Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 30

MỤC LỤC Mở đầu........................................................................................................................ 01

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC........................ 06
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.............................. 06
1.1.1 Nguồn nhân lực ...................................................................................... 06
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực ...................................................................... 09
1.2 Những nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực.................................. 12
1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng ........................................... 12
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng ........................................ 13
1.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.......................................... 14
1.3 Sự cần thiết khách quan phải phát triển nguồn nhân lực .............................. 15
1.3.1 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế....... 15
1.3.2 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển dòch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH...................................... 17
1.3.3 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố nâng cao năng suất lao động và
tăng thu nhập cho người lao động .................................................................... 18
1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực là nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu
hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới........................................................ 19

1.4 Những bài học kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia
trong khu vực và thế giới ......................................................................................... 22
Bài học thứ nhất, coi giáo dục - đào tạo đóng vai trò quyết đònh trong quá trình
phát triển nguồn nhân lực ................................................................................ 24
Bài học thứ hai, phát triển nguồn nhân lực dựa trên nền tảng các giá trò văn
hóa truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại ................................ 28
Bài học thứ ba, phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo phải
gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội........................................... 29
Bài học thứ tư, chính phủ giữ vai trò chủ động thực hiện quá trình phát triển

Kết luận chương II............................................................................................ 98

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐẾN NĂM 2020 ............................................. 101
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL .......................... 101
3.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực.................................................... 101
3.1.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực....................................................... 102
3.2 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng ĐBSCL ............................ 104
3.2.1 Nhóm giải pháp 1: Phát triển giáo dục - đào tạo.................................. 104
3.2.2 Nhóm giải pháp 2: Đẩy nhanh đào tạo nghề ........................................ 113
3.2.3 Nhóm giải pháp 3: Gia tăng tốc độ giải quyết việc làm....................... 120
3.2.4 Nhóm giải pháp 4: Kiểm soát tỉ lệ tăng dân số và cải thiện điều kiện
sống của người lao động................................................................................... 133
3.2.5 Nhóm giải pháp 5: Phát triển, thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân
tài...................................................................................................................... 138
Kết luận chương III .......................................................................................... 143

Kiến nghò.................................................................................................................... 144
Kết luận...................................................................................................................... 147
Danh mục các công trình của tác giả
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

MỞ ĐẦU

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1. Về phương diện thực tiễn
Ngày nay lợi thế so sánh của sự phát triển nhanh đang chuyển dần từ yếu tố giàu
tài nguyên, tiền vốn, giá nhân công rẻ sang lợi thế về trình độ trí tuệ cao của con
người. Nguồn nhân lực trở thành nguồn tài sản quý giá, là nhân tố quyết đònh sự tăng

và hoàn thiện kòp thời những lý thuyết về phương pháp luận phát triển nguồn nhân lực
cho một vùng lãnh thổ.

II. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đây là đề tài nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực của một vùng lãnh thổ trong
một quốc gia. Vì vậy, chúng tôi xác đònh:
1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Nguồn nhân lực thực tế đang tham gia hoạt động kinh tế (kể cả trong và trên
độ tuổi lao động).
- Nguồn nhân lực dự trữ (lực lượng lao động bổ sung hàng năm và đang được
đào tạo).
- Nguồn nhân lực chưa có việc làm.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phát triển nguồn nhân lực của ĐBSCL. Nội
dung nghiên cứu được tập trung vào các vấn đề: giáo dục - đào tạo, dân số, chăm sóc
sức khỏe, cải thiện điều kiện sống, giải quyết việc làm, thu hút, quản lý, sử dụng và
đãi ngộ nguồn nhân lực. Trong đó, giáo dục - đào tạo được xác đònh là yếu tố tham gia
trực tiếp và đóng vai trò quyết đònh trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Do vậy,
luận án cũng đặt trọng tâm nghiên cứu vào khía cạnh giáo dục - đào tạo nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL.
III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Có thể nói các đề tài nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực hoặc có liên quan
đến phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học và giới quản
lý thực hiện. Đó là các nghiên cứu về:
- “Dự báo dân số, nguồn lao động và chính sách việc làm” của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội thực hiện năm 2002.
- “Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, do tập thể các tác giả (Trương Thò Minh Sâm,
Nguyễn Thế Nghóa, Phương Ngọc Thạch, Đặng Văn Phan, Trần Trọng Khuê, Hồ Anh
Dũng, Trương Văn Phúc) thực hiện năm 2002.
- “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

3. Cung cấp nguồn tư liệu để các bạn đọc tham khảo và gợi mở hướng nghiên
cứu mới cho các nhà khoa học quan tâm đến lónh vực phát triển nguồn nhân lực.

