấn đối với
cán bộ giáo viên, huấn luyện viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy và
huấn luyện TDTT để lựa chọn hệ thống bài tập tốt nhất nhằm tăng sức bền chuyên
môn cho nữ VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội
2.1.3.Phương pháp quan sát sư phạm
Đề tài tiến hành quan sát quá trình tập luyện trong những buổi tập của nữ
VĐV Bóng ném lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội để từ đó có căn cứ đánh giá
thực trạng công tác huấn luyện SBCM, đồng thời tiến hành quan sát quá trình thi
đấu giải của các VĐV trong các giải toàn quốc từ đó đánh giá thực trạng SBCM
của đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
20
2.1.4.Phương pháp kiểm tra sư phạm
Đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm nghiệm, đánh giá, tìm hiểu tính
hiệu quả trong quá trình thực nghiệm các bài tập vào thực tế, nhằm giáo dục
SBCM cho đội tuyển Bóng ném nữ lứa tuổi 16-18 thành phố Hà Nội.
Các test mà đề tài đã sử dụng bao gồm các test sau:
Test 1: Dẫn bóng zích zắc 200m .
+ Mục đích: Hoàn thiện khả năng dẫn bóng phát triển sức bền chuyên môn.
+ Yêu cầu: Dẫn bóng đúng kỹ thuật, tốc độ gần tối đa.
+ Phương pháp tiến hành: Cầm bóng ở tư thế xuất phát nghe hiệu còi và
dẫn bóng .
+ Số lần thực hiện: 5 lần.
+ Quãng nghỉ: sau mỗi lần 30 s.
Test 2: Bài tập tổng hợp x 5 lần (s).
+ Mục đích: Đánh giá SBCM cho VĐV.
+ Yêu cầu: Bật tích cực, bật cao ném bóng trong vạch 9m.
1
)(
2
2
−
−
=
∑
n
xx
i
σ
(n < 30)
- Tính độ lệch chuẩn:
2
δσ
=
(n < 30)
- So sánh hai số trung bình mẫu bé:
2
2
1
2
21
nn
xx
t
cc
σσ
−
))((
yyxx
yyxx
r
(n < 30)
- Thang độ C: C = 5 + 2z
- Trong đó z =
σ
xx
i
−
x
i
: Là giá trị cần tìm ứng với điểm 0 - 10 của C
x: Là giá trị trung bình của tập hợp
σ: Là độ lệch chuẩn
2.2.Tổ chức nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu
22
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2010 đến 04/2011và được chia làm
3 các giai đoạn nghiên cứu sau:
* Giai đoạn 1: Tháng 03- 04/ 2010, xác định vấn đề nghiên cứu, lập đề
cương và kế hoạch nghiên cứu, bảo vệ đề cương nghiên cứu.
* Giai đoạn 2: Tháng 05/2009 - 01/2011, tiến hành thu thập các tài liệu có
liên quan viết tổng quan của luận văn và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài.
* Giai đoạn 3: Tháng 02- 04/2011, hoàn thiện luận văn nghiên cứu, chuẩn
bị và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước hội đồng khoa học nhà trường.
2 Chương 3
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Vì vậy, trong quá trình tập luyện ở mỗi buổi tập với thời gian ít ỏi như vậy
đòi hỏi VĐV còn phải có sự nỗ lực cao của bản thân, ý thức tự giác trong tập
luyện và ngoại khóa thêm bằng nhiều phương pháp khác. Đồng thời huấn luyện
viên, giáo viên phải có hệ thống các bài tập hợp lý, phải giáo dục cho VĐV hiểu
được mục đích, yêu cầu của bài tập và tính toán đến lượng vận động, nghỉ ngơi
hợp lý, để phát triển sức bền chuyên môn cho các vận động viên đạt hiệu quả cao
nhất.
Để tìm hiểu thực trạng huấn luyện SBCM của đội tuyển Bóng ném nữ lứa
tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội. Đề tài đã tiến hành quan sát trực tiếp để tìm hiểu
nội dung chương trình huấn luyện của đội. Kết quả khảo sát chương trình huấn
luyện chuyên môn cho VĐV qua 144 giáo án ở bảng 3.1.
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát chương trình huấn luyện của đội tuyển
Bóng ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội
TT Nội dung Số lượng Thời lượng
n
Tỷ lệ
%
Phút
Tỷ lệ
%
1 Sứcnhanh 32 22.2 30 15.0 Đầu buổi tập
2
Sức mạnh
32 22.2 30 15.0 Cuối buổi tập
Sức bền SB chung 15 10.4 20 10.0 Cuối buổi tập
SB
chuyên
10 6.9 15 7.5 Cuối buổi tập
24
được lựa chọn bước đầu cũng phù hợp với điều kiện thực tiễn của đội tuyển Bóng
ném nữ lứa tuổi 16 - 18 thành phố Hà Nội. Tuy nhiên để tăng tính khách quan và
độ tin cậy của các Test đề tài đã tiến hành tham khảo ý kiến chuyên giá thông qua
25