LỜI NÓI ĐẦU:
Ngành công nghiệp dệt may có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, vừa là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội, vừa có
khả năng thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động nhất trong các ngành công
nghiệp.Từ những năm qua, dệt may còn là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn
thứ hai trong cả nước, công nghiệp dệt may luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm trong chính sách phát triển chung của công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dung
Ngày nay, các sản phẩm dệt may của Việt Nam không ngừng được phát
triển cả về sản lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị kim ngạch xuất khẩu trở
thành một trong những mặt hàng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam. Những thành tựu của công nghiệp dệt may đóng góp vào sự nghiệp
kinh tế xã hội ở nước ta đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp trong sự nghiệp
đổi mới kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế hơn, các
sản phẩm dệt may còn nhiều bất cập so với nhu cầu phát triển. Chẳng hạn
như: Chất lượng vải của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu, giá cao hơn so với vải nhập khẩu, giá trị gia tăng của sản
phẩm dệt may thấp…...Hơn nữa, trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, Việt Nam
cũng đã trở thành thành viên ASEAN (5/1995), APEC (11/1998) và WTO
(2006). Như vậy, các sản phẩm dệt may của Việt Nam vừa có điều kiện để mở
rộng, xâm nhập thị trường tiêu thụ, vừa chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trong
môi trường cạnh tranh quốc tế.Sau ngày 1/1/2005, Hiệp định dệt may quốc tế
ATC hết hiệu lực hoàn toàn, do đó các nước thành viên WTO không bị ràng
buộc về hạn ngạch, điều này gây khó khăn lớn cho Việt Nam.
Vậy, làm thế nào để không bỏ lỡ cơ hội, vượt qua thử thách, làm thế nào
để khai thác lợi thế, khắc phục mặt yếu kém là nhiệm vụ đặt ra cho ngành dệt
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
1
may Việt Nam nói chung cũng như ngành dệt may của tỉnh Thái Bình nói
riêng.Chính vì thế tiến hành đầu tư và thu hút đầu tư để phát triển ngành dệt
may là giải pháp hữu hiệu để hoạt động sản xuất có hiệu quả, nâng cao khả
PHƯƠNG VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI ĐỊA
PHƯƠNG
I-Marketing địa phương đối với địa phương
1-Khái niệm, chủ thể, đặc điểm, các hoạt đông chủ yếu của Marketing
địa phương
1.1-Khái niệm về Marketing địa phương
Ngày nay thuật ngữ Marketing địa phương (hay còn gọi là marketing
lãnh thổ) không còn xa lạ với mỗi người làm nghề marketing. Marketing địa
phương đã bắt đầu đi vào và có ảnh hưởng trong các hoạt động của các địa
phương, vùng lãnh thổ, quốc gia,… Có rất nhiều cách định nghĩa về
Marketing địa phương
-Marketing địa phương có nghĩa là một thuật ngữ chỉ tập hợp các chương
trình hỗ trợ được địa phương thực hiện nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh
của địa phương và phát triển kinh tế
TS.Vũ Trí Dũng
Với Philip Kotler định nghĩa:”Marketing địa phương có nghĩa là xây
dựng địa phương nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu của địa
phương”
1.2-Chủ thể của Marketing địa phương
Chủ thể của Marketing địa phương có thể được chia thành 3 nhóm như
sau:
*Các quan chức chính quyền và các tổ chức công cộng:
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
4
Quan chức và tổ chức công cộng phải tạo cho địa phương trở thành nơi
đến hấp dẫn, an toàn, văn minh và môi trường trong sạch, hiếu khách. Qua đó
góp phần tạo nên uy tín cho sản phẩm địa phương nhằm xây dựng thương
hiệu cho sản phẩm địa phương để tạo nên bản sắc thu hút du khách. Đồng thời
cũng phải tạo ra cơ sở hạ tầng về du lịch, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí. Tất cả để
xây dựng hình ảnh thống nhất về nhận thức của khách hang về hình ảnh của
thực hiện, không trùng với giai đoạn bầu cử thậm chí ngay cả khi những
người được bầu có quyền quyết định lãnh thổ của họ.
*Marketing địa phương cũng dùng cách tiếp cận “B to B” bởi vì nó liên
quan đến một số lượng hạn chế khách hàng tiềm năng thường xuyên nhất trên
bình diện quốc tế với mối liên hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp rất chặt
chẽ.
