Nghiên cứu ứng dụng phát triển cờ vua như một phương tiện phát triển trí lực cho học sinh lứa tuổi 7 8 trường tiểu học thị trấn lim - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết:
Chúng ta biết rằng tương lai đất nước phụ thuộc vào thế hệ trẻ, để chuẩn
bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ bước vào tương lai của trí tuệ văn minh và hiện
đại thì công tác giáo dục và đào tạo phải liên tục đổi mới và nâng cao phương
pháp giảng dạy đặc biệt là đối với trẻ em.
Nghiên cứu về năng lực trí tuệ cũng như khả năng thông minh của con
người đã được nhiều nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu, điển hình
là các nhà khoa học H.Spencor, G.Gaulton … Ở Việt Nam vấn đề này cũng
giành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học,
có thể kể đến các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao
như :Trần Trọng Thủy, Bùi Hiển, Hoàng Đức Nhuận … đặc biệt là PGS.TS
Nuyễn Trọng Bảo trong cuốn: “Gia đình, nhà trường , xã hội với việc phát hiện,
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ người tài”( Chương trình nghiên cứu
khoa học cấp nhà nước KX-07, đề tài Kx-07-18) chủ biên PGS.TS Nguyễn
Trọng Bảo. Các tác giả đã có các nghiên cứu hết sức sâu sắc về trí thông minh,
vai trò của trí thông minh đối với năng khiếu, tài năng cũng như vai trò của trí
thông minh đến kết quả học tập của thanh thiếu niên.
Vấn đề này trong khoa học thể dục thể thao ở Việt Nam cũng đã được một
số tác giả quan tâm nghiên cứu như: PGS.TS Trịnh Trung Hiếu, TS Phạm Ngọc
Viễn…
Cờ Vua là một môn thể thao trí tuệ, có lượng vận động tâm lý tác động
trực tiếp vào quá trình tư duy, trong quá trình học, tập luyện Cờ Vua khả năng tư
duy logic và trực giác được phát triển, trí nhớ linh hoạt, bền vững hơn và dung
lượng ghi nhớ cũng lớn hơn. Khả năng tập trung chú ý được phát triển và hoàn
thiện. Cờ Vua giúp đẩy mạnh việc tập trung suy nghĩ, khả năng lựa chọn quyết
định góp phần tạo nên ý chí, tính quyết đoán và ổn định về cảm xúc.
Các nhà khoa học thế giới đã chứng minh được rằng chơi Cờ ở trẻ giúp
chống lại được sự trì trệ, chậm chạp của bộ não và giúp cho trí não
1
được thường xuyên làm việc, tư duy sắc sảo, logic hơn, kích thích sự

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng việc học, chơi Cờ Vua là phương
tiện có hiệu quả để nâng cao năng lực trí lực nói chung cho các VĐV Cờ Vua,
các công trình nghiên cứu của các tác giả Alecxeiev, Mankin … đã cho thấy
hiệu quả của việc học, chơi Cờ Vua tới sự phát triển trí tuệ của trẻ em.
Xuất phát từ nhứng lý do nêu trên, chúng tôi xin nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng Cờ Vua như một phương tiện phát triển trí lực cho
học sinh lứa tuổi 7 - 8 trường tiểu học Thị trấn Lim”
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở phân tích tổng hợp nhứng cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài tiến
hành lựa chọn và ứng dụng chương trình giảng dạy Cờ Vua nhằm phát triển trí
lực cho học sinh lứa tuổi 7 - 8 trường tiểu học Thị trấn Lim.
Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên trong quá trình nghên cứu, đề tài
đã thực hiện các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu lựa chọn nội dung chương trình, phương pháp
giảng dạy Cờ Vua cho học sinh lứa tuổi 7 - 8 trường tiểu học Thị Trấn Lim.
Mục tiêu 2: Xác định hiệu quả của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển trí
lực của học sinh lứa tuổi 7 - 8 trường tiểu học Thị trấn Lim.
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua có hệ thống tới
sự phát triển trí lực của học sinh lứa tuổi 7 – 8 trường Tiểu học Thị trấn Lim,
Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 40 học sinh lứa
tuổi 7-8 trường tiểu học Thị trấn Lim, Bắc Ninh.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 7-8.
1.1.1 Cơ sở tâm lý lứa tuổi 7-8.
Điều kiện sống và hoạt động của trẻ trong những năm học ở trường học có
những biến đổi cực kì quan trọng, do đó tâm lý của trẻ cũng thay đổi và có
những đặc điểm riêng như sau:
a. Sự phát triển trí tuệ và hoạt động học tập:

chú ý bởi những tác động bên ngoài khác. Chính vì vậy, trong quá trình giảng
dạy phải lựa chọn những bài tập phù hợp với khả năng của các em.
c, Trí nhớ:
Trí nhớ lứa tuổi này phong phú và hoàn thiện trong quá trtình nắm vững
bài học, trí nhớ trực quan, hình tượng phát triển hơn trí nhớ logic. Vì vậy, trong
quá trình giảng dạy cho các em, giáo viên không nhất thiết phải giảng giải một
cách sâu sắc bản chất của một bài học mà cần tạo cho các em khả năng nhanh
chóng hoàn thành bài tập, kích thích sự hứng thú trong học tập một cách thường
xuyên.
d, Tưởng tượng:
Tưởng tượng lứa tuổi 7 - 8 phát triển hơn trẻ mẫu giáo song còn nghèo
nàn, tản mạn và ít có tổ chức.
Tưởng tượng tái tạo của các em được phát triển trong quá trình học tập.
Với những tri thức và kỹ năng các em mới tiếp thu được làm cho tưởng tượng
của các em trở nên hoàn thiện và vẫn giữ được tính cụ thể, sinh động phản ánh
hiện thực một cách trung thực hơn.
e, Tư duy:
Tư duy của các em lứa tuổi 7 - 8 là tính cụ thể và tính xúc cảm. Tính cụ
thể trong tư duy của các em chứng tỏ hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất
chiếm ưu thế rõ rệt so với hệ thống tín hiệu thứ hai. Vì vậy, trẻ thường gặp khó
5
khăn trong việc khái quát hóa, hình tượng hóa từ các sự vật, các hiện tượng và
các hiện tượng cụ thể. Tính xúc cảm trong tư duy của trẻ rất nhạy bén với những
điều chúng suy nghĩ thông qua những tác động cụ thể của các yếu tố trực quan
từ thực tế mà trẻ quan sát thấy. Học sinh ở lứa tuổi này hiểu mối quan hệ nhân
quả còn chật hẹp do tư duy của các em còn cụ thể. Do đó, giáo viên cần đưa ra
bài tập cho các em phải phù hợp với khả năng tư duy của trẻ, tránh bắt chước.
f, Tri giác:
Tri giác là một quá trình nhận thức, phản ánh trọn vẹn các thuộc tính của
sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan.

mà các em đã tiếp thu và củng cố vững chắc.
Các cơ quan thực vật ở trẻ 7 - 8 tuổi đã có bước phát triển nhất định, cơ
tim phát triển tương đối yếu, lực co bóp của tim yếu, sự điều hòa thần kinh của
hệ thống tim mạch tương đối phát triển hơn nhưng chưa hoàn thiện. Sự phát
triển cũng như chức năng của phổi mạnh hơn, nhanh hơn so với sự phát triển
của tim. Quá trình hồi phục chậm, khả năng thích nghi với khối lượng vận động
kém. Nếu khối lượng lớn thì các em sẽ nhanh chóng bị mệt mỏi.
1.2. Các quan điểm khoa học mới về trí lực (trí tuệ).
Trí lực (năng lực trí tuệ) – theo từ điển Wikipedia tiếng Việt thì, trí tuệ
của con người được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cho tới nay cuối
thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI thì khoa học tâm lý đại cương đã giải quyết những
vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực này. Vấn đề còn tranh cãi hiện nay là thuật ngữ và
khái niệm khoa học.
Riêng sự tranh luận về tính chất của ba cấp độ: trí tuệ, trí khôn và trí
thông minh có phải là năng lực suy nghĩ của con người hay là vấn đề rộng rãi
hơn cho tới nay vẫn còn chưa kết luận. Theo Nguyễn Khắc Viện: Trí tuệ bao
gồm nhiều nghĩa:
Khả năng hiểu biết, suy luận sáng tạo, khả năng hành động thích nghi với
biến động của hoàn cảnh về hành động gọi là trí khôn, thiên về tư duy trừu
7
tượng gọi là trí tuệ. Trí khôn thực tiễn giúp cho thích nghi với tình huống cụ thể
gọi là trí làm. Trí tuệ trừu tượng gọi là trí nghĩ.
Thông minh cũng được hiểu là trí tuệ. Song ở mức phát triển cao, cốt lõi
của trí thông minh chính là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng
tạo.
Như vập các thuật ngữ “ trí tuệ”, “trí khôn”, “trí thông minh” là các hàm
lượng từ thấp đến cao của trí tuệ con người. Theo kết quả nghiên cứu của GS.
Trần Trọng Thủy nên phân loại trí tuệ theo các dạng sau:
Loại thứ nhất: Coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá
nhân.

