QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH ĐỒNG NAI (1986 – 2005) - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

-------------------------------

Nguyễn Thị Thu Hằng
QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH ĐỒNG NAI (1986 – 2005)

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


đã giúp tôi tiếp cận nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.

T
ác giả Nguyễn Thị Thu Hằng LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận
văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
Tại các nước đang phát triển, vốn đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Vốn đầu tư được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn nước ngoài.
Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế.
Đầu tư t
rực tiếp nước ngoài là một loại hình hoạt động kinh tế quốc tế, ra đời và phát triển có tính
tất yếu, lâu dài cùng với xu thế toàn cầu hóa về kinh tế. FDI là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển, cho việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước góp phần giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động; đồng thời tạo nguồn t
hu cho ngân sách, góp phần cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế. Bên cạnh đó,
FDI
còn có vai trò trong chuyển giao công nghệ. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản
xuất. Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao
động. FDI đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển trên thế
giới.
Nhận thức rõ vai trò của F
DI, cho nên trong quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, chính sách
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta. Ở Việt Nam, trong gần hai thập kỷ qua, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần
quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao của đất nước.
Là một đỉnh của tứ giác kinh tế động lực trong vùng phá
t triển kinh tế trọng điểm phía Nam (Thành
phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu), tỉnh Đồng Nai có nhiều tiềm năng, thế
mạnh để phát triển một nền công nghiệp theo hướng hiện đại. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên là một lợi
thế lớn của tỉnh Đồng Nai trong xây dựng, phát triển khu công nghiệp và
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước; lại sớm đánh giá đúng
và phát huy thế mạnh của địa phương, Đồng Nai đã đạt được những thành tựu nổi bật về thu hút vốn đầu

thế giới ấn hành năm 2001. Các tác giả đã khái quát những tiềm năng phát triển công nghiệp, khu công nghiệp
của các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Trên cơ sở đó, định hướng ưu ti
ên thu hút đầu
tư của mỗi vùng.
* Cuốn Tổng kết quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai (1991 – 2004) của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng
Nai ấn hành năm 2005. Cuốn sách bao gồm
báo cáo tổng kết quá trình xây dựng các khu công nghiệp, thu
hút đầu tư trên địa bàn tỉnh và báo cáo chuyên đề của các Sở, Ban, Ngành, Ủy ban Nhân dân các địa
phương trong tỉnh. Cuốn sách phác họa bức tranh tổng quát về các khu công nghiệp trong vùng phát triển
kinh tế trọng điểm phía Nam, khẳng định những kết quả đạt được, chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong
quá trình phát triển khu công nghiệp, đề xuất một số giải pháp nâng ca
o hiệu quả thu hút đầu tư nước
ngoài, xây dựng khu công nghiệp.
* Cuốn 10 năm hình thành và phát triển của Ban quản lý khu công nghiệp Đồng Nai (1995 –
2005). Tác phẩm khái quát những thành tựu nổi bật của Ban quản lý trong 10 năm xây dựng và phát triển;
đánh giá thành công của Ban quản lý trong thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các khu công
nghiệp ở địa phương; chỉ rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng ban quản lý vững mạnh, có khả năng quản
lý tốt nhất các khu công nghiệp trong tình hình mới.
* Cuốn Đồng Nai – 30 năm xây dựng và phát triển của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Nhà
xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2005. Tác phẩm đã thống kê, tổng hợp một cách khái quát chặng đường xây
dựng và phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống như: kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, giáo dục,
y tế… mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tiến hành trong 30 năm từ năm 1975 đến năm 2005.
* C
uốn Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam của Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Nhà xuất bản
Giáo dục ấn hành năm 2001. Cuốn sách đã trình bày tổng quan về đặc điểm tổ chức lãnh thổ công nghiệp
của Việt Nam, các hình thức tổ chức ki
nh tế lãnh thổ của Việt Nam, khẳng định khu công nghiệp là hình
thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp đặc biệt cần được xây dựng, chỉ ra cơ sở khoa học của đổi mới tư duy
về cơ cấu kinh tế vùng miền của Đảng ta.

mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đề xuất những giải pháp tăng cường thu hút đầu tư, nâng ca
o hiệu
quả xây dựng, phát triển khu công nghiệp trong thời gian tới. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở
tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1986 – 2005).
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian, đề tài nghiên cứu quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai tron
g
khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2005. Luận văn lấy mốc thời gian năm 1986 vì đây là năm diễn ra
Đại hội Đảng lần thứ VI (12 – 1986) – Đại hội của đổi mới - sự kiện đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Và năm 2005 là năm tổng kết những t
hành tựu, hạn
chế đã đạt được qua 20 năm tiến hành đổi mới ở địa phương.
Về nội dung, mặc dù hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai được tiến hành trên các
lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…nhưng luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực
công nghiệp – lĩnh vực đầu tư quan trọng nhất - cụ thể là ở các khu công nghiệp trong toà
n tỉnh.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của đề tài
* Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng về xây dựng, phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và kết hợp giữa phương pháp lôgíc với

địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn từ 1986 đến 2005.

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu cũng như những mặt hạn chế của hoạt động thu hút vốn đầu
tư nước ngoài ở Đồng Nai, luận văn đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thu hút vốn
đầu tư trong thời gian tới ở địa phương.
Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn nà
y gắn liền với quá trình xây dựng, quy
hoạch và phát triển các khu công nghiệp ở Đồng Nai. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho
việc nghiên cứu về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Nai trong thời kỳ đổi mới. 7. Cấu trúc của đề tài

Luận văn gồm phần Mở đầu, phần Nội dung gồm 3 chương và phần Kết luận. Trong đó, phần Nội
dung được cấu trúc như sau:

Chương 1 – Những tiềm năng của tỉnh Đồng Nai trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Chương 2 – Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong 10
năm đầu đổi mới (1986 – 1995)
Chương 3 – Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 – 2005)

1.1.
1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Luật đầu tư nước ngoà
i tại Việt Nam ra đời tháng 12 – 1987, kể từ đó đến năm 2005 đã trải qua 5
lần sửa đổi và luật thừa nhận có 4 hình thức FDI cơ bản:
a. Hợp đồng hợp t
ác kinh doanh (A business cooperation contract)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai bên hoặc nhiều bên quy định trách nhiệm
và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành
lập pháp nhân.[40, tr. 470]
b. Doanh nghiệp liên doanh (A Joint Venture enterprise
)
Là doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước
ngoài. Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, mang tư cách pháp nhân
Việt Nam. [40, tr.470]
c. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred percent Foreign owned
capital)
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lập tại Việt Nam, tự tổ chức
quản lí và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của m
ình.[40, tr.470]
d. Hình thức doanh nghiệp cổ phần
Doanh nghiệp cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức hoạt
động theo hình thức công ty cổ phần…được hưởng các đảm bảo của nhà nước Việt Nam và ưu đãi theo
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
.[40, tr. 472]
1.1.1.3 Vai trò của đầu tư nước ngoài
Trước hết, đầu tư nước ngoài là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế.
Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam. Các dự án đầu tư nước ngoài cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt

1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của khu công nghiệp
* Đặc điểm cơ bản của khu công nghiệp
Thứ nhất, khu công nghiệp có môi trường đầu tư thông thoáng hơn các vùng khác. Khu công
nghiệp được nhà nước dành cho những ưu đãi trong chính sách thuế, tài chính, thủ tục hải quan, hành
chính, giá thuê đất…Thông qua những ưu đãi đó nhằm thu hút càng nhiều càng tốt các nhà đầu tư nước
ngoài vào làm ăn.
Thứ hai, trong các khu công nghiệp chủ yếu là hoạt động kinh tế hướng ngoại, bao gồm sản xuất
công nghiệp, chế biến phục vụ xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu và ki
nh doanh các dịch vụ.
Thứ ba, các khu công nghiệp thường nằm ở các vị trí thuận lợi về giao thông, có điều kiện phát
triển sản xuất – thương mại, được ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thứ tư, khu công nghiệp là khu vực tập trung tương đối nhiều xí nghiệp trong một khu vực có ranh
giới rõ ràng, có hàng rào ngăn cách với xung quanh. Các xí nghiệp trong khu công nghiệp c
ó điều kiện
thuận lợi để tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
Thứ năm, khu công nghiệp được nhà nước cho phép thành lập, nhằm đạt những mục tiêu nhất định.
Thứ sáu, khu công nghiệp có ban quản lí chung, thống nhất, thực hiện chức năng quản lí nhà nước,
tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp công nghiệp hoạt động đạt hiệu xuất tối đa.
Thứ bảy, khu công nghiệp thường có giới hạn địa lí hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm hecta, hoạt
động chí
nh trong khu công nghiệp là sản xuất công nghiệp.
Đến hết năm 2005, tỉnh Đồng Nai mới xây dựng loại hình của khu công nghiệp là khu công nghiệp
thông thường. Bởi vậy, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp ở Đồng Nai
trong những năm 1986 – 2005 là tìm hiểu loại hình khu công nghiệp nà
y.
* Vai trò của khu công nghiệp
Khu công nghiệp có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển.
Đối với các nước đang phát triển, sự gia tăng số lượng vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là vấn đề có ý
nghĩa quyết định đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Các khu công nghiệp ra đời góp phần qua
n