*Marketing địa phương khác với marketing của chính quyền địa phương,
thể hiện lĩnh vực hoạt động của marketing địa phương còn rộng hơn cả hoạt
động của chính quyền địa phương vì marketing địa phương dựa trên suwjlieen
kết nhiều tác nhân, bao gồm cả những tác nhân công cộng, tác nhân tư hữu
còn marketing chính quyền địa phương chỉ quan tâm đến những vùng dân cư
cụ thể
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
6
1.4-Các hoạt động chủ yếu của marketing địa phương
*Thiết kế tập hợp những nét đặc trưng và dịch vụ của địa phương: Tạo ra
những nét đặc trưng, riêng biệt và những dịch vị mà địa phương có thể cung
cấp cho khách hàng.
*Thiết lập những sự khích lệ, hấp dẫn đối với người mua, sử dụng trong
hiện tại và tiềm năng về những hàng hóa dịch đó.
*Cung ứng những sản phẩm của địa phương một cách hiệu quả và thuận
tiện nhất
*Khuếch trương những giá trị và hình ảnh của địa phương để những
khách hàng tiềm năng có thể nhận thức một cách đầy đủ về những lợi thế đặc
biệt của địa phương. Thương hiệu địa phương (hay còn gọi là bản sắc địa
phương) là những hình ảnh địa phương trong tâm trí của người tiêu dùng.
Theo Philip Kotler:”Xây dựng thương hiệu địa phương có nghĩa là xây dựng
một sự chào mời từ những nguồn lực đã biết, một sự gợi ý những giá trị vô
hình được vật chất hóa thong qua sự chào mời”. Điều này có thể là sự phối
hợp của sản phẩm, dịc vị, thong tin, kinh nghiệm,…Xây dựng thương hiệu địa
nghiệm và mức độ hiểu biết của khách hàng về địa phương. Cường độ phụ
thuộc vào nguồn thông tin sẵn có, độ tin cậy của nguồn thông tin tìm được,
giá trị của những thông tin thu thập bổ xung, sự phức tạp của vấn đề mà họ
cần quyết định. Chính vì thế nhiệm vụ của người làm Marketing địa phương
là: Tìm cách đưa tên địa phương vào danh sách lực chọn của khách hàng
thông qua việc tìm hiểu và nắm bắt thông tin mà khách hàng có về địa
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
8
phương là gi?Những nguồn cung cấp thông tin nào ảnh hưởng tới họ, mức độ
ảnh hưởng của các nguồn thông tin khác nhau như thế nào?
*Đánh giá các phương án: Người mua xem xét các địa phương như một
tập hợp thuộc tính, một số thuộc tính khách hàng thường sử dụng để đánh giá
là: Lựa chọn nơi nghỉ ngơi (khí hậu, nơi giải trí, sự hấp dẫn của địa phương,
chi phí,…). Lựa chọn nơi ở (cơ hội việc làm, hệ thống giáo dục, vấn đề giao
thông, chi phí cho cuộc sống, chất lượng cuộc sống,…).Lựa chọn nơi đặt nhà
máy (chi phí đất đai, kỹ năng của nguồn lao động, chi phí về năng lượng để
phục vụ cho hoạt dộng, thuế,…). Theo đánh giá của khách hàng, trong các
thuộc tính của địa phương người mua sẽ xem xét thuộc tính nào đáng chú ý,
thuộc tính nào quan trọng nhất và gắn trọng số cho thuộc tính liên quan.
Người mua có xu hướng gắn niềm tin của họ vào thuộc tính của địa phương.
Niềm tin của người mua với một địa phương cụ thể chính là hình ảnh của địa
phương. Người mua có xu hướng gắn cho mỗi thuộc tính của địa phương một
chức năng hữu dụng. Người mua sẽ đạt được sự đánh giá về phương án thay
thế của địa phương thông qua một số thủ tục đánh giá. Họ có thể dùng nhiêu
thủ tục đánh giá khác nhau để lựa chọn phương án họ cho là tối ưu nhất. Từ
đây có thể thấy nhiệm vụ của người làm marketing địa phương là: Hiểu khách
hàng đánh giá như thế nào về các thuộc tính của địa phương, trong số của
từng thuộc tính đó trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp marketing phù hợp.
