1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắn cung là một trong những môn thể thao kỹ năng nằm trong hệ thống
thi đấu chính thức của Thế vận hội Olimpic, mới được du nhập vào Việt Nam
từ năm 1997. Lúc đó trên phạm vi toàn quốc mới chỉ có 3 tỉnh, thành đầu tư
phát triển môn thể thao này là Hà Nội, Hà Tây (cũ) và Vĩnh Phúc. Trong
những năm đầu này tất cả các tỉnh đầu tư phát triển môn bắn cung đều gửi các
VĐV tập huấn tại Câu lạc bộ bắn cung Hà Nội, và qua một số giải thi đấu các
VĐV cũng đã giành được những thành tích nhất định [67], [68].
Với mục tiêu tham dự các Đại hội thể thao châu lục và Thế vận hội
Olimpic của thể thao Việt Nam, sau hơn 10 năm du nhập cho đến nay. Ngành
Thể dục thể thao đã tập trung đầu tư, phát triển môn bắn cung rộng khắp các
tỉnh thành trên phạm vi toàn quốc. Đến nay đã có trên 17 tỉnh, thành, ngành
đầu tư phát triển môn bắn cung là: Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Quân Đội,
Hưng Yên, Bắc Kạn, thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cần
Thơ, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hải Dương
và gần đây nhất là tỉnh An Giang và Đắc Lắc.
Cùng với các môn thể thao khác, trong những năm qua môn bắn cung
cũng đã có những bước phát triển và tiến bộ, nhưng vẫn đang còn ở trình độ
thấp so với thế giới và một số nước trong khu vực. Để môn bắn cung nước ta
lên ngang tầm với trình độ các cường quốc thể thao thế giới, đòi hỏi phải nỗ
lực rất lớn trên nhiều mặt như: Xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ
những nhà Khoa học, cán bộ, HLV... để đáp ứng phong trào và nâng cao thành
tích. Trong những năm gần đây, thực tiễn giảng dạy, huấn luyện và phát triển
môn bắn cung ở hầu hết các địa phương trên toàn quốc đã chỉ ra, trong nhiều
trường hợp công tác đào tạo VĐV chưa chú ý đến việc huấn luyện toàn diện,
chưa đảm bảo tính lôgíc giữa các mặt như kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm
lý, ý chí... [68], [79]
3
thuật, chiến thuật, yếu tố tâm lý... thì không thể chiến thắng được đối phương.
Ngược lại, nếu một VĐV có các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, yếu tố tâm lý...
tốt mà thiếu thể lực thì cũng khó có thể chiến thắng được đối phương. Hai
VĐV có trình độ kỹ thuật, chiến thuật, trạng thái tâm lý và các điều kiện khác
như nhau, song VĐV nào có sức bền chuyên môn tốt hơn thì VĐV đó sẽ đạt
thành tích cao hơn, ổn định hơn trong các lần bắn về sau. Phát bắn hay chu kỳ
bắn phải được ổn định một khoảng thời gian nhất định, khoảng thời gian này
đòi hỏi phải có độ chuẩn xác tinh vi và muốn làm được những điều đó thì
VĐV phải được trang bị thật tốt về yếu tố sức bền chuyên môn. Cho nên có
thể khẳng định, sức bền chuyên môn là tố chất thể lực chuyên môn đặc trưng
của VĐV bắn cung, là nền tảng và chỗ dựa để phát huy kỹ, chiến thuật...
