SO SÁNH HIỆU QUẢ xử lý nước THẢI AO cá TRA BẰNG cây RAU dừa jussiaea repens l và PHIÊU SINH ĐỘNG vật moina sp - Pdf 30

SO SÁNH HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI AO CÁ TRA BẰNG CÂY RAU DỪA
Jussiaea repens L VÀ PHIÊU SINH ĐỘNG VẬT Moina sp
Văn Đỗ Tuấn Anh, Võ Thanh Bình, Nguyễn Phúc Thưởng và Nguyễn Thị Thanh Trúc
Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
Email:
TÓM TẮT
Nước thải cá Tra có nhiều chất hữu cơ lơ lửng và dưỡng chất dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm khi thải vào
môi trường với số lượng lớn không qua xử lý. “So sánh hiệu quả xử lý nước thải cá Tra bằng cây rau Dừa (Jussiaea
repens L.) và phiêu sinh động vật (Moina sp.)” nhằm tìm ra giải pháp sinh học hữu hiệu để xử lý nước thải cá Tra,
đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho người dân. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Gồm bảy nghiệm
thức với 3 lần lập lại. Nghiệm thức 1, 2, 3 có mật độ Moina lần lượt là 10, 20, 30 con/L nước thải, nghiệm thức 4, 5,
6 có mật độ rau Dừa lần lượt là 100, 200, 300 g/10L nước thải và một nghiệm thức đối chứng với 20L nước thải.
Kết quả cho thấy Moina và rau Dừa đều có thể phát triển trong môi trường nước thải cá Tra. Nước thải sau khi xử
lý thì BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng dưới mức cho phép ở cột A (BOD < 20mg/l, COD < 50mg/l, Phốt-pho
tổng < 4mg/l, Nitơ tổng < 30mg/l), còn TSS dưới mức cho phép ở cột B (TSS < 100 mg/l) của bảng giá trị giới hạn
các thông số và nồng độ chất ô nhiễm theo TCVN 5945: 1995. Trong nghiên cứu, rau Dừa mang lại hiệu quả hơn
trong việc xử lý nước thải so với Moina.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều năm qua Nuôi Trồng Thủy Sản được xem là ngành mũi nhọn của nước ta và
cá Tra là đối tượng nuôi xuất khẩu chủ lực đem về ngoại tệ cho đất nước. Nghề nuôi cá Tra phát
triển góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống người dân.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại những hệ lụy từ việc nuôi cá Tra
qui mô công nghiệp gây ra, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường nước do thải trực tiếp nước
thải ao cá Tra ra sông, kênh, rạch… mà không qua xử lý. Theo nghiên cứu của Boyd (1985) cho
thấy cá da trơn chỉ hấp thu được 26.8% nitrogen (N), 30.1% phốt-pho (P) và 25.5% chất hữu cơ
đưa vào từ thức ăn. Do đó nước thải cá Tra chứa nhiều chất dinh dưỡng, cặn bã hữu cơ, mầm
bệnh,… gây nhiễm bẩn nguồn nước ngọt dùng trong sinh hoạt, các hoạt động nông nghiệp khác
dẫn đến nguy cơ phát sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến đời sống người dân và có thể gây tác động
xấu trở lại đối với nghề nuôi.
Trước thực tiễn trên một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để phát triển nghề nuôi cá Tra
một cách bền vững, thân thiện với môi trường, mang thêm nhiều lợi ích dân sinh thiết thực.