*Quyết định mua: Các yếu tố kìm hãm việc ra quyết định mua thường là:
Ngươi gây ảnh hưởng, các yếu tố ngoại lai,…
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
10
3.3-Quy mô thị trường của địa phương
Được phản ánh thông qua cầu nội địa. Các đặc điểm của cầu nội địa tạo
nên lợi thế cạnh tranh của địa phương: Cơ cấu cầu, quy mô và mô hình phát
triển của cầu, khả năng kết hợp của cầu nội địa với thị trường bên ngoài.
3.4-Khả năng bổ sung của địa phương
Khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa phương
và những doanh nghiệp có thể hoạt động tại địa phương tạo cho địa phương
một lợi thế cạnh tranh vì nó tạo ra sự hấp đẫn đối với nhà đầu tư trong việc
xem xét và lựa chọn địa phương để đặt cơ sỏ kinh doanh.
3.5-Khả năng hợp tác của địa phương
Cạnh tranh giữa các địa phương thúc đẩy tính năng động của các doanh
nghiệp trong địa phương, tạo ra áp lực trong việc đổi mới. Cạnh tranh thúc
đẩy hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trên địa bàn. Mặt khác, sự
hợp tác giữa các doanh nghiệp thúc đẩy việc thu hút các tài năng, áp dụng tiến
bộ kĩ thuật, nâng cao uy tín và hình ảnh của các doanh nghiệp và địa phương.
Hệ quả của sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trên địa bàn
góp phần tăng khả năng bảo vệ và chống lại đối thủ cạnh tranh ở các địa
phương khác
4-Chiến lược thu hút khách hàng của Marketing địa phương
4.1-Marketing hình tượng
Mục tiêu là phát triển một khẩu hiệu thông tin đáng tin cậy và có thể
chứng minh được. Có 5 dạng hình tượng đối với 1 địa phương:
-Hình tượng quá hấp dẫn.
-Hình tượng tích cực.
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
11
-Hình tượng mờ nhạt.
-Hình tượng trái ngược.
-Marketing những nhân tài
-Marketing những người có truyền thống về tinh thần khởi nghiệp
-Marketing nhũng người đã chuyển đến địa phương
5-Kế hoạch hóa và chiến lược Marketing địa phương
5.1-Kế hoạch hóa chiến lược phát triển địa phương
Kế hoạch hóa chiến lược là một quá trình cho phép địa phương xác lập
và duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa nguồn lực và các mục tiêu phát triển với
các cơ hội thị trường. Kế hoạch hóa chiến lược lien quan đến việc xác định và
quản lý các hoạt động mà địa phương đã lựa chọn để thu hút khách hàng và
phát triển địa phương.
5.2-Quy trình Marketing địa phương
Những nguyên tắc cơ bản của tiếp thị thương hiệu địa phương không
khác biệt gì nhiều so với tiếp thị thương hiệu của doanh nghiệp. Quy trình tiếp
thị thương hiệu của địa phương bắt đầu bằng việc đánh giá hiện trạng của địa
phương. Trên cơ sở đó, nhà tiếp thị địa phương xây dựng tầm nhìn và mục
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
13
tiêu cho địa phương. Tiếp theo, nhà tiếp thị địa phương thiết kế các chiến lược
tiếp thị cho địa phương mình. Công việc bao gồm xác định thị trường mục
tiêu, xây dựng và định vị hình tượng cho thương hiệu địa phương mình và các
chiến lược quảng bá cho địa phương. Sau đó, nhà tiếp thị phải hoạch định
chương trình tiếp thị và cuối cùng là quản lý việc thực hiện và kiểm soát.
5.3-Định vị địa phương-Hình ảnh địa phương
Định vị địa phương dựa trên một số hình ảnh. Hình ảnh là tập hợp các
đặc tính nổi bật mà nhờ đó khách hàng có thể xác định sản phẩm của địa
phương trong toàn bộ các địa phương tương đương và phân biệt sản phẩm đó
với sản phẩm của các địa phương cạnh tranh. Định vị địa phương phải làm nổi
bật các yếu tố kết hợp với nhau tạo nên sự nhất quán và khác biệt của địa
phương so với địa phương khác. Định vị sẽ hình thành nên một số biến số ổn
định và bền vững của một địa phương.