Huấn luyện sức bền chuyên môn còn đảm bảo phát triển mối quan hệ
chặt chẽ giữa nâng cao năng lực tố chất của cơ thể VĐV với việc nâng cao
năng lực tâm lý, có tác dụng tích cực đến việc giáo dục các phẩm chất, nhân
cách, đặc biệt là giáo dục ý chí cho VĐV [68], [77]. Điều này được thể hiện ở
những cố gắng nỗ lực hoàn thành khối lượng tập luyện, phấn đấu vượt qua
được những thành tích của bản thân để vươn tới các thành tích mới, rèn luyện
bản lĩnh vững vàng, chủ động sáng tạo trong thi đấu. Xu hướng phát triển của
bắn cung hiện đại đòi hỏi ở VĐV khả năng thích ứng cao với lượng vận động
lớn và khả năng ổn định tâm lý cao trong thời gian dài. Do đó, việc huấn
luyện sức bền chuyên môn cho VĐV bắn cung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
là khâu không thể thiếu trong quá trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo VĐV bắn
cung cấp cao, mà vấn đề này cho đến nay các HLV vẫn chưa thực sự coi trọng
trong công tác đào tạo - huấn luyện.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, vấn đề phát triển sức bền chuyên
môn cho VĐV các môn thể thao nói chung và VĐV môn bắn cung cấp cao
nói riêng là một điều cấp bách không thể thiếu được.
chuyên môn cho VĐV một cách đầy đủ.
5
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên, dù ở lĩnh
vực này hay lĩnh vực khác, song các kết quả nghiên cứu đó cũng đã xác định
được cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ sở khoa học đưa ra được những luận điểm
trong lĩnh vực huấn luyện phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV các
môn thể thao. Có thể nói, đây là nguồn tư liệu tham khảo chuyên môn hết sức
đáng quý trong lĩnh vực đào tạo - huấn luyện nâng cao tố chất thể lực chuyên
môn cho VĐV các môn thể thao.
Qua tìm hiểu thực tế công tác huấn luyện VĐV bắn cung cấp cao ở Việt
Nam hiện nay thấy công tác huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn, đặc biệt là
sức bền chuyên môn cho VĐV chủ yếu theo kinh nghiệm của các nhà chuyên
môn, cụ thể là sau khi cho VĐV tập luyện thường xuyên trong thời gian từ 3 6 tháng, nếu tăng trưởng về các tố chất thể lực, kỹ thuật, ý thức chiến thuật thì
tiếp tục giữ lại để đào tạo, hoặc VĐV yếu tố chất thể lực nào thì HLV sẽ tăng
cường huấn luyện các tố chất thể lực đó. Cách thức huấn luyện theo kinh
nghiệm truyền thống này có tác dụng nhất định nhưng chưa đủ cơ sở khoa học.
Vì thế, nghiên cứu khoa học lựa chọn được các phương tiện và phương pháp
huấn luyện sức bền chuyên môn cho các VĐV bắn cung cấp cao là đòi hỏi cấp
thiết của thực tiễn đào tạo VĐV bắn cung nước ta hiện nay.
Những phân tích trên đã khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Nghiên
cứu bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam vận động viên bắn
cung cấp cao Việt Nam” là vấn đề cấp thiết để nâng cao hiệu quả công tác
huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn nói chung và huấn luyện tố chất sức
bền chuyên môn nói riêng cho nam VĐV bắn cung cấp cao Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tố chất sức bền chuyên môn và việc sử
dụng các bài tập phát triển tố chất sức bền chuyên môn cho nam VĐV bắn
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Một số đặc điểm cơ bản của môn bắn cung.
1.1.1. Đặc điểm kỹ thuật môn bắn cung.
Theo xu thế hiện đại môn bắn cung nó có đặc trưng là nhanh, vững,
liên tục và chuẩn xác. Theo các chuyên gia, các nhµ khoa học thì kỹ thuật
môn bắn cung có những đặc điểm sau:
Tính cá thể: Các kỹ thuật trình bày ở sách vở chỉ là một loại mô thức
động tác kỹ thuật lý tưởng hoá. Với mỗi VĐV mô thức đó chưa chắc đã có
hiệu quả nhất, hợp lý nhất mà chỉ có lấy mô thức thể thao của quần thể làm
chỗ dựa kết hợp với đặc điểm cá thể của VĐV. Trên cơ sở tiến hành điều
chỉnh xác lập kỹ thuật cá nhân mới có thể đạt được sự hợp lý và hiệu quả kỹ
thuật cao nhất.
Tính tương đối: Nghĩa là cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
thì kỹ thuật của môn bắn cung không ngừng phát triển, tính hợp lý của nó chỉ
là tương đối.