nhân cách được thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán,
thông hiểu một cách đúng đắn và trong việc làm cho môi trường thích nghi với
khả năng của mình.
Hay nói một cách khác trí tuệ là khả năng hoạt đông tư duy cao đảm bảo
cho cá nhân nắm vững kiến thức khoa học và giải quyết hoạt động với các
phương án tối ưu hợp với tình huống, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động. Và
ông cũng cho rằng: Trí tuệ thể hiện trong khả năng nhận thức (tri thức), cũng
như kỹ năng kỹ xảo vận động.
Loại thứ ba: Coi trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân.
Đây là kiểu định nghĩa được phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu
tán thành. Chẳng hạn, David Wechsler nhà tâm lý học Mỹ nổi tiếng, tác giả của
một trong những phương pháp nghiên cứu trí thông minh lừng danh, đã xem trí
tuệ, trí thông minh và năng lực chung của cá nhân được thể hiện trong hoạt động
có mục đích, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn giúp con
người thích nghi với môi trường.
X.L Rubinstein cũng khẳng định rằng: Trí tuệ chỉ có thể được vạch ra
trên bình diện của những mối quan hệ qua lại có hiệu lực cụ thể của cá nhân với
môi trường xung quanh.
9
Tính chất phổ biến của quan điểm này đối với việc định nghĩa khái niệm
đó bên ngoài sự tác động qua lại của cá nhân với môi trường xung quanh. Tuy
nhiên sự tác động qua lại đó phải được xem xét như là một sự thích ứng tích cực
có hiệu lực, chứ không phải là một sự thích nghi đơn giản.
Thực ra các quan điểm trên không mâu thuẫn nhau. Điều khác biệt giữa
chúng chỉ là mối quan hệ đều xuất phát từ một dáu hiệu nào đó được cho là quan
trọng nhất. Năng lực nhận thức, năng lực học tập, năng lực tư duy trừu tượng xét
cho cùng đều là nhằm mục đích tạo ra sự thích ứng, tích cực, sáng tạo, có hiệu
quả trong sự tác động qua lại của cá nhân với môi trường xung quanh. Nhận
thức tốt sẽ có cơ sở thích ứng năng lực tư duy trừu tượng cũng được hình thành
dần và phát triển trong học tập, trong hoạt động.

những đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm tâm lý cá nhân của học sinh.
Chúng ta không thể phủ nhận ý nghĩa của một điều kiện tư nhiên như đặc
điểm cơ thể trẻ em khi mới sinh, trước hết là hệ thần kinh trung ương đến sự
phát triển trí tuệ của trẻ em.
Các nhà tâm lý tư sản lạ cho rằng: Bẩm sinh và di truyền là yếu tố quyết
định đến sự phát triển trí tuệ của trẻ, đặc biệt là năng khiếu.
Nhà tâm lý học Mỹ R.Toocdai nói: Trẻ em thừa hưởng những gen của các
năng lực trí tuệ tốt sẽ trở thành những người có trí tuệ cao, thậm chí không cần
sự giảng dạy đặc biệt.
Theo R.Toocdai yếu tố môi trường, dạy học chỉ đóng vai trò thứ yếu, ông
viết: “một số học sinh không thể vượt qua một trình độ nhất định, mặc dù giành
rất nhiều thời gian để làm việc đó. Chúng không thể sẵn sàng giải một bài toán
có tính chất phức tạp và trừu tượng ở một mức độ nhất định”.
Quan điểm trên của các nhà tâm lý học tư sản tuy coi yếu tố di truyền
quyết định sự phát triển, song quan điểm đó có điểm tiến bộ mà chúng ta cần
chú ý: “cái bẩm sinh”, “cái vốn có” của trẻ. Yếu tố đó đóng vai trò tiền đề vật
chất trong sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ thì phải chú ý đến đặc điểm tự
11
nhiên của chúng. N.X.Laytex viết: “sự phát triển trí tuệ chân chính rõ ràng
không phải là cái gì nằm ngoài năng khiếu”.
1.3.2.2. Yếu tố giảng dạy, giáo dục và rèn luyện.
Hiện nay, lý thuyết hiện đại và con người cho ta thấy những yếu tố di
truyền không quyết định sự phát triển về mặt tâm lý của con người. Cuộc sống
cho ta thấy, con người khi mới ra đời cực kỳ bất lực, trẻ sơ sinh vẻn vẹn chỉ có
những bẩm sinh khả dĩ để người lớn chăm sóc cho nó sống nổi và cũng chính
như vậy mà sau này đứa trẻ có thể có tất cả.
Điều kiện sống của đứa trẻ ảnh hưởng đến sự phát triển của nó thông qua
con đường tự giác và tự phát.
- Ảnh hưởng tự giác: Phải nói đến vai trò của dạy học ở nhà trường và cha
mẹ của học sinh.