Được định nghĩa như là tập hợp các hoạt động dịch vụ được cung cấp ở
một địa phương xác định. Dưới góc độ của người làm marketing địa phương
thì cung địa phương có thể được coi là một tập hợp các hoạt động cung ứng
cho khách hàng, mỗi hoạt động có chu ký sống riêng. Các yếu tố cấu thành
những sản phẩm địa phương có thể chia làm 4 nhóm:
-Các biến số không đổi: Khí hậu, địa hình, vị trí địa lý,…Khả năng can
thiệp của marketing vào biến số này là thấp
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
15
-Các biến số thay đổi trong dài hạn: Văn hóa, các yếu tố chính sách kinh
tế dài hạn,…Khả năng can thiệp của marketing vào biến số này cũng thấp
-Các biến số thay đổi trong thời gian ngắn hạn: Chính sách kinh tế ngắn
hạn, biện pháp thay đổi đầu tư, thủ tục xuất nhập cảnh đối với du khách,…
Khả năng can thiệp của marketing vào biến số này ở mức trung bình
-Các biến số thay đổi tùy theo nhu cầu: Các dịch vụ cụ thể địa phương
cung cấp cho doanh nghiệp, cá nhân (khảo sát thực địa, tư vấn, tài chính, cung
cấp thông tin,…). Khả năng can thiệp của marketing vào biến số này là rất
cao.
Đặc điểm khác biệt của sản phẩm địa phương so với hàng hóa thông
thường:
-Việc cung cấp sản phẩm địa phương rất phức tạp do có nhiều biến số
khác nhau bên cạnh đó còn có các dịch vụ đi kèm. Vì thế cần thực hiện hoạt
động truyền thông về cung để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá khách
hàng và nhấn mạnh kinh nghiệm của các khách hàng trước đó.
-Việc cung cấp sản phẩm địa phương phụ thuộc vào nhiều nhà cung cấp
hoặc các tổ chức đơn vị khác nhau, vì vậy chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất
nhiều vào sự hợp tác giữa các tổ chức và cá nhân đó. Vì thế nên để tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà cung ứng hợp tác với nhau và tối ưu hóa sự hợp tác
đó
-Việc tạo ra sản phẩm địa phương kéo theo những hệ lụy rất lớn đối với
giá sinh hoạt, giá bất động sản, giá dịch vụ giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe,
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
17
giải trí,…Đối với thị trường xuất khẩu giá cả chính là giá hàng hóa được sản
xuất, lắp ráp tại địa phương và chi phí nhập hàng.
Từ đó có thể thấy đối với khách hàng việc xác định giá cả của địa
phương được thực hiện một cách gián tiếp thông qua các yếu tố chi phí trong
việc vận hành, sử dụng một hoạt động hoặc tập hợp các yếu tố hoạt động của
địa phương. Chính sách giá của địa phương phải hướng đến việc tối ưu hóa về
mặt kinh tế, gắn với việc hướng tới nguồn lực địa phương, hướng tới chi phí
vận chuyển và hướng tới thị trường tiêu thụ.
5.4.5-Khuếch trương địa phương ( Promotion )
Bao gồm những hoạt động nhằm thể hiện những vị trí, chiến lược của địa
phương đối với khách hàng mục tiêu.
5.4.6-Công chúng ( Public )
Hoạt động, hành vi của những người lãnh đạo địa phương, các nhóm
công chúng được xem như là một công cụ marketing có ảnh hưởng đến khả
năng thu hút khách hàng của địa phương.
II-Khái quát về đầu tư-vai trò và đặc điểm
1-Khái niệm đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết
quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…)và nguồn nhân
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
18
lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã
Hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư mang những đặc điểm giống đặc
điểm của đầu tư nói chung và có những đặc điểm khác biệt với loại hình đầu
tư khác, đó là:
* Hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm
khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn
của đầu tư và thu hút đầu tư.
* Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động
xảy ra.
* Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm
tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của
các yếu tố không ổn định về tư nhiên, chính trị , kinh tế…
* Các thành quả của hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư có giá trị sử dụng
lâu dài nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh
viễn như các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới. Điều này nói lên giá trị
lớn của các thành quả đầu tư và thu hút đầu tư.