Nghiệm thức 1 (1): 10 con Moina/L nước thải.
Nghiệm thức 2 (2): 20 con Moina/L nước thải.
Nghiệm thức 3 (3): 30 con Moina/L nước thải.
Nghiệm thức 4 (4): 100g rau dừa/10L nước thải.
Nghiệm thức 5 (5): 200g rau dừa/ 10L nước thải.
Nghiệm thức 6 (6): 300g rau dừa/ 10L nước thải.
Vị trí bể nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo phương pháp bốc thăm.
Bảng 2.Sơ đồ bố trí các nghiệm thức
6.3 4.3 3.1 3.2 3.3 0.3 4.2 6.1 2.2 2.1
2.3 1.3 5.2 5.3 1.1 1.2 6.2 0.1 5.1 4.1 0.2
Quan sát và theo dõi các chỉ tiêu
Quan sát sự phát triển sinh khối của quần thể Moina thông qua việc đếm số lượng của
chúng bằng mắt thường, đồng thời quan sát sự biến đổi của môi trường nước thông qua theo dõi
các chỉ tiêu BOD, COD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS (APHA, 1985).
Xử lý số liệu: Sau khi tiến hành thí nghiệm, các kết quả được thống kê, phân tích, so sánh, xử lý
bằng phần mềm thống kê MINITAB và EXCEL.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá chất lượng nước thải trong ao nuôi cá Tra
Để đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm của nước thải cá Tra, chúng tôi dựa vào:
Bảng 3. Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm theo TCVN 5945: 1995
STT Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn
A B C
1 BOD
5
mg/l 20 50 100
2 COD mg/l 50 100 400
3 Phốt-pho tổng mg/l 4 6 8
4 Nitơ tổng mg/l 30 60 60
5 TSS mg/l 50 100 200
Sau khi tiến hành phân tích nước thải cá Tra ở ngày đầu tiên của thí nghiệm chúng tôi ghi nhận

quả như trên, ta thấy rằng sinh khối Moina có sự phát triển và khả năng ứng dụng nước thải cá
Tra để nuôi Moina là hoàn toàn khả thi.
3.2.2 Sự phát triển của rau Dừa nước
Trong 13 ngày thí nghiệm theo quan sát từ ngày thứ nhất đến ngày thứ chín thì rau Dừa
xanh tươi, mọc chòi non và phao nhưng sau đó một số ngọn rau bị héo, lá vàng nhiều và nhiều
thân cây bị thối. Đến ngày cuối cùng kết thúc thí nghiệm chúng tôi cân lại trọng lượng rau Dừa
và ghi nhận trong bảng sau:
Bảng 5. Phần trăm tăng trưởng tương đối của rau Dừa
Nghiệm thức Trọng lượng tươi thí
nghiệm (g)
Trọng lượng tươi sau
thí nghiệm (g)
% tăng sinh trưởng
tương đối
4 200 ± 1.00 212.40 ± 4.45 + 6.20
5 400 ± 1.00 384.07 ± 6.41 - 3.98
6 600 ± 1.00 555.64 ± 794 -7.39
Theo các công trình nghiên cứu trước như “Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý – hóa sinh và khả
năng xử lý nước lò mổ của rau dừa nước” (Hương và ctv., 2008) thì trong 30 ngày phần trăm
sinh trưởng tương đối của rau Dừa là 115% và “So sánh hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi bằng
rau Dừa và rau Muống” (Nga và ctv., 2007) thì tốc độ tạo sinh khối tươi của rau Dừa là
0,384kg/m
2
/ngày.Như vậy sinh trưởng của rau Dừa trong thí nghiệm này là thấp.Theo chúng tôi
có thể do diện tích bề mặt của bể thí nghiệm (0.12 m
2
) không phù hợp với lượng rau Dừa và thời
tiết lạnh những ngày cuối năm đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.
3.3 So sánh hiệu quả xử lý nước của Moina và rau Dừa nước
Nhìn chung Moina và rau dừa đều làm giảm BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS

quả làm giảm COD cao nhất với 40.24%.
Ở rau Dừa, COD thấp nhất ở nghiệm thức 5, 6 vào ngày thứ 9 (nghiệm thức 5: 29.867 mg/L,
nghiệm thức 6: 25.433 mg/L) và nghiệm thức 4 vào ngày thứ 11 (21.333mg/L). Rễ rau dừa đã
hấp thụ tốt mùn bã hữu cơ trong nước làm cho COD ở các nghiệm thức giảm nhưng ở những
ngày cuối của thí nghiệm xuất hiện thân rau dừa bị thối, lá rụng nhiều có thể đã làm tăng COD.
Trong các nghiệm thức rau Dừa, nghiệm thức 4 cũng có tác dụng làm giảm COD cao nhất với
70.12%.
Sau thí nghiệm COD của các nghiệm thức 4, 5 và 6 đều dưới mức giới hạn cho phép ở
cột A (< 50 mg/L) theo TCVN 5945: 1995. Kết quả cũng cho thấy hiệu quả làm giảm COD
không tỉ lệ thuận với mật độ ở các nghiệm thức và rau Dừa cho hiệu quả làm giảm COD cao hơn
so với Moina.
3.3.3 Xét trên chỉ tiêu Phốt – pho tổng
Chúng tôi theo dõi sự biến động của Phốt – pho tổng cũng giống như BOD và COD. Các
giá trị Phốt – pho tổng đo ở các nghiệm thức được thể hiện ở Hình 4.
Hình 4. Biến động của Phốt – pho tổng ở các nghiệm thức trong thí nghiệm
Với Moina, Phốt – pho tổng thấp nhất vào ngày thứ 7 ở nghiệm thức 2 (2.0 mg/L),
nghiệm thức 3 vào ngày thứ 9 (1.8667 mg/L), còn nghiệm thức 1 vào ngày thứ 11 (1.9667
mg/L). Sự biến động của Phốt – pho tổng là do Moina sử dụng thực vật phù du, mùn bã hữu cơ
làm thức ăn nên hạn chế sự phân hủy thực vật phù du chết, mùn bã hữu cơ giải phóng Phốt – pho
vào môi trường. Bên cạnh đó Phốt – pho cũng mất đi vào bùn đất. Chính vì vậy đã làm giảm
Phốt – pho tổng. Sau khi đạt đỉnh sinh khối, Moina chết đi nhiều sẽ giải phóng một lượng lớn
Phốt – pho vào môi trường nước do đó đã làm Phốt – pho trong môi trường nước tăng lên. Trong
các nghiệm thức Moina, nghiệm thức 3 có hiệu quả làm giảm Phốt – pho tổng cao nhất với
22.22%.
Còn rau Dừa, Phốt – pho tổng thấp nhất ở nghiệm thức 5, 6 vào ngày thứ thứ 9 (1.4333
mg/L), còn nghiệm thức 4 giảm liên tục đến ngày cuối cùng của thí nghiệm. Rau Dừa đã hấp thụ
Phốt – pho sử dụng cho quá trình sinh trưởng, Phốt – pho cũng mất đi vào bùn đất do đó đã làm
giảm Phốt – pho tổng. Nhưng ở những ngày cuối của thí nghiệm thân rau Dừa bị thối và lá rụng
nhiều đã làm tăng Phốt – pho tổng trong môi trường. Trong các nghiệm thức rau Dừa, nghiệm
thức 5, 6 có hiệu quả làm giảm Phốt – pho tổng cao nhất với 40.28%.