dẫn của các khu công nghiệp, khu chế xuất mà còn tạo nên sức lan tỏa, tác động làm thay đổi cơ chế quản
lý của toàn bộ nền kinh tế.
Khu
công nghiệp đóng vai trò như là “mũi đột phá” là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Mô hình khu công nghiệp ra đời đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế tăng tỷ trọng công nghiệp phục vụ xuất khẩu, góp phần điều chỉnh, sắp xếp lại sản xuất công nghiệp,
bảo vệ môi trường sinh thái. Khu công nghiệp là nơi tốt nhất để tiếp thu, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ
hiện đại, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất. Các khu công nghiệp thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, phát triển kinh tế nông t
hôn, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng. Với tư cách là hạt
nhân hình thành những đô thị mới, khu công nghiệp góp phần to lớn cải tạo, xây dựng mới các đô thị, phát
triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mở rộng hệ thống dịch vụ công cộng.

1.2 Những tiềm năng và lợi thế của tỉnh Đồng Nai trong phát triển khu công nghiệp, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam – trọng điểm đầu tư của
Chính phủ (gồm thành phố Hồ C
hí Minh và các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Tây
Ninh, Bình Phước, Long An). Tỉnh Đồng Nai là một trong bốn tỉnh thuộc tứ giác kinh tế động lực (thành
phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu). Tỉnh Đồng Nai giáp các tỉnh: Lâm Đồng,
Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống giao
thông đường bộ, đường thủy và đường sắt của tỉnh Đồng Nai rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế.
Tỉnh Đồng Nai có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gắn kết vùng Đông Nam Bộ
với Tây Nguyên và miền Trung.
Tỉnh Đồng Nai bao gồm 11 đơn vị hành chính: thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9
huyện: Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán,
Tân Phú.
Tỉnh Đồng Nai là vùng tiếp c
huyển đồng bằng sông Cửu Long và cao nguyên Bảo Lộc (Lâm

/s,
lưu lượng cao nhất mùa mưa lên đến 10.000 m
3
/s.[62]
Nguồn nước ngầm của tỉnh Đồng Nai có lưu lượng lớn, phân bố trên 3 vùng: vùng phía Bắc tỉnh,
nước ngầm ở độ sâu 5 - 20 m với lưu lượng 40 - 50 m
3
/h; vùng phía Tây tỉnh và dọc theo sông Đồng Nai
ở độ sâu 20 m với lưu lượng 30 - 40 m
3
/h; vùng phía Đông – Đông Nam
ở độ sâu 20 - 40 m với lưu lượng
3 - 6 m
3
/h. Chất lượng nước, phần lớn thuộc loại sạch, nhạt độ PH từ 4,5 đến 8,5. Nguồn nước ngầm có
thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô, mỗi ngày có thể khai thác trên 20.000m
3
. Tổng
trữ lượng tiềm năng hơn 3 triệu m
3
/ngày. Hiện nay, tại các đô thị và khu công nghiệp đang sử dụng trên
70.
000 m
3
/ngày đêm từ các nhà máy khai thác nước mặt và nước ngầm của tỉnh.[62]
Đồng Nai có quỹ đất rộng 5.866,4 km
2
bao gồm 10 nhóm đất chính. Trong đó loại đất xám chiếm
40,05% diện tích tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp và xây dựng. Đất đỏ chiếm 19,27%
diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.