Tính hoàn chỉnh: Kỹ thuật môn bắn cung do các động tác cụ thể tổ hợp
thành, song không chỉ có mối quan hệ với VĐV mà còn có mối quan hệ với
cung, tên, bia và điều kiện môi trường. Bất cứ sự biến đổi nào của động tác kỹ
thuật cũng như sự biến đổi của các nhân tố khác đều ảnh hưởng đến sự phát
huy hiệu quả của kỹ thuật hoàn chỉnh.
Tính không gian - thời gian: Kỹ thuật bắn cung đều được các bộ phận
cơ thể hoàn thành trong một thời gian - không gian nhất định. Tính không
gian - thời gian của các kỹ thuật ở các môn trong bắn cung đều biểu hiện ra
đặc điểm tính lặp lại thời gian ngắn, ở phần lớn các môn còn có đặc tính
không gian - thời gian tương đối tĩnh tại (giữ im). Trong các kỹ thuật của bắn
cung đặc tính thời gian, không gian này biến đổi rất nhỏ song có yêu cầu rất
cao về độ chính xác.
8
9
Thứ tư: Chuẩn xác là mục đích cho tất cả các trận đấu đều thắng. Trong
chuẩn xác đặc biệt là chức năng của não rất quan trọng, không đơn thuần là
ngắm chuẩn.
Từ những đặc điểm nêu trên, trong thi đấu môn bắn cung cần phải thực
hiện theo mô hình sau:
Một là: Năng lực thăng bằng - ổn định trọng tâm, tâm lý.
Hai là: Sức mạnh bền của chi trên phải tốt.
Ba là: Chức năng.
Bốn là: Trí lực phải hiểu biết về kỹ thuật chuyên môn, tính chất của
cuộc thi đấu.
Năm là: Tính độc lập, không phụ thuộc vào điều kiện của môi trường
và tác động xung quanh.
Sáu là: Độ ổn định của cơ delta khi kéo giữ cung.
Bảy là: Cảm giác thống nhất của các nhóm cơ có liên quan khi thực
hiện kỹ thuật.
Tám là: Biểu tượng động tác phải rõ ràng.
Chín là: Thời gian kết thúc phải thống nhất.
Chính những đặc điểm trên của kỹ thuật bắn cung đã chi phối việc
hình thành kỹ năng vận động trong quá trình huấn luyện môn bắn cung.
1.1.2. Đặc điểm quy luật hình thành kỹ năng vận động trong bắn cung.
Quy luật tính giai đoạn của việc hình thành kỹ năng môn bắn cung.
Việc hình thành kỹ năng động tác bắn cung giống như kỹ năng các động
tác khác có thể chia thành các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn huấn luyện lại
có những nhiệm vụ giảng dạy, huấn luyện khác nhau [88], [89], [90].
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn lan toả: Giai đoạn này nhiệm vụ huấn
luyện là bước đầu xây dựng biểu tượng động tác bắn cung, học tập và nắm
vững động tác bắn cung để bước đầu hình thành kỹ thuật động tác.
11
Kế đó là tập luyện thăng bằng tĩnh và cảm giác dùng lực cơ bắp. Dựa vào
nguyên tắc nâng dần và nguyên tắc từ dễ đến khó, trước hết nắm vững tư thế bắn
chính xác, tiếp đó là tiến hành tập luyện tính ổn định của “người - cung”.
Tiếp theo là: Sửa chữa sai sót động tác. Chủ yếu tập trung nắm bắt việc
quy phạm hoá và trình tự hoá động tác, kịp thời sửa chữa những động tác sai
nảy sinh khi dùng lực.