tri thức và những kỹ năng – kỹ xảo tương ứng với nó. Có thể nói, cái đích mà
hoạt động học tập hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng – kỹ xảo của xã hội
thông qua sự tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo này sẽ không thể hiện được nếu
người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu những tri
thức, kỹ năng – kỹ xảo chỉ được truyền cho người học theo cơ chế “máy phát”
(người dạy) “máy nhận” (người học) muốn học có kết quả người học phải tích
cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ
của bản thân mình
Thứ hai là: Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý
thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng – kỹ xảo. Hoạt động học trước hết là hoạt
động tiếp thu những tri thức, kỹ năng – kỹ xảo tiếp thu cả nội dung và hình thức
của chúng.
Sự tiếp thu đó có thể diễn ra trong hoạt động thực tiễn, nó thường diễn ra
sau khi chủ thể hoạt động trong một tình huống cụ thể. Do đó sự tiếp thu thường
gắn vào từng hoàn cảnh cụ thể, phụ thuộc vào từng múc đích riêng lẻ mà hành
động hướng tới. Những tri thức, kỹ năng – kỹ xảo tiếp thu trong từng tình huống
13
đó mang tính chất kinh nghiệm, giúp họ hành động có kết quả trong một tình
huống xác định. Cứ như thế, kinh nghiệm dần được tích lũy. Nhưng những kinh
nghiệm đó thường không hệ thống, chưa được khái quát và thường không lý giải
được đầy đủ cơ sở khoa học của chúng. Đó là con đường kinh nghiệm trong việc
tiếp thu tri thưc, kỹ năng – kỹ xảo.
Trái lại sự tiếp thu tri thưc, kỹ năng – kỹ xảo trong hoạt động học tập là sự
tiếp thu có tính tự giác cao. Đối tượng tiếp thu trở thành mục đích của hoạt động
học tập. Những tri thức đó đã được chọn lọc, tinh chế và tổ chức lại một hệ
thống nhất định bằng cách vạch ra cái bản chất, phát hiện những mối liên hệ
mang tính quy luật, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật và
hiện tượng. Những hiểu biết đó không chỉ đúng và thích hợp cho một tình huống
nào đó mà nó đúng và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự. Do đó hoạt động
dạy phải tạo được ở người học những hoạt động thích hợp với mục đích của việc