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài vận dụng các phương pháp: duy vật
biện chứng, duy vật lòch sử, suy luận logic, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên
gia, nghiên cứu kinh nghiệm thế giới, khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp theo cách
tiếp cận hệ thống, thống kê mô tả, điều tra tổng hợp, … để làm sáng tỏ các nội dung
nghiên cứu.
Nguồn tài liệu:
- Tài liệu sơ cấp: tự thu thập, khảo sát, điều tra. Mẫu điều tra được chọn theo
phương pháp chọn mẫu thuận tiện, kích thước mẫu dự tính là 350. Để đạt được mẫu là
350, 700 bảng câu hỏi được phát ra. Sau khi thu thập, kiểm tra, 358 bảng câu hỏi hoàn
tất được sử dụng.
- Tài liệu thứ cấp: Niên giám thống kê, các bài báo, chuyên đề, sách chuyên
khảo và các cuộc điều tra đã xuất bản. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án là một công trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả. Thành công của
luận án trước hết và quan trọng là những đóng góp mới cho lónh vực phát triển nguồn
nhân lực:
Một là, làm giàu thêm lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.
Đó là: rút ra những luận điểm cơ bản về khái niệm và nội dung của nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực.

Hai là, góp phần xây dựng phương pháp luận trong nghiên cứu các giải pháp
phát triển nguồn nhân lực của một vùng lãnh thổ. Đó là sự kết hợp lôgic biện chứng và
hệ thống giữa lý luận, kinh nghiệm, thực trạng và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực; là
việc xem xét phát triển nguồn nhân lực của một vùng lãnh thổ đặt trong mối liên hệ

gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của
người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được
chuẩn bò sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một đòa
phương nào đó…” [45, tr. 328].
* Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam [5], “nguồn lực con người là
quý báu nhất, có vai trò quyết đònh, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và
nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục
tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [30, tr. 6,9].
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam cũng đưa ra các quan điểm về nguồn nhân lực.
Theo chúng tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn là
nguồn lực con người. Vì vậy trước hết và quan trọng khi nghiên cứu nguồn nhân lực là
phải xác đònh vai trò quyết đònh của con người bằng lao động sáng tạo để xây dựng xã
hội văn minh, không ngừng phát triển và hướng tới một mục tiêu đã đònh. Đề cập đến
nguồn lực con người không chỉ có trí lực (thể hiện kỹ năng lao động, năng lực tổ chức
và quản lý), thể lực, mà còn phải có phẩm chất đạo đức, nhân cách thẩm mỹ, tác phong
làm việc và sự kết hợp giữa các yếu tố đó phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở từng thời kỳ nhất đònh.
Điều đó cũng có nghóa là, nội hàm của khái niệm nguồn nhân lực phải tập trung
phản ánh những vấn đề sau đây:
Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu tố quyết
đònh sự phát triển của xã hội.
Hai là, nguồn nhân lực gồm hai mặt số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất
lượng thể hiện ở trí lực, thể lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp
giữa các yếu tố đó.
Ba là, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết
phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại.
Từ cách tiếp cận đó, nhận xét về các quan điểm nêu trên, theo chúng tôi:
- Quan điểm của Liên Hiệp Quốc là chưa toàn diện, vì nó chỉ mới đề cập đến