Cuối cùng xây dựng đúng định hình động lực kỹ thuật bắn, qua tập
luyện lặp lại xây dựng chính xác định hình kỹ thuật, trên cơ sở đó tăng dần
lượng vận động tập luyện.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn nâng cao chuyên sâu trong huấn luyện
nhiều năm hoặc trong giai đoạn nâng cao trình độ bắn cung trong quá trình
huấn luyện ở giai đoạn cuối, là giai đoạn huấn luyện nâng cao trình độ chuyên
môn của bắn cung nên phải đạt được các yêu cầu sau:
Các động tác thực hiện nhịp nhàng, cảm giác khống chế tốt. Để điều
khiển các động tác chi tiết trong bắn cung cần có sự phân phối sức mạnh phù
hợp chính xác, hình thành và duy trì được cảm giác tinh tế, ổn định về thân
thể (trọng tâm đặc biệt quan trọng) khi giữ cung và cảm giác tinh tế ở trạng
thái ban đầu khi làm quen với cung để bước vào trạng thái ổn định. Tính dự
báo với thời kỳ ổn định tối ưu của cung, cảm giác rung động nhẹ của bàn tay
nắm giữ cung cũng như tính chính xác cao độ của ngắm chuẩn và các năng
lực chuyên môn khác đều đạt được trình độ kỹ xảo cao độ.
Trong huấn luyện kỹ năng ở giai đoạn này chú ý các đặc điểm sau:
Một là học tập tăng cường kỹ thuật làm cho khái niệm động tác được
hiểu một cách chính xác và nâng cao được năng lực phân tích kỹ thuật động
tác, năng lực điều khiển cung, tên chuẩn xác, tinh tế của người tập.
Hai là xác định các tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật chủ yếu, nắm chắc
Bước thứ tư: VĐV phát ra các tín hiệu điều khiển từ não tới các cơ
quan vận động (tứ chi và thân người) đồng thời hoàn thành động tác.
13
Bước thứ năm: Thông qua thông tin ngược sinh học của bản thân bên
trong cơ thể người tập để điều chỉnh động tác của bản thân. Cuối cùng hoàn
thành động tác chuẩn xác theo yêu cầu quy định.
Quy luật chuyển dịch lẫn cho nhau của kỹ năng môn bắn cung.
Sự chuyển dịch lẫn cho nhau về kỹ năng môn bắn cung chỉ sự ảnh
hưởng lẫn nhau giữa kỹ năng môn bắn cung với các kỹ năng khác (như năng
lực cơ thể, năng lực tâm lý) giữa các kỹ năng vận động của các khâu kỹ thuật
với nhau (như kỹ năng ngắm bắn), giữa kỹ năng cũ và kỹ năng mới.
Những ảnh hưởng này lại được chia thành ảnh hưởng tốt thúc đẩy lẫn
nhau và ảnh hưởng không tốt ràng buộc lẫn nhau. Trong ảnh hưởng tốt lại có
thể phân thành những ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp, ảnh hưởng
cùng loại và ảnh hưởng khác loại, ảnh hưởng từng mặt và ảnh hưởng nhiều
mặt, từ đó hình thành nên mối quan hệ chuyển dịch khác nhau.
Quy trình của việc hình thành kỹ năng vận động môn bắn cung
Cũng như các môn thể thao khác, trong bắn cung việc hình thành và
nâng cao kỹ thuật và kỹ năng vận động đều tồn tại tính trình tự logic một cách
nghiêm ngặt, nên nếu không tìm hiểu mối quan hệ trình tự giữa chúng hoặc
không dựa theo quy luật phát triển trình tự vốn có của nó để xếp sắp huấn
luyện kỹ năng cho học viên bắn cung sẽ khó có thể đạt được hiệu quả giảng
dạy và huấn luyện tốt. Quy trình của việc hình thành kỹ năng môn bắn cung
có một số đặc điểm sau:
Một là: Trình tự động tác kỹ thuật từng phần khác nhau của bắn cung
cũng khác nhau.
Hai là: Trình tự hình thành kỹ năng bắn cung và trình tự huấn luyện
Khi huấn luyện thể lực tác động của bài tập các cơ quan vận chuyển và
tiêu thụ ôxy phải hoạt động nhiều hơn so với yêu cầu trong suốt các buổi tập
hàng tuần và những hoạt động thể lực bình thường. Cơ thể dần dần thích nghi
với lượng vận động ngày một tăng, sự hấp thụ ôxy được cải thiện, mặt khác,
15
tác dụng tập luyện sẽ được giảm dần khi lượng vận động đã được tăng lên ở
mức chỉ có tác dụng duy trì. Nếu muốn tăng trình độ thể lực hơn phải tăng
lượng vận động lên cao hơn nữa [11], [12], [18].