nhận hoặc biện minh cho lỗi lầm của mình. Để hoàn thiện trình độ của mình,
VĐV luôn phải phân tích các ván cờ đã thi đấu, tìm ra những sai lầm mắc phải,
rút kinh nghiệm cho các ván đấu sau. Như vậy, Cờ Vua giúp con người nhìn
nhận bản thân, thừa nhận những sai lầm và sửa được những sai lầm mắc phải.
Laxker - Cựu vô địch Cờ Vua thế giới đã viết: “Trên bàn cờ không có chỗ cho
kẻ lười biếng và giả dối. Vẻ đẹp sự phối hợp trong Cờ Vua thể hiện ở chỗ là
chính nó luôn luôn chân thật. Sự thật thẳng thắn trong Cờ Vua mở mắt cho
những kẻ giả dối” .
1.3.4. Lợi ích của Cờ Vua đối với trẻ em.
Các nhà khoa học thế giới đã chứng minh được rằng chơi Cờ ở trẻ
giúp chống lại được sự trì trệ, chậm chạp của bộ não và giúp cho trí
não được thường xuyên làm việc, tư duy sắc sảo, logic hơn, kích thích
sự hưng phấn của não giúp cho não phát triển và hoàn thiện dần các
chức năng. Cờ cũng là môn thể thao hoàn toàn không bị va chạm hay
chấn thương cơ thể dẫn tới tàn tật hay nguy hiểm tới tính mạng.
15
Các chuyên gia dạy Cờ đã phát hiện trò chơi thể thao này giúp trẻ cư xử
thông minh hơn, tập trung tốt hơn và có tư duy logic. Nó cũng đặc
biệt tốt với trẻ tự kỷ hay rối loạn hành vi. Với những trẻ bị rối loạn
phát triển, Cờ Vua thường chứng tỏ một trí thông minh đặc biệt nào
đó. Trẻ tự kỷ thường giỏi hơn bạn cùng lứa trong môn thể thao này,
còn những trẻ bị các trục trặc hành vi như rối loạn tăng hoạt động
giảm chú ý thì nhờ Cờ Vua mà cải thiện khả năng tập trung.
Hiện nay, Bộ môn Cờ đã được đưa vào chương trình giảng dạy của các
trường tiểu học tại các nước phát triển (như Mỹ, Singapore…). Các
báo cáo nghiên cứu về lợi ích của Cờ Vua với giáo dục đã chứng minh
được rằng môn thể thao trí tuệ này giúp trẻ thông minh hơn bằng cách
phát triển các kỹ năng như:
1. Sự tập chung: Trẻ được dạy về tác dụng của việc quan sát cẩn thận và
tập trung khi chơi Cờ. Bởi nếu trẻ không quan sát được điều gì đang

8. Khả năng cân nhắc đồng thời nhiều vấn đề: Trẻ em được khuyến khích
không chú tâm quá nhiều vào một vấn đề, chúng được học cách cân
nhắc rất nhiều các vấn đề cùng một lúc.
9. Khả năng sáng tạo: Khi học Cờ, trẻ học cách đưa ra các giải pháp theo
tính chất thiên biến vạn hóa của từng ván Cờ, thay vì áp dụng một
cách cứng nhắc theo các quy tắc.
10. Tính kỷ luật: Những quy tắc trong khi chơi Cờ sẽ rèn luyện cho trẻ
tính kỷ luật cao. Ví dụ như khi chơi Cờ, trẻ phải đợi đến lượt của
mình mới được phép di chuyển quân.
Các kỹ năng trên không cụ thể trong Cờ Vua, nhưng chúng xuất hiện ở tất
cả các phần trong mỗi ván Cờ. Cờ Vua được ví như một công cụ dạy
học đặc biệt, nó kích thích tư duy của con trẻ và giúp chúng hình
thành và phát triển các kỹ năng khi chơi Cờ. Kết quả là trẻ sẽ có được
tư duy tốt hơn, khả năng giải quyết vấn đề nhanh hơn và sự tự tin, độc
17
lập trong suy nghĩ của chính mình (theo Chess life tháng 11 năm
1982, nguồn Dean J. Ippolito).
Cờ Vua giúp trẻ xây dựng mối quan hệ cá nhân và tinh thần trường lớp
khi chúng cùng nhau tham gia một đội để giao đấu với trường khác. Cờ Vua
cũng dạy cho trẻ tinh thần thể thao – cách để chiến thắng một cách đẹp nhất và
không bao giờ bỏ cuộc trong thi đấu.
1.4. Phương pháp và nguyên tắc giảng dạy Cờ Vua.
1.4.1. Phương pháp giảng dạy Cờ Vua.
Các nguyên tắc về phương pháp là hạt nhân cơ bản trong việc chọn lựa
những phương pháp để ứng dụng vào quá trình giảng dạy, truyền thụ kiến thức
cho đối tượng giáo dục. Nó được xây dựng trên cơ sở của các quy luật về tâm lý
giáo dục nói chung.
- Phương pháp dùng lời hay phương pháp mô tả bằng lời (kể chuyện,
miêu tả, giải thích, giảng bài, trò chuyện, nghiên cứu tài liệu).
- Phương pháp bài tập (giải các thế cờ theo chủ đề đã được chọn lựa riêng

