ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT GẮN VỚI NGÔI KỂ THỨ BA
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Thiều Thị Hạnh
1 Nguyễn Thị Thu Huệ là một nhà văn nữ trẻ, đa tài của văn học thời
kỳ sau đổi mới. Chị đã thành công trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó,
truyện ngắn là một thể loại văn học được chị đam mê hơn cả.
Tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Thị
Thu Huệ, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất,
trong một số truyện ngắn chị vẫn sử dụng lối kể mang tính truyền thống - kể
chuyện ngôi thứ ba. Song ở lối kể này, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu
và tận dụng ưu thế của nó, chị đã tạo được nội lực riêng, mở ra điểm nhìn
đa chiều, mang phong vị, hơi thở riêng, khẳng định được vị trí vững chắc
trên văn đàn.
1. Mở đầu
Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong số nhà văn nữ trẻ của thời kỳ sau đổi mới. Với sức
viết dồi dào và sự nhạy cảm đặc biệt với các vấn đề nhân sinh, truyện ngắn của của chị mang
chiều sâu nội cảm phong phú và đa dạng trong cách phản ánh hiện thực đời sống. Mặc dù
thành công trên cả lĩnh vực biên kịch, làm phim, nhưng nhắc đến Nguyễn Thị Thu Huệ trước
hết là nói tới một nhà văn nữ đầy đam mê với thể loại truyện ngắn. Đến nay, chị đã xuất bản
được sáu tập truyện ngắn có giá trị: Cát đợi (1992), Hậu thiên đường (1993), Phù thủy
(1995), 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2001), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2006). Tác phẩm của chị thu hút được đông đảo độc giả, chị được
vinh dự nhận nhiều giải thưởng văn chương như: Giải nhì cuộc thi truyện ngắn của Hội văn
học nghệ thuật Hà Nội (1986); Giải A cuộc thi viết về Hà Nội do Hội nhà văn tổ chức (1993);
Giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn Tác phẩm xanh của báo Tiền Phong (1993); Giải nhất cuộc
thi viết truyện ngắn do báo Văn nghệ quân đội tổ chức (1994).
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, người đọc cảm nhận đó là tiếng lòng của
đã khẳng định ở trên, là chị không hề đoạn tuyệt với lối kể chuyện truyền thống, mà ngược lại,
trong khi thể nghiệm những cách tân táo bạo bằng lối kể chuyện mới, chị vẫn kế thừa và phát
huy sức mạnh từ lối kể chuyện truyền thống kết hợp với sự sáng tạo mới mẻ của riêng mình để
tạo nên những sức hút riêng.
Trong nhiều truyện ngắn của chị, chủ thể kể chuyện được đặt ở ngoài câu chuyện, tức
hình thức kể ở ngôi thứ ba nhưng vẫn tạo ra sức hấp dẫn mãnh liệt. Câu chuyện về đời sống
được diễn ra “tự nhiên” qua lời của một người kể chuyện “vô hình”. Chủ thể kể chuyện có thể
là người “đứng ngoài” chuyện nhưng đóng vai trò như một “người biết hết”, dẫn dắt bạn đọc
vào thế giới nhân vật, sự kiện. Các tác phẩm: Tân cảng; Xin hãy tin em; Thiếu phụ chưa chồng;
Rượu cúc; Tình yêu ơi, ở đâu?; Một trăm linh tám cây bằng lăng; Phù thuỷ; Của để dành; Lời
thì thầm của mùa xuân; Cầu thang; Giai nhân; Mùa thu vàng rực rỡ; Một nửa cuộc đời; Hoa
nở trên trời; Nào, ta cùng lãng quên; Bảy ngày trong đời… có cách kể chuyện như vậy. Điều
đáng nói là dù sử dụng lối kể truyền thống nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ đã “phù phép” vào lối
kể vốn đã quen thuộc đó khiến nó như được tái sinh, mang một phong vị riêng, một hơi thở
riêng. Bởi thế, những tác phẩm này của chị đã rời xa lối hành văn trang trọng thường thấy
trong văn học sử thi với những tụng ca, những lời phán xét, bình luận của chủ thể kể, mà diễn
tả sự ào ạt của sự kiện, của những buồn đau, đổ vỡ trong lòng nhân vật. Trong Phù thuỷ, sự
kiện diễn ra hỗn độn, ngổn ngang, con người méo mó, nhếch nhác, đáng thương đến tội nghiệp.
Thiếu phụ chưa chồng lại diễn đạt một cách phóng túng những mảnh đời, mảnh người trong thế
gian này. Trong Của để dành, chủ thể kể đứng ngoài truyện, không can thiệp, phân tích nhân
vật. Với Tân cảng, cuộc chia ly nghẹn ngào, đắng chát để lại nỗi ám ảnh giằng xé trong lòng
người. Sự ngơ ngác hồn nhiên của những đứa trẻ đứng trước “Tân cảng” trước ngã rẽ cuộc đời
thật đáng thương, gợi suy nghĩ về hạnh phúc thực sự của cuộc đời, người kể dường như hoà
vào dòng suy tư của nhân vật, cộng hưởng với trăn trở chung của người đọc tạo nên sắc thái
đặc sắc tự sự. Xin hãy tin em lại có kết cấu khá bất ngờ làm bật lên những nghịch lý trớ trêu
trong việc thử thách đùa giỡn với con người. Tình yêu ơi, ở đâu? lại đặt ở người kể chuyện một
trọng trách không nhỏ trong việc chuyên chở những băn khoăn, dằn vặt của con người. Một
trăm linh tám cây bằng lăng có sức ám ảnh từ nỗi xót xa, tiếc nuối… Do lối sắp xếp, bố trí sự
kiện khéo léo kết hợp với nghệ thuật tổ chức điểm nhìn độc đáo mà dù có một khoảng cách rất
xa với nhân vật, bạn đọc vẫn bị cuốn vào những điều mình quan tâm một cách tự nhiên.