Việc tập luyện có thể được tăng theo từng bước về thời gian luyện tập,
cường độ hoặc tần suất các bài tập, nghĩa là có thể lập kế hoạch tập luyện theo
các yếu tố thời gian, cường độ số lần thực hiện bài tập. Điều quan trọng nhất
là huấn luyện phải có kế hoạch và phải phù hợp với điều kiện tập luyện, khả
năng thể lực của VĐV và thời gian của mùa thi đấu. Điều này quan trọng
không chỉ vì để có được hiệu quả tối ưu khi tập luyện mà còn tránh cho VĐV
không bị tổn thương do tập luyện quá sức. Khi thực hiện nguyên tắc này việc
sử dụng các bài tập đều phải đảm bảo tác động chính và phụ [21], [23], [33],
[50].
Mỗi bài tập có ảnh hưởng tới cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau.
Ví dụ: Bài tập chạy là bài tập sơ đẳng nhất về các cơ quan vận chuyển và hấp
thụ ôxy. Khi chạy tất cả các cơ quan đều phải hoạt động tích cực hơn và
chúng được rèn luyện; ngay cả các khớp, gân, dây chằng và các mô liên kết
trong cơ cũng được rèn luyện. Tác dụng chính của việc tập chạy là luyện tập
khả năng ưa khí, còn tác dụng phụ rất quan trọng là luyện tập các khớp xương
và các mô liên kết. Trên thực tế có thể đạt được hiệu quả luyện tập 100% ở
một khía cạnh nào đó. Vì vậy không thể đồng thời luyện tập cả khả năng ưa
khí và sức mạnh tối đa có hiệu quả bằng một bài tập. Nhận thức được ảnh
hưởng phụ là vô cùng quan trọng vì những ảnh hưởng phụ này thường tác
xảy ra. Trong một buổi tập hay một chu kỳ tập luyện với nhiều lượng vận
động xen kẽ các quãng nghỉ thì nguồn năng lượng cơ thể luôn biến động và
diễn biến dưới dạng “làn sóng”. Việc sắp xếp lượng vận động và nghỉ ngơi
hợp lý nhằm tác động các lượng vận động phù hợp vào các thời điểm thích
hợp để nâng cao dần đỉnh của các làn sóng, để nhằm đạt được mục đích của
huấn luyện [49], [64].
17
Nguyên tắc huấn luyện theo chu kỳ.
Đây là nguyên tắc phản ánh hiện tượng sinh học của con người, muốn
có kết quả huấn luyện tốt thì huấn luyện viên phải chú ý quán triệt nguyên tắc
này, thường có các loại [27], [41], [47]:
Chu kỳ ngắn thường là chu kỳ tuần.
Chu kỳ trung bình gồm 3 - 6 chu kỳ ngắn.
Chu kỳ dài (từ 6 tháng đến 1 năm).
Chu kỳ nhiều năm (nhiều chu kỳ dài).
Việc phân chia chu kỳ tập luyện trong năm thường căn cứ vào các giải
thi đấu chính trong năm.
1.2. Các quan điểm và phương pháp phát triển tố chất sức bền chuyên
môn trong huấn luyện VĐV bắn cung cấp cao.
1.2.1. Các quan điểm về sức bền chuyên môn trong huấn luyện thể
thao.