của con người, vì thế đóng vai trò quyết đònh trong sự phát triển nguồn nhân lực.
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp, mà còn
là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thòt, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là
khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển
trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri
thức thành sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế
khi thể lực của con người được phát triển. Nói cách khác, “trí tuệ là tài sản quý giá
nhất trong mọi tài sản, nhưng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản
đó” [29, tr. 16].
Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực không thể không xét đến yếu tố nhân cách,
thẩm mỹ, quan điểm sống. Đó là sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết
tinh từ một loạt các giá trò: đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và
tinh thần trách nhiệm trong công việc, khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng
hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trò của cuộc
sống. Chúng tôi cho rằng, trong mối quan hệ với các yếu tố khác cấu thành nguồn nhân
lực, trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đóng vai trò quan trọng, vì nó đem lại cho
con người khả năng thực hiện tốt hơn các chức năng xã hội và nâng cao năng lực sáng
tạo của họ trong hoạt động thực tiễn.
Lẽ tất nhiên, như Hồ Chủ Tòch đã nói: “có đức mà không có tài, làm việc gì
cũng khó; nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng”. Bởi vậy, sẽ không đầy đủ
khi nói đến nguồn nhân lực nếu không đề cập đến sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí
lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con
người, cộng đồng và cũng là để hướng người lao động đến sự phát triển toàn diện. 1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Cùng với sự phát triển của nhân loại, khái niệm phát triển nguồn nhân lực cũng

“Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là gia tăng giá trò cho con người trên các
mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn… để họ có thể tham gia vào lực
lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy
truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân
loại. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển
nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn
nhân lực phát triển” [34].
Kế thừa và phát triển những quan điểm trên, theo chúng tôi dưới góc độ nghiên
cứu tổng thể, phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn lực con người dưới dạng
tiềm năng thành “vốn con người, vốn nhân lực”. Xét ở góc độ cá nhân, đó là nâng cao
tri thức, sức khỏe, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động dẫn đến tăng thu nhập
và cải thiện chất lượng cuộc sống. Xét ở góc độ xã hội, là quá trình tạo dựng một lực
lượng lao động cả về số lượng, chất lượng và sử dụng chúng có hiệu quả nhằm đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ.
Do vậy, một cách đầy đủ và khái quát hơn, theo chúng tôi: phát triển nguồn
nhân lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ là quá trình tạo ra sự biến đổi số lượng và
chất lượng nguồn nhân lực cùng với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng.
Tất nhiên, cũng cần phân biệt giữa phát triển nguồn nhân lực và phát triển con
người. Phát triển nguồn nhân lực là khái niệm hẹp hơn so với phát triển con người. Phát
triển nguồn nhân lực nhìn nhận con người dưới góc độ là một yếu tố của sản xuất, một
nguồn lực của xã hội, mục đích là gia tăng sự đóng góp có hiệu quả của nó cho quá
trình tái sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội. Còn phát triển con người được nhìn
nhận dưới góc độ con người là một chủ thể của tự nhiên và xã hội. Vì thế, phát triển
con người là trung tâm của sự phát triển, mục đích là hướng tới sự phát triển toàn diện
của con người. Đó là xác lập các quyền và tạo điều kiện thuận lợi để con người thực
hiện các quyền của mình. Có nghóa là phát triển con người không chỉ xem xét dưới góc
độ là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển xã hội, mà còn là sự thỏa mãn các nhu cầu
để con người sớm có điều kiện phát triển toàn diện. Đây chính là cơ sở giúp chúng ta lý
giải vì sao nhiều quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) tương đối cao (chẳng

thể lực, nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó. Nghóa là, yếu tố kết cấu
được tách riêng khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực.
Theo quan điểm thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trên ba mặt: trí lực,
thể lực và nhân cách, thẩm mỹ. Nghóa là, yếu tố kết cấu đã được bao hàm trong chính
nội tại ba yếu tố đó.
Chúng tôi tiếp cận theo quan điểm thứ hai khi xem xét chất lượng nguồn nhân
lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ. Vì chất lượng nguồn nhân lực được xem xét ở đây
là của một tập hợp người, bao gồm cả những người trong và trên độ tuổi lao động có
khả năng lao động, thực tế đang làm việc, chưa có việc làm, hoặc đang được đào tạo.
Nên chúng ta không thể không tính đến yếu tố phân bố những con người trong tập hợp
đó. Mặt khác, khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực, nếu tách riêng yếu tố kết cấu,
thì sẽ không thể phác họa được một bức tranh đầy đủ về chất lượng nguồn nhân lực.
Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng là sự phát
triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động.
Phát triển trí lực là phát triển năng lực trí tuệ. Đó là quá trình nâng cao trình độ
dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức sáng tạo và kỹ năng, kỹ xảo của người lao
động trong hoạt động thực tiễn. Quá trình này chòu ảnh hưởng, tác động của nhiều nhân
tố, trong đó giáo dục - đào tạo giữ vai trò quyết đònh, vì nó trước hết là sản phẩm của
giáo dục - đào tạo. Do vậy, trong thời đại ngày nay đồng thời với việc xem con người
là nguồn lực quan trọng nhất, thì giáo dục - đào tạo đều được các quốc gia đặt ở vò trí
số một trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình. Theo chúng tôi, đây cũng
là cơ sở để Nhà nước Việt Nam xác đònh: trong khi nguồn lực vật chất và tài chính còn
hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo phải trở thành quốc
sách hàng đầu.
Phát triển thể lực là gia tăng chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, sức mạnh và độ dẻo
dai của thần kinh, cơ bắp. Vấn đề này phụ thuộc vào một loạt các yếu tố: điều kiện tự
nhiên, giống nòi, thu nhập và cách thức phân bố chi tiêu, môi trường và điều kiện làm
việc, chế độ nghỉ ngơi, các dòch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng (giáo dục, y tế, văn
hóa, thể dục thể thao). Trong đó, ngoài yếu tố giống nòi, thì thu nhập và các dòch vụ
chăm sóc sức khỏe giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Theo chúng tôi, những yếu tố

chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, khả năng sáng tạo của
người lao động, trên cơ sở đó hiệu quả sẽ được nâng cao.

1.3 Sự cần thiết khách quan phải phát triển nguồn nhân lực
Con người với tư cách là chủ thể của mọi sự sáng tạo, kiến tạo nên xã hội. Vì
vậy, ở mọi thời đại, chế độ xã hội, sự phát triển nguồn lực con người đều được đặt ở vò
trí trung tâm. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nguồn nhân lực càng cần thiết hơn
bao giờ hết, vì những lý do cơ bản sau đây:
1.3.1 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có mối tương quan chặt chẽ với vốn vật
chất và vốn con người. Theo kết quả phân tích hồi quy hàm số sản xuất của các nền
kinh tế Đông Nam Á, thì 60% tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế là do đóng góp
của tích lũy vốn vật chất và vốn con người. Hơn nữa, trong 60% đó, vốn vật chất đóng
góp từ 35% - 49%, còn lại 51% - 65% là phần đóng góp của vốn con người (thông qua
chỉ số về trình độ giáo dục) [174].
Hơn nữa, khi nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa đầu tư phát triển nguồn
nhân lực và đầu tư vốn vật chất, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế đều thống nhất rằng,
chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ tăng cường khả năng sinh lợi của máy
móc thiết bò; đến lượt nó, hàm lượng vốn vật chất tăng sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư vào
giáo dục - đào tạo.
Lòch sử phát triển kinh tế thế giới cũng đã chứng minh rằng, để đạt được sự tăng
trưởng kinh tế cao và ổn đònh, nhất thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ
thuật, nghóa là phải đầu tư vào giáo dục - đào tạo; chất lượng nguồn nhân lực được
nâng cao chính là tiền đề thành công của các nước công nghiệp mới ở Châu Á. Kinh
nghiệm cho thấy, chưa có một quốc gia phát triển nào đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao
trước khi hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông. Các nước công nghiệp hóa mới (Hàn
Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông) và các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao trong những thập niên 70 - 80 đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trước khi
các nền kinh tế đó cất cánh.


thuật, lao động đã qua đào tạo thì không thể đưa khoa học - công nghệ mới vào sản
xuất, không thể nâng cao năng suất lao động xã hội; và tất nhiên, vì yêu cầu đảm bảo
an ninh lương thực, mà không rút được lực lượng lao động nông thôn ra khỏi khu vực
nông nghiệp để bổ sung cho khu vực công nghiệp và dòch vụ. Sự mất cân đối giữa cung
và cầu về chất lượng lao động ở nông thôn đang là trở ngại trực tiếp cho quá trình
chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu lao động trong khu
vực.
Chuyển dòch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH là quá trình tăng nhanh cả
về số lượng, chất lượng và tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và dòch
vụ, giảm cả về số lượng và tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, bằng
cách rút nhanh lao động thuần túy nông nghiệp chuyển sang các ngành nghề phi nông
nghiệp, lao động sản xuất nông nghiệp độc canh chuyển sang lao động nông nghiệp
sản xuất hàng hóa. Muốn vậy, cần phải tạo ra một lực lượng lao động đông đảo đã qua
đào tạo, để một mặt đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại,
nhưng mặt khác là đáp ứng được yêu cầu của sản xuất công nghiệp.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực, tức gia tăng về số lượng, đổi mới và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện, là điều kiện và tiền đề thúc đẩy
quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH.