*Các thành quả của hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư là các công trình
xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Dó đó, các điều
kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
20
và thu hút đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết qua đầu tư. Chính vì
vậy nên trong quá trình nghiên cứu tiền khả thi và khả thi cần phải tiến hành
khảo sát, nghiên cứu một cách cụ thể, tỉ mỉ địa hình, địa chất, điều kiện tư
nhiên của nơi tiến hành đầu tư. Đó là điều kiện quan trọng để các thành quả
của hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư phát huy tác dụng .
* Hoạt động đầu tư thu hút đầu tư có tính rủi ro, đầu tư càng lớn thì tính
rủi ro càng cao nhưng lợi nhuận đem lại cũng lớn. Điều đó đòi hỏi chủ đầu tư
cần có những biện pháp để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư để đem lại
- Ngày 28/12/1995 Uỷ ban kế hoạch Nhà nước được đổi thành Bộ Kế
hoạch và đầu tư.
Đối với sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
22
- Năm 1955 bộ phận công tác kế hoạch được hình thành ở văn phòng Uỷ
ban hành chính tỉnh, tham mưu cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính xây dựng các
kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh 1955-1957 và kế hoạch cải tạo
phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1958-1960.
- Từ tháng 6/1961 trên cơ sở bộ phận công tác kế hoạch tại văn phòng
Uỷ ban Hành chính tỉnh thành lập Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, ở các huyện, thị
hình thành Phòng kế hoạch.
- Ngày 10/9/1996, Uỷ ban Nhân dân tỉnh cũng ra Quyết định số 88/QĐ-
UB thành lập Sở Kế hoạch và đầu tư trên cơ sở tổ chức lại Uỷ ban Kế hoạch
tỉnh.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Kế hoạch và Đầu tư ngày càng
được mở rộng hơn về phạm vi và cũng được đổi mới về nội dung và phương
pháp công tác, phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới.
2-Mô hình tổ chức của Sở kế hoạch đầu tư
*Sơ đồ mô hình tổ chức: Cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Sở Kế
hoạch và Đầu tư hiện nay:
- Lãnh đạo Sở có Giám đốc và các phó Giám đốc
- Các phòng chuyên môn và nghiệp vụ của Sở gồm 8 phòng :
+ Phòng Tổng hợp quy hoạch
+ Phòng Nông nghiệp
+ Phòng Công nghiệp và giao thông
+ Phòng văn hoá xã hội
+ Phòng Thẩm định và XDCB
+ Phòng Đăng ký kinh doanh
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
chương trình quốc gia, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiên
của tỉnh.
3.Hướng dẫn cơ quan các tấp trong tỉnh xây dựng quy hoạch, kế hoạch
các chương trình dự án có liên quan đến phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.Phổ biến hướng dẫn thực hiện pháp luật của nhà nước về hoạt động
đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên địa bàn tỉnh; làm đầu mối trực tiếp nhận
hồ sơ dự án của chủ đầu tư trong và ngoài nước muốn đầu tư trên địa bàn tỉnh,
những kiến nghị - khiếu nại của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài .
4 Theo dõi ,kiểm tra các cơ quan, đơn vị của tỉnh trong việc thực hiệnquy
hoạch, kế hoạch, các chương trình mục tiêu quốc gia ,chương trình mục tiêu
trình Uỷ ban nhân dân tỉnh các chủ trương biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện
các mức kế hoạch của địa phương. Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh điều hành thực
hiện kế hoạch đối với 1 số lĩnh vực theo phân công của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
5. Thẩm định các dự án đầu tư trong và ngoài nước : Làm đầu mối phối
hợp với Sở Tài chính vật giá và các ngành liên quan giúp Uỷ ban nhân dân
tỉnh quản lý nhà nước việc sử dụng các nguồn vốn ODA và các nguồn viện
trợ khác. Thực hiện các nhiệm vụ của công tác đấu thầu theo chức năng
nhiệm vụ được giao .
6. Quản lý và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và các doanh
nghiệp trên địa bàn tính theo quy định của Luật doanh nghiệp, thẩm định trình
Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp,
phối hợp với các sở, các ngành liên quan tham mưu giúp cho Uỷ ban Nhân
dân tỉnh về việc thành lập, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước.
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46b
25