Sức bền là một trong những tố chất thể lực quan trong trong huấn luyện
thể thao, trong vận động sức bền là khái niệm rất rộng. Các quan điểm về sức
bền trong nhiều tài liệu có những cách thể hiện và tiếp cận khác nhau. Qua
phân tích tổng hợp có các quan điểm sau:
Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2000): Sức bền là năng lực thực
hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng
độ tiêu hao năng lượng khi thực hiện bài tập đã định:
Søc bÒn (t ng , phót)=
Dù tr÷ n¨ng l î ng (J)
Tèc ®é tiªu hao n¨ng l î ng (J/phót)
Như vậy sức bền được xác định bằng thời gian hoạt động ở cường độ
đã định đến khi hết hoàn toàn năng lượng dự trữ có thể có. Theo góc độ sinh
lý, các tác giả Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003) cho rằng: Sức bền là
khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó. Sức bền là một tố chất thể
lực vì vậy có tính tương đối rất cao, được thể hiện trong một loại hoạt động
19
nhất định. Nói cách khác, sức bền là một khái niệm chuyên biệt thể hiện khả
năng thực hiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nhất định. Sức bền thường
đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 1 3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (từ 1/2 toàn bộ
lượng cơ bắp của cơ thể), nhờ hấp thụ ôxy để cung cấp năng lượng cho cơ chủ
yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí. Như vậy sức bền trong thể thao là
khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoặc chủ yếu mang
tính ưa khí [30], [31].
Từ phân tích các quan điểm về sức bền của các tác giả trong nước và
trên thế giới cho thấy:
Hầu hết các tác giả đều thống nhất và cho sức bền là khả năng thực
hiện lâu dài một hoạt động nào đó với cường độ nhất định, nên sức bền là tố
chất thể lực được thể hiện trong một loại hoạt động. Nói cách khác sức bền là
một khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động
chuyên môn nhất định.
Sức bền có vai trò to lớn với thành tích thi đấu và khả năng chịu đựng
Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly hoặc
hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian 11 phút tới nhiều giờ, thành
tích phụ thuộc vào khả năng hoạt động ưa khí. Trên cơ sở yêu cầu khác nhau
về trao đổi chất nên sức bền trong thời gian dài lại chia thành 3 loại là sức bền
trong thời gian dài I, II và III tương ứng với thời gian thi đấu từ 10 - 30 phút,
từ 30 đến 90 phút và trên 90 phút.
Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết để hoàn thành
khối lượng vận động trong thời gian từ 2 đến 11 phút. Thành tích sức bền này
đòi hỏi sự hoạt động đầy đủ của khả năng ưa khí và khả năng yếm khí, phụ
thuộc vào mức độ phát triển của sức mạnh - bền và sức nhanh bền.
Sức bền trong thời gian ngắn (45 giây đến dưới 2 phút): Thành tích phụ
thuộc vào khả năng hoạt động yếm khí và sự phát triển sức mạnh - bền và sức
nhanh bền.
21
Căn cứ vào trạng thái năng lực làm việc của hệ thống cung cấp năng
lượng, Aulic I.V [2], Nguyễn Ngọc Cừ và cộng sự [18], Lưu Quang Hiệp,
Phạm Thị Uyên [31], Nabatnhicova M.Ia [46] chia sức bền ra thành 2 loại.
Sức bền ưa khí (aerobic) là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong
điều kiện sử dụng nguồn năng lượng thông qua quá trình ôxy hoá hợp chất
hữu cơ giàu năng lượng trong cơ thể.
Sức bền yếm khí (anaerobic) là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể
trong điều kiện dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (ATP, CP)
phốt phorin và sức bền hệ thống cung cấp năng lượng láctat. Các nhà khoa
học khẳng định: sức bền là chỉ làm việc trong một thời gian dài mới có tác
dụng là sai lầm vì thực tế trong hoạt động thể thao có mệt mỏi thì có sức bền.
Dựa trên 2 quan điểm trên thì tố chất sức bền môn bắn cung thuộc loại
sức bền trong thời gian trung bình sử dụng năng lượng hỗn hợp ưa khí và yếm
Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hà [33]; Novicốp A.D, Matveép L.P [49]; Ozolin
M.G [50]; Philin [53]; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn [65], chia sức bền
thành sức bền chung (sức bền cơ sở) và sức bền chuyên môn.
Tổng hợp các quan điểm về phân loại sức bền trên thấy: Dưới góc độ
khác nhau có các cách phân loại khác nhau. Nhưng, dù ở góc độ nào thì sức
bền đều có liên quan tới lượng vận động và cơ chế mệt mỏi, nên sự phân chia
sức bền chỉ mang tính chất tương đối.