Khi trần thuật từ ngôi thứ ba, bên cạnh việc chọn điểm nhìn từ bên ngoài mang tính khách
quan, Nguyễn Thị Thu Huệ còn kết hợp với điểm nhìn bên trong để hóa thân vào nhân vật, trải
nghiệm những cảm xúc, những nỗi niềm, những đớn đau và những day dứt mà nhân vật phải
nếm trải để tạo độ chân thật cho truyện kể. Điều này một mặt mang lại tính chất “nóng hổi”,
tính hiện tại chưa hoàn kết cho câu chuyện, mặt khác còn giúp cho việc khắc họa tính cách của
nhân vật một cách chân thực và toàn diện nhất. Ta có thể bắt gặp việc sử dụng điểm nhìn này
trong hầu hết các truyện đã nêu. Trong Tân cảng, nỗi đau được đặt vào đúng vào điểm nhìn của
nhân vật trong cuộc càng trở nên thấm thía: “Không có điều gì làm chị xúc động hơn chính bản
thân bão tố trong lòng chị lúc này. Chiến tranh đã nổ ra. Bom đã rơi vào chính chị. Và chị cũng
phải chạy đi. Đến một cảng mới để làm lại từ đầu”. Với Tình yêu ơi, ở đâu? , tác giả đã khéo
léo kết hợp điểm nhìn khách quan từ bên ngoài với điểm nhìn bên trong của nhân vật để tái
hiện nỗi bẽ bàng, đắng cay của nhân vật: “Tối đến. Dưới gốc cây có bao đôi trai gái tình tự và
trong hàng nghìn quán giải khát có bao người hôn nhau? Tại sao đến giờ nàng vẫn cô đơn khi
mà nàng xinh đẹp, có học, không tật nguyền?”. Với Giai nhân, sau khi đặt điểm nhìn vào người
kể chuyện ngôi thứ ba để tái hiện gia cảnh của Sao, một cô gái đẹp ở tuổi xế bóng nhưng vẫn
cô đơn vì sự kiêu ngạo, đỏng đảnh, tác giả đã khéo léo để cho nhân vật tự mình nếm trải để tự
dằn vặt, ân hận: “Trời ơi. Sao run rẩy. Tôi thề. Tôi thề sẽ yêu người gõ cửa này. Sẽ lấy người
đó làm chồng. Tôi cô đơn quá rồi. Tôi chẳng cần gì nữa ngoài việc phải có ngay một gia đình.
Tim Sao rung loạn xạ trong ngực như muốn bắn ra bên ngoài. Mình sẽ ôm lấy người ấy. Sẽ giữ
người ấy cho mình. Mình sẽ không để tuột đi đâu. Dù là ai”. Truyện ngắn Cầu thang cũng tạo
ra sức hấp dẫn từ chính việc đặt câu chuyện đời qua sự cảm nhận của Trân về nhịp sống thời
hiện đại với tất cả màu vẻ thô nhám vốn có của dòng xoáy cuộc đời khiến con người phải tìm
sự cân bằng ở chính những bậc cầu thang: “Họ đâu biết là cô chỉ được cảm thấy mình là mình
nhất khi đi ở những bậc cầu thang. Bao giờ bên trong những cánh cửa cuối cầu thang kia cũng
là sự bất ngờ. Cuộc sống thời hiện đại, tìm phút tự do cho mình khó quá”.
Với cách trần thuật từ điểm nhìn bên trong của nhân vật, những dòng hồi ức, tâm lý con
người được hiện ra một cách tự nhiên, đồng thời cũng tạo điều kiện để nhà văn đi sâu khám phá
những vùng mờ, khuất lấp trong tâm hồn con người để nó hiện lên với chiều sâu bản thể. Đồng
thời,với cách kể này, người kể chuyện từ ngôi thứ ba không chỉ quan sát được thế giới bên
ngoài của cuộc sống mà còn có khả năng thâm nhập, soi rọi vào chiều sâu tâm hồn của nhân
4. Nguyễn Thị Thu Huệ, Nào ta cùng lãng quên (Tập truyện ngắn). Nxb Văn học. H.,
2003.
5. Nguyễn Thị Thu Huệ, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ. Nxb Văn học, H., 2007.
6. Hà Minh Đức (Chủ biên), Lý luận văn học – in lần 7, Nxb Giáo dục, H., 2011
7. Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại
học Quốc gia, H., 2000.
BEING IN THE POSITION OF THE THIRD PERSON IN THE SHORT STORY IN
NGUYEN THI THU HUE’S STORIES
Thieu Thi Hanh
Abstract
Nguyen Thi Thu Hue is a young and talented writer of Vietnam’s contemporary
Literature. She has been successful in many areas of Art, but short stories are the best her
passion.
Through researching her stories, we find that she not only uses successfully first
person in telling story but also she still writes traditional ways-being in the position of third
person. By this way, she has been created her own internal resources for her stories by the
basing of inheriting and absorbing the achievements and using its advantages. Moreover, she
has also created wide ideals, multi- dimensional, her own taste, breathing, point of view in
her books. These help her to have a strong position in her career.