làm giảm TSS cao nhất với 41.16%.
Đối với rau Dừa, TSS giảm thấp nhất ở nghiệm thức 4 vào ngày thứ 11 (63.33 mg/L),
nghiệm thức 5 và 6 vào ngày thứ 9 (nghiệm thức 5: 57.0 mg/L, nghiệm thức 6: 64.0 mg/L). Rễ
rau Dừa có khả năng hấp thụ mùn bã hữu cơ rất tốt chính vì vậy đã làm giảm TSS. Nhưng ở
những ngày cuối của thí nghiệm xuất hiện thân rau Dừa bị thối và lá rụng nhiều, có thể đây là lý
do TSS tăng ở nghiệm thức 5, 6. Trong các nghiệm thức rau Dừa, nghiệm thức 5 có hiệu quả làm
giảm Phốt – pho tổng cao nhất với 65.67%.
Sau thí nghiệm hàm lượng TSS đã giảm dưới giới hạn cho phép trong cột B (< 100mg/L)
theo TCVN 5945: 1995 ở nghiệm thức 1, 2, 4, 5, 6. Rau Dừa cho thấy hiệu quả làm giảm TSS tốt
hơn Moina.
Kết hợp Hình 1 với các kết quả phân tích BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS của
chúng tôi cho thấy ở ngày 7 của thí nghiệm khi Moina vẫn còn ở đỉnh sinh khối thì đã bắt đầu
xuất hiện sự khác biệt về mặt thống kê ở các chỉ tiêu BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS
theo hướng giảm so với ban đầu. Ta có thể tận dụng điều này để vừa thu được sinh khối cao, vừa
xử lý được ô nhiễm.
Trên thực tế nếu áp dụng biện pháp xử lý nước thải cá Tra bằng Moina hay rau Dừa thì
người dân sẽ tiến hành thu sinh khối, điều này sẽ tránh việc hàm lượng các chỉ tiêu trên tăng trở
lại khi Moina hay rau Dừa chết.
Theo nghiên cứu của Hương và ctv (2008) ở mật độ 200 g rau Dừa / 30L nước thải lò mổ
trong 30 ngày thì khả năng loại bỏ BOD là 68.44%, COD là 81.27%. So sánh với nghiệm thức 5
(200g rau Dừa/10L nước thải ao cá Tra), trong 12 ngày có hiệu quả loại bỏ BOD là 27.97% và
COD là 52.19% thì 2 kết quả không có sự khác biệt lớn.
Tóm lại rau Dừa cho hiệu quả xử lý BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS cao hơn hẳn so
với Moina.
3.3.6 So sánh sự khác biệt về hiệu quả xử lý nước giữa Moina và rau Dừa
So sánh hiệu quả làm giảm từng chỉ tiêu BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS ở
các nghiệm thức. Từ đó chọn ra nghiệm thức xử lý nước tốt nhất bằng Moina và bằng rau Dừa.
Bảng 6. So sánh hiệu quả xử lý tốt nhất ở các chỉ tiêu
Chỉ tiêu Nghiệm thức Moina Nghiệm thức rau Dừa
Nghiệm thức % hiệu quả xử lý Nghiệm thức % hiệu quả xử lý

± 0.0577
Nitơ tổng (mg/L) 14.933
a
± 1.617 5.600
b
± 2.800 2.800
b
± 0.000
TSS (mg/L) 166.00
a
± 19.08 97.67
b
± 15.37 57.00
c
± 10.54
Ghi chú: Các giá trị theo hàng ngang có ký tự giống nhau ở Bảng trên là sai khác chưa có ý
nghĩa về mặt thống kê (P>0.05).
Kết quả so sánh nghiệm thức 2 và nghiệm thức 5 cũng đại diện cho sự khác biệt về hiệu quả xử
lý nước thải ao cá Tra bằng Moina và rau Dừa.Từ tất cả các bảng trên cho thấy rau Dừa đã làm
giảm BOD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS trong môi trường nước thải cá Tra tốt hơn
nhiều so với Moina.
4. KẾT LUẬN
Mức độ dưỡng chất gây ô nhiễm trong nước thải cá Tra cao so với tiêu chuẩn TCVN
5945: 1995 (COD vượt qua giới hạn ở cột A, TSS vượt qua giới hạn ở cột B). Điều này đáng báo
động về môi trường ở những nơi trọng điểm vùng nuôi khi diện tích nuôi ngày càng tăng.
Moina và rau Dừa đều có khả năng sinh trưởng trong môi trường nước thải cá Tra, có thể áp tận
dụng điều này để cải thiện thu nhập cho người dân qua việc nuôi Moina và trồng rau Dừa.
Khả năng xử lý nước thải của rau Dừa tốt hơn Moina. Nếu rau Dừa được trồng trong các ao xử
lý nước thải cá Tra trước khi đổ vào các sông, kênh, rạch…sẽ là một giải pháp lọc sinh học hiệu
quả để phát triển bền vững nghề nuôi đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế.

catfish ponds between aquatic plant (Jussiaea repens L.) and zooplankton (Moina sp.)” aim to find effective
solutions to biological wastewater treatment and bring economic benefits to farmers. The experiment was
completely randomized design; include seven treatments with three replications. Treatment of 1, 2, 3 were carried
out Moina density stocking 10, 20, 30 individual/L respectively; and aquatic plant density 100, 200, 300g/10L
respectively in treatment of 4, 5, 6 and a control with 20L wastewater. The results showed the both of them can grow
in wastewater. After treated 12 days, the BOD, COD, total phosphorus and total nitrogen below the level allowed in
A level (BOD <20mg/L, COD <50mg/L, total phosphorus <4 mg/L, total N <30mg/L), and TSS below the