3
và hà
ng năm được bổ sung từ thượng nguồn trên 300.000 m
3
.[68]
1.2.2 Về lịch sử, văn hóa – du lịch
Đồng Nai với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển là một vùng đất mở. Nơi đây đã chứng
kiến sự hội tụ của nhiều bộ phận cư dân. Vào cuối thế kỉ XVI, Đồng Nai lúc bấy giờ về cơ bản vẫn là
vùng đất hoang dã, chưa được khai phá; chỉ có một số ít cư dân bản xứ gồm
các dân tộc ít người như:
S’tiêng, Châu Ro, Mạ, K’ho, M’nông và một vài buôn sóc của người Khơme sinh sống. Cuộc chiến tranh
khốc liệt và dai dẳng giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam
làm cho dân chúng lầm than, điêu đứng, tạo nên một làn sóng di cư vào Đồng Nai tìm đất sinh sống. Với
phương tiện di chuyển chủ yếu l
à thuyền, ghe, xuồng, những di dân đã theo thủy triều ngược dòng Đồng
Nai hoặc đi dọc theo bờ sông tiến dần vào Đồng Nai. Theo chân những lưu dân người Việt, sự có mặt của
người Hoa tại khu vực này làm phong phú thêm đời sống xã hội và thay đổi cuộc sống nơi đây. Với bảy
bang Hoa kiều, tập quán sinh hoạt, những ngành nghề thủ công và tín ngưỡng của người Hoa được dung
nạp một cách tự nhiên và dung hòa nha
nh chóng như chính sự có mặt của họ ở vùng đất này.
Từ thế kỉ XVII, vùng đất này đã thực sự gắn bó và trải qua những bước thăng trầm cùng lịch sử dân
tộc. Lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm đã để lại trên vùng đất này dấu ấn về nhiều mặt kinh tế
- văn hóa – xã hội rất có giá trị. Là địa bàn tụ cư của nhiều thành phần tộc người nên Đồng Nai có truyền
thống văn hóa dân gian khá phong phú, đặc biệt là văn hóa của đồng bào dân tộc ít người. Đây còn là quê
hương của một số loại nhạc cụ dân gian độc đáo như: đàn đá Bình Đa, sáo trúc, chiêng đồng, thanh la...
Lối hát Tam Pót của dân tộc Mạ, một loại hình hát kể có vần điệu được lưu tr
uyền trong cộng đồng người
Mạ ở huyện Định Quán. Đồng Nai còn nổi tiếng với nghề thủ công truyền thống như làng gốm Tân Vạn
ven sông Đồng Nai của người Việt, nghề đục đá truyền thống tinh xảo của người Hoa sống gần hồ Long
Ẩn…

.
Trong đó, du lịch sinh thái của Đồng Nai có
thế mạnh riêng, vừa có nét giống với vùng sông nước miền Tây lại vừa có nét đặc trưng riêng của miền
Đông Nam bộ. Toàn tỉnh có trên 60 điểm du lịch thì các điểm du lịch sinh thái chiếm hơn nửa. Không chỉ
chiếm ưu thế về mặt số lượng, các điểm du lịch sinh thái của Đồng Nai cũng đa dạng, phong phú về mặt
tự nhiên và sinh học. Du khách có thể thưởng thức vị ngọt đặc biệt của trái cây, câu cá, du thuyền ở các
khu du lịch sinh thái vườn: cù lao Ba Xê, khu du lịch Vườn X
oài, Bò Cạp Vàng, làng bưởi Tân Triều, khu
du lịch Suối Tre, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch Bò Sữa Long Thành… hay du lịch mạo hiểm, khám
phá thiên nhiên, vui chơi giải trí ở các điểm du lịch như: khu du lịch ven sông Đồng Nai, thác Giang Điền,
Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên, rừng Mã Đà, hồ Trị An, núi Chứa Chan, hồ Núi Le, thác Mai- hồ nước
nóng Suối Mơ, đảo Ó… Bên cạnh thế mạnh du lịch sinh thái, Đồng Nai cũng có thế mạnh về du lịch văn
hóa - lịch sử. Du khách có thể tham quan những ngôi đình, chùa cổ có lối kiến trúc nghệ thuật truyền
thống đặc trưng của vùng; tham
quan các di tích chiến tranh, di chỉ khảo cổ, tìm hiểu về những nét văn
hóa độc đáo và lịch sử đấu tranh cách mạng của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai…qua các điểm du lịch
như: chùa Đại Giác, chùa Ông, đình An Hòa, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Tổ sư, Văn Miếu Trấn
Biên, chiến khu Đ, địa đạo Nhơn Trạch, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, Bảo tàng Đồng Nai; tham
quan các làng nghề thủ công truyền thống đá Bửu Long, gốm Biên
Hòa, thêu – đan – dệt của đồng bào các
dân tộc Chơ Ro, Mạ, S’tiêng, Chăm…
Với những lợi thế sẵn có, du lịch Đồng Nai chủ yếu hướng về tiềm năng văn hoá, lịch sử, sinh thái,
dã ngoại. Nếu kết hợp được giữa truyền thống và hiện đại, thiên nhiên và văn hóa, quản lý và khai thác
theo đúng quy luật phát triển của xã hội thì ngành công nghiệp không khói
ở Đồng Nai sẽ phát triển mạnh
trong tương lai, không chỉ trong phạm vi du lịch nội địa mà cả quốc tế.
1.2.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Tỉnh Đồng Nai có hệ thống đường giao thông tương đối phát triển. Hệ thống quốc lộ với tổng chiều
dài 244,5 km đã được nâng cấp và mở rộng thành tiêu chuẩn cấp I, II đồng bằng (quốc lộ 51, quốc lộ 1A),
cấp III đồng bằng (