Như vậy sức bền trong môn bắn cung có một số đặc điểm sau:
Sức bền trong tập luyện và thi đấu bắn cung là sức bền trong thời gian
trung bình. Thành tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tâm lý, trình độ kỹ
thuật và khả năng phối hợp vận động, trong đó năng lực hoạt động ưa khí và
yếm khí có vai trò quan trọng trong phát triển sức bền.
Dưới góc độ sư phạm, sức bền trong môn bắn cung được chia thành các
loại sau:
Sức bền chung là năng lực vận động được tiến hành trong thời gian kéo
dài với sự tham gia hầu như toàn bộ cơ bắp, là cơ sở để hình thành sức bền
23
chuyên môn trong thi đấu. Năng lực vận động này được xác định trước hết
bởi mức độ cao về hấp thụ oxy tối đa và mức độ tác dụng cao trong hoạt động
cung cấp oxy. Do đó huấn luyện sức bền chung phải hướng chủ yếu vào việc
nâng cao khả năng ưa khí và năng lực hoạt động ưa khí cũng hướng vào sự
phát triển các phẩm chất cá nhân tương ứng [108], [109], [120], [123], [125].
Sức bền chuyên môn chỉ năng lực, chức năng của cơ thể được động
viên tới mức tối đa của thành tích môn chuyên sâu. Tức là, năng lực duy trì
khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định được gọi là
sức bền chuyên môn. Sức bền chuyên môn là sức bền đặc trưng riêng cho
từng môn thể thao. Trong môn bắn cung, sức bền chuyên môn là năng lực duy
thường. Đặc biệt năng lượng ATP và CP có khả năng tạo lực bất ngờ trong thi
đấu bắn cung.
Hàm lượng glucogen và hoạt tính men phân giải gluco: Nếu nhu cầu
ATP vượt quá khả năng giải phóng ATP thì lượng ATP bổ sung sẽ được cung
cấp rất nhanh nhờ sự phân huỷ đường. Hàm lượng glucogen và hoạt tính men
gluco phân là cơ sở vật chất của năng lực gluco phân yếm khí. Năng lượng từ
gluco có được do phân giải yếm khí glucogen, quá trình này sản sinh ra trong
cơ thành axit lactic và giải phóng năng lượng, thường xảy ra sau 10 - 15 giây
đầu tiên khi bắt đầu hoạt động tích cực. Năng lực cung cấp năng lượng gluco
quyết định bởi hàm lượng glucogen trong tổ chức cơ và hoạt tính men phân
giải glucogen. Vì vậy, trong huấn luyện có HLV dùng chỉ số axít lactic máu
để đánh giá năng lực yếm khí song chưa phải là chỉ số nhạy cảm [16], [42].
Năng lực điều tiết của quá trình trao đổi chất và năng lực trao đổi
chất của quá trình hồi phục sau vận động.
Để nâng cao công suất tái tổng hợp thành ATP, VĐV cần nâng cao năng
lực điều tiết của quá trình trao đổi chất. Năng lực này bao gồm: hoạt tính của
các men tham gia quá trình trao đổi chất, điều tiết thần kinh thể dịch và kích
thích quá trình trao đổi chất, điều tiết cân bằng axit - kiềm khi môi trường
thay đổi, sự nhịp nhàng hoạt động của cơ thể [16], [17], [32], [37]
25
Tích luỹ nợ oxy lớn nhất khi vận động căng thẳng.
Lượng oxy đòi hỏi vượt quá lượng hấp thụ oxy trong quá trình trao đổi
chất yếm khí để sinh ra năng lượng, tạo thành sự thiếu hụt oxy trong cơ thể
gọi là nợ oxy. Sự tích luỹ nợ oxy lớn nhất là chỉ hiệu số lượng oxy đòi hỏi về
mặt lý thuyết khi cơ thể tham gia vận động căng thẳng (kéo dài từ 2 - 3 phút)
với lượng oxy tiêu hao thực tế, nên theo sinh lý học thể thao, nợ oxy lớn nhất
là một tiêu chí để đánh giá năng lực cung cấp năng lượng yếm khí của cơ thể.