Các hình thức tác động giáo dục trong phạm vi thực hành thể thao và
hoàn thiện trình độ điêu luyện trong các môn thi đấu khác nhau như: Tuân thủ
chính xác thời gian biểu các ngày, các giờ chơi trong đội tuyển và các cuộc thi
đấu; Chấp hành nghiêm ngặt chế độ thể thao trong thời gian thi đấu; Chế độ
thực hiện lượng vận động thể lực (các bài tập thể thao khác nhau, các buổi đi
dạo); Tham quan các di tích lịch sử và tham dự các hoạt động văn hóa.
Có thể đưa ra một số biện pháp tự giáo dục, tự học Cờ Vua như: Thực
hiện các nhiệm vụ và các bài tập ở nhà, công bố kịp thời các tư liệu có giá trị xã
hội, đọc và nghiên cứu các tài liệu, tự bình luận các ván cờ thi đấu của mình,
nắm bắt các kiến thức về lý thuyết khai cuộc, hoàn thành tiêu chuẩn rèn luyện
thân thể.
- Nguyên tắc hệ thống.
19
Cơ sở của nguyên tắc này bao gồm các tài liệu giảng dạy và phương pháp
truyền thụ chúng.
Để đảm nguyên tắc này cần tuân thủ các quy tắc sau:
Quy tắc thứ nhất - Tùy thuộc vào lứa tuổi, đặc điểm tâm - sinh lý, mục
đích giờ học mà đưa ra những phương pháp, hình thức tổ chức, và lượng kiến
thức cho phù hợp.
Quy tắc thứ hai - Giáo viên cần trình bày bài giảng theo một trình tự
logic nhất định trên nguyên tắc sư phạm phổ biến “ từ đơn giản đến phức tạp, từ
đã biết đến chưa biết”.
Quy tắc thứ ba - Các tài liệu cần được trình bày thành từng phần, theo
một hệ thống nhất định, và phải có ví dụ minh họa cụ thể.
Quy tắc thứ tư - Mỗi giờ học ít nhất phải có một thời điểm mấu chốt để
giúp cho việc hiểu rõ chủ đề của bài học (chủ yếu là lý thuyết khai cuộc, các
nguyên tắc trong cờ tàn, chiến lược ở trung cuộc.v.v.).
- Nguyên tắc vừa sức.
Cơ sở của nguyên tắc này là cần phải tính đến những đặc điểm về cá nhân
như: Lứa tuổi, đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng tiếp nhận kiến thức và các đặc

hiểu biết ban đầu đến nắm chắc kiến thức và kỹ năng.
Khái niệm khả năng tính toán trong Cờ Vua theo nghĩa hẹp dựa trên quá
trình tư duy sau: Phân tích tổng hợp tình huống thi đấu, chắt lọc để thu nhận
những gì là quan trọng nhất, vứt bỏ những điều gì không cần thiết, kiểm tra lại
một cách có phê phán các kết quả trước đó.
Các hình thức giảng dạy đặc trưng giúp cho việc nắm bắt vững chắc kiến
thức, phát triển năng lực nghiên cứu các thế cờ có tính chất lý thuyết rõ ràng,
chăm chú tìm kiếm các cách đánh mới, thực hiện các ván đấu theo đề tài với
thời gian suy nghĩ được rút ngắn, kiểm nghiệm bằng thực tế những ý tưởng khai
cuộc mới, tìm cách chơi cho những thế cờ mà một bên có một chút ưu thế,
nghiên cứu tỉ mỷ các ván cờ của các Đại kiện tướng.
21
1.4.3. Trình tự giảng dạy trong Cờ Vua.
Để xác định trình tự giảng dạy trong Cờ Vua cần phải căn cứ vào mục
đích, yêu cầu, nhiệm vụ, thời gian và đối tượng giảng dạy mà đưa ra nội dung
cho phù hợp. Thông thường, nội dung giảng dạy trong Cờ Vua được sắp xếp
theo trình tự như sau (với mục đích phổ cập Cờ Vua là chính yếu):
1. Bàn cờ, quân cờ (Nội dung cơ bản có thể là: Bàn cờ hình vuông gồm
64 ô, các ô Đen Trắng xếp xen kẽ lẫn nhau, 32 ô màu sáng, 32 ô màu tối, 16
quân mỗi bên. Gồm một Vua, một Hậu, hai Xe, hai Tượng, hai Mã và tám Tốt.
Vị trí của chúng ).
2. Các nhân tố trên bàn cờ (Tương tự có thể giới thiệu từ: Tên gọi của ô
cờ, hàng ngang, cột dọc, đường chéo, cánh Hậu, cánh Vua trung tâm, trung tâm
mở rộng, đường giới tuyến, đường biên).
3. Luật di chuyển quân, các hình thức ăn quân (Thông thường trong giảng
dạy Cờ Vua người ta giới thiệu cách di chuyển quân theo trình tự như sau: Vua,
Xe, Tượng, Hậu, Mã, Tốt. ).
4. Kết thúc ván cờ (Thông thường bắt đầu từ: Nước chiếu Vua, cách
chống đỡ khi Vua bị chiếu, các tình huống và cục diện hòa cờ ).
5. Các thuật ngữ trong Cờ Vua (Cần phải giới thiệu mang tính đặc thù Cờ