1.3.3 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố nâng cao năng suất lao động và
tăng thu nhập cho người lao động
Theo lý thuyết vốn nhân lực của T.W. Schultz [171], thì giáo dục - đào tạo đóng
góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân thông qua nâng cao kỹ năng
và khả năng sản xuất của người lao động. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới
về mối liên hệ giữa phát triển giáo dục - đào tạo với mức tăng thu nhập bình quân đầu
người và mức tăng trưởng kinh tế ở 113 quốc gia [179] cho thấy, giáo dục phổ thông có
vai trò rất quan trọng đối với mức tăng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Thực tiễn từ
Uganda, nơi có nền giáo dục tiểu học kéo dài từ lớp 1 đến lớp 7 cũng khẳng đònh điều
đó. Nếu nông trại có một công nhân có trình độ lớp 4 thì sản lượng của nông trại sẽ
tăng 7%, một công nhân có trình độ lớp 7 thì sản lượng nông trại sẽ tăng 13% so với

nước nông nghiệp lạc hậu, dân số đông, kinh tế chậm phát triển, nên ngoài những lý do
trên, phát triển nguồn nhân lực là hết sức cần thiết vì:
Một là, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp
Việt Nam là một quốc gia có dân số đứng thứ 13 thế gới, thứ 6 châu Á và thứ 3
trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy qui mô nguồn nhân lực của Việt Nam
là rất lớn, nhưng chất lượng còn hạn chế trên tất cả các phương diện: trí lực, thể lực,
nhân cách, thẩm mỹ, cũng như sự bất hợp lý trong phân bố và kết cấu. Cụ thể, kết quả
xem xét chất lượng nguồn nhân lực trên sáu mặt (mỗi mặt cho điểm tối đa là 10, điểm
tối thiểu là 0), Việt Nam được đánh giá như sau (bảng 1.1):
Bảng 1.1 Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thông qua 6 mặt đánh giá
Mặt đánh giá Điểm của Việt Nam
1. Ấn tượng chung về chất lượng hệ thống giáo dục 3,25
2. Mức độ sẵn có về lao động có chất lượng cao 3,25
3. Mức độ sẵn có về nhân viên hành chính thạo việc 3,50
4. Mức độ sẵn có về cán bộ quản lý có chất lượng tốt 2,75
5. Kỹ thuật sử dụng tiếng Anh của người lao động 2,62
6. Kỹ năng sử dụng công nghệ cao của người lao động 2,50
Nguồn: Dự án tổng thể bậc trung học năm 2001, (2002), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, [18].

Với kết quả này, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đạt tổng điểm là
17,87/60 và xếp hạng 9/10 quốc gia được so sánh ở Châu Á.
Bảng 1.2 Điểm chất lượng nguồn nhân lực của một số quốc gia ở Châu Á
Quốc gia Điểm chất lượng nguồn nhân lực Thứ hạng
Hàn Quốc 46,50 1
Singapore 42,16 2
Nhật Bản 39,50 3
Ấn Độ 33,60 4

Dân số
(triệu người)
Singapore
Malaysia
Thailand
Philippines
Indonesia
Laos
Cambodia
Mianmar
Việt Nam
ĐBSCL
86,950
95,157
126,408
77,959
172,915
1,812
4,005
5,305
34,877
6,977
20.901,4
3.879,2
1.994,0
953,0
819,3
327,6
296,7
101,7

chỉ có thể là nguồn nhân lực. Đó là cơ cấu dân số trẻ, với hơn 40 triệu lao động, được
đánh giá là có tư chất khá thông minh, có truyền thống đoàn kết và cần cù trong lao
động, có khả năng vận dụng cái mới và thích ứng nhanh. Vấn đề này đã được Đảng
cộng sản Việt Nam xác đònh “nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết
đònh, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn
hẹp”. Vì vậy, thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện hiện nay “cùng với việc tạo ra các

Trích đoạn Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Nhóm giải pháp 1: Phát triển giáo dục đào tạo Nhóm giải pháp 3: Gia tăng tốc độ giải quyết việc làm Nhóm giải pháp 5: Phát triển, thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status