/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch 200.000 m
3
/ngày, nhà máy nước Gia Ray 2.400 m
3
/ngày,
trạm bơm Hóa An 6.000 m
3
/ngày, nhà máy nước Long Khánh 5.000 m
3
/ngày. Nước máy khai thác đã
tăng từ 12,
7 triệu m
3
(1996) lên 19,1 triệu m
3
(2000) và 41,5 triệu m
3
(2003). [68]
Ngành bưu chính viễn thông của tỉnh phát triển nhanh và đang được hiện đại hóa ngang trình độ
các nước trong khu vực, đáp ứng tốt nhu cầu chất lượng cao. Toàn tỉnh có 79 bưu cục, 47 tổng đài điện tử,
tập trung ở các trung tâm công nghiệp. Dịch vụ thông tin di động đã có: Thông tin di động hệ GSM với 17
trạm phủ sóng tại thành phố Biên Hòa, khu công nghiệp Amata, Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Hố Nai, Loteco,
Sông Mây, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạc
h 2, Gò Dầu và tại trung tâm các huyện: Long Thành, Nhơn Trạch,
Thống Nhất, thị xã Long Khánh, Định Quán, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Cẩm Mỹ. Dịch vụ tin
nhắn đã có: Nhắn tin Việt Nam (107, MCC, Phonelink, ABC, EPRO), Internet, VN.Mail, VNN, truyền dữ
liệu tốc độ cao ISDN… với hệ thống truyền dẫn cáp sợi quang đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, chính
xác. Dịch vụ bưu chính đã có chuyển phát nhanh EMS, chuyển phát nha
nh tận nơi: DHL Fedex, Airborne,
PCN, UPS, Vinacrgo… Mật độ điện thoại tăng từ mức 1 máy/100 dân năm 1995 lên mức 5 máy/100 dân

Định, Hải Dương, Hưng Yê
n, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, tập
trung chủ yếu ở các vùng nông thôn, nghề nghiệp chính là sản xuất nông – lâm nghiệp. Từ năm 1991 đến
2005, tình hình di dân có một số đặc điểm khác biệt so với các giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, nền
kinh tế thị trường đã hình thành và phát triển, cùng với sự phát triển ấy là thành phần kinh tế tư nhân trên
đà hội nhập, thuận lợi
cho lao động tìm kiếm ngành nghề thích hợp. Mặt khác, luật Đầu tư nước ngoài đã
bắt đầu phát huy hiệu quả, các dự án đầu tư nước ngoài vào Đồng Nai, đặc biệt là ở các khu công nghiệp
ngày càng nhiều, thu hút lao động đông đảo khắp mọi miền đất nước về đây tìm kiếm việc làm. Dân nhập
cư tập trung chủ yếu ở các khu vực đô thị, thị trấn (thành phố Biên Hòa, Long Khánh , Long Thành, Trảng
Bom, Nhơn Trạch) và những vùng ven các khu công nghiệp, đa số đều là lao động trẻ. C
hính bộ phận lao
động nhập cư này đã góp phần làm cho nguồn lao động ở Đồng Nai thêm dồi dào.
Đặc điểm của nguồn nhân lực ở Đồng Nai là đội ngũ lao động trẻ chiếm tỉ lệ cao và trình độ ngày
càng được cải thiện. Trình độ học vấn của dân số từ 15 tuổi trở lên tăng khá nhanh. Nếu tỷ lệ biết đọc, biết
viết của độ tuổi này năm
1990 là 91,01% thì đến năm 2005 là 99%. [49, tr.91] Song hành với trình độ biết
chữ khá cao thì trình độ học vấn đạt được ở bậc trung học phổ thông của những người từ 17 tuổi trở lên
cũng cao dần. Đồng Nai đã thực hiện xong công tác xóa mù theo chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục đúng
độ tuổi đạt cao, phổ cập trung học cơ sở đạt chuẩn 100%
xã/ phường, số sinh viên cao đẳng, đại học tăng
nhanh. Mỗi năm tỉnh Đồng Nai có khoảng 20.000 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông hệ chính quy
và bổ túc. Đây là nguồn cơ bản để đào tạo nhân lực kỹ thuật hàng năm của tỉnh. Bên cạnh đó, từ năm 1999
trở lại đây, lao động nhập cư có trình độ từ cao
đẳng trở lên tập trung về Đồng Nai mỗi năm mỗi đông, đã
liên tục bổ sung làm cho nguồn nhân lực thêm dồi dào. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 1 trường đại học dân
lập đào tạo cử nhân và kỹ sư các ngành quản trị doanh nghiệp, kinh tế, xây dựng, điện tử, Đông phương
học, tin học, ngoại ngữ…(trường Đại học Lạc Hồng); 3 trường cao đẳng; 8 trường trung học chuyên
nghiệp đào tạo cá
n bộ kỹ thuật các ngành: kỹ thuật công nghiệp, bưu chính viễn thông., kinh tế, y tế, địa

iên Hòa đi Bà Rịa
– Vũng Tàu), sân bay quốc tế Long Thành, cầu Thủ Thiêm đi qua Long Thành, hệ thống cảng Thị Vải, Bến
Đình Sao Mai… lần lượt được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động. Hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn thiện sẽ
giúp Đồng Nai gắn kết với bên ngoài hơn.
Đồng Nai có tiềm năng khá lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái với nhiều cảnh
qua
n thiên nhiên, môi trường hấp dẫn như: du lịch miệt vườn, du lịch trên sông, du lịch leo núi…Đồng
Nai là vùng đất có nền văn minh cổ xưa với nhiều di tí
ch, văn hóa, lịch sử có giá trị đã góp phần làm cho
hoạt động du lịch ở Đồng Nai càng thêm phong phú. Bên cạnh đó, Đồng Nai có nguồn nhân lực khá dồi
dào, phần lớn là lực lượng lao động trẻ với trình độ khá cao từ mọi miền của đất nước hội tụ về đây lập
nghiệp, đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp
tỉnh Đồng Nai phát triển vào loại hàng đầu cả nước với những ngành nghề đa dạng, phong phú và đội ngũ
công nhân, cán bộ quản lý đã trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, có trình độ và kinh nghiệm.
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội tương đối phát
triển; tiềm năng du lịch dồi dà
o và đội ngũ nhân lực đông đảo đã góp phần làm cho Đồng Nai hội tụ đủ
các điều kiện “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”. Những lợi thế, tiềm năng này đã và đang được tận dụng,
phát huy cao độ trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp nói riêng và trong công
cuộc xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng
Nai nói c
hung.

Chương 2:
QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH
ĐỒNG NAI TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 – 1995)

2.1 Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương của tỉnh Đồng Nai về phát triển kinh
tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (1986 -1995)
2.1.1 Đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước

nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi đôi với
việc công bố luật đầu tư, cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở
nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế nước ngoài vào nước ta đầu tư, kinh doanh.”
[16, tr.85]
Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 8 ngày 31- 12 - 1987 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã
được thông qua. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được soạn thảo dựa trên nội dung cơ bản của Điều lệ
đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam
và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác trên thế
giới. Dựa trên những lĩnh vực kêu gọi đầu tư đã được quy định trong Điều lệ đầu tư năm 1977, Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1987 đã bổ sung và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù
hợp với hoàn cảnh mới. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định những nguyên tắc và biện phá
p
bảo đảm đầu tư nhằm làm cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam, thể hiện ở ngay Điều
1(đoạn 2): “Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các
tổ chức, cá nhân nước ngoài, tạo những điều kiện thuận lợi và các thủ tục dễ dàng cho các tổ chức, cá
nhân có đầu tư tại Việt Nam”. Đồng thời Điều 21 cũng khẳng định : “Trong quá trình đầu tư vào Việt
Nam, vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện
pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa”. Như vậy, những nguyên
tắc cơ bản nhất đã được Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ghi nhận và khẳng định. Điều này vô cùng
qua
n trọng đối với nhà đầu tư, nó đã tạo ra được tâm lý vững vàng cho nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt
Nam. Ngoài ra, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định bảo đảm đối đãi công bằng và thoả đáng với
nhà đầu tư (Điều 20); cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước vốn, lợi nhuận và mọi khoản tiền
khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ (Điều 22); c
ho phép nhân viên người nước ngoài làm việc trong
xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp có vốn 100% của nước ngoài hoặc để thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh
doanh được chuyển về nước thu nhập hợp pháp của mình, sau khi đã nộp đủ thuế thu nhập (Điều 23).
Nếu ta ghi nhận Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977 là những chế định pháp lý đầu tiên về đầu tư
nước ngoài, thì với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, chúng ta ghi nhận là đạo Luật đầu tiên về đầu tư
nước ngoài trên đất nước Việt Nam. Hơn thế nữa, Luật Đầu tư nước ngoài năm

Tuy nhiên, trong giai đoạn nà
y chúng ta cũng có những thuận lợi mới trong quan hệ đối ngoại, nhất
là sau khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với đất nước ta và việc Việt Nam gia nhập tổ chức Asean (1995).
Cùng với việc mở rộng quan hệ đối ngoại, quan hệ hợp tác đầu tư quốc tế cũng ngày một phát triển. Để
tranh thủ các mối quan hệ này, trong nhiệm vụ phát triển kinh tế những năm 1991 – 1995, Đảng ta chỉ
rõ:“Tiếp tục xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung của
cả nước. Phát huy thế mạnh của từng v
ùng, từng địa phương, khai thác các nguồn lực tại chỗ, đồng thời
mở rộng quan hệ phân công, hợp tác, liên kết với các vùng khác trong nước và với nước ngoài” [17, tr.65
– 66]. Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài xây dựng các khu công nghiệp, Đảng ta chủ trương:“Có chí
nh sách
thu hút tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta, trước hết vào lĩnh vực sản xuất, dưới nhiều hình thức” [17,
tr.64]; tạo một môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài đầu tư, hợp tác kinh doanh:“Xây
dựng thể chế đồng bộ, ổn định, thuận tiện và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh. Thống nhất đầu mối giải
quyết các thủ tục và yêu cầu về đầu tư của người nước ngoài. Bảo đảm những điều kiện thiết yếu về cơ sở
hạ tầng, phương tiện làm việc và sinh hoạt cho người nước ngoài, trước hết là ở cá
c khu chế xuất và
những địa bàn đầu mối trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Tổ chức tốt thông tin kinh tế và chuẩn bị các dự
án gọi vốn đầu tư nước ngoài. Đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng y
êu cầu hoạt động kinh tế đối ngoại theo
cơ chế mới, với các đối tượng mới”. [15, tr.32]
Trong điều kiện có sự cạnh tranh giữa các nước trong khu vực và trên thế giới về thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, chúng ta cần có cơ chế chính sách để thu hút nhiều hơn và sử dụng tốt hơn, c
ó hiệu quả
hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đi đôi với tranh thủ công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại. Cụ thể hóa

Trích đoạn Chủ trương của Đảng bột ỉnh ĐồngNa Những thành tựu và nguyên nhân của thành tựu trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp ởĐồng Nai giai đoạn 1986 Những hạn chế trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp ĐồngNai giai đoạn 1986 Những đề xuất, giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status