bình của mỗi lứa tuổi, căn cứ vào độ tuổi để đánh giá mức độ trí tuệ của mỗi cá
nhân trong lứa tuổi đó.
Như vậy trắc nghiệm trí tuệ thực chất là công cụ kiểm tra trí tuệ đã đạt
đến mức nào. Thông qua trắc nghiệm trí tuệ để đo lường trí tuệ cao, thấp và qua
đó để định mức trí tuệ.
Ngày nay, không phải mọi người đều thừa nhận sự cần thiết sử dụng các
trắc nghiệm để nghiên cứu trí tuệ, nhưng không ai có cơ sở chuẩn nào để khước
từ các trắc nghiệm về trí tuệ. Đúng như B.Bitinax đã nhận định: Phủ nhận khả
năng đo lường năng lực trí tuệ có nghĩa là thừa nhận sự bất khả tri đối với loại
hiện tượng nào đó. Theo kết quả nghiên cứu về trí tuệ của nhiều tác giả trong và
ngoài nước, trắc nghiệm về các năng lực trí tuệ được chia thành 3 loại:
23
Một là trắc nghiệm trí thông minh: Năng lực trí tuệ chung, chúng có ý
nghĩa đánh giá tiềm năng trí tuệ hơn là những kiến thức học được trước đây
hoặc đã tích lũy được.
Hai là trắc nghiêm về năng lực: Đánh giá về các kiểu năng lực trí tuệ đặc
biệt như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tri giác không gian, năng lực cơ khí, năng
lực thực hành…Nó dự báo một cá nhân sẽ làm được gì sau này, khi đã được đào
tạo phù hợp và có động cơ đúng đắn. Các trắc nghiệm này dùng để khảo sát
những người xin việc và những người dự thi vào các trường đại học.
Ba là các trắc nghiệm về thành tích học tập, đánh giá các tri thức về môn
học nào đó: Loại trắc nghiệm này được dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học
tập. Bất kỳ một trắc nghiệm tốt nào cũng phải đủ 3 tiêu chuẩn, phải là tin cậy,
phải là ứng nghiệm và phải được tiêu chuẩn hóa. Trong đó:
- Tính tin cậy: Khi ta dùng các hình thức khác nhau của cùng một trắc
nghiệm hoặc tiến hành cùng một trắc nghiệm nhiều lần trên cùng một đối tượng
thì kết quả thu được phải giống nhau.
- Tính ứng nghiệm: Trắc nghiệm phải đo được chính cái chúng ta định đo.
- Tính tiêu chuẩn hóa: Trắc nghiệm phải được thực hiện theo một thủ tục
tiêu chuẩn và phải có những quy chuẩn căn cứ theo một nhóm và nhóm này phải

nhớ… Nhưng theo chúng tôi bản chất của trí tuệ tập trung ở hai yếu tố tâm lý là:
+ Sự thông hiểu (năng lực nhận thức)
+ Tư duy trừu tượng
Đó cũng là cơ chế biểu hiện của trí thông minh sáng tạo nói chung và
đồng thời là căn cứ để sáng tạo các phương pháp đo đạc của nhiều tác giả. Công
trình nghiên cứu của chúng tôi cũng dựa trên cơ sở khoa học ấy.
Tóm lại: Khi tham khảo tài liệu khác nhau, bước đầu đề tài đã xác định
được những căn cứ, cơ sở lý luận của đề tài cũng như cách thức tiến hành công
việc. Và dựa trên các nguồn tư liệu đó, đề tài đã lựa chọn chương trình giảng
dạy Cờ Vua nhằm phát triển trí lực và các test đáng giá năng lực trí lực để có thể
25

Trích đoạn Tổ chức thực nghiệm: Đánh giá hiệu quả của chương trình giảng dạy Cờ Vua nhằm phát triển trí lực cho học sinh lứa tuổi 7 8 trường tiểu học Thị trấn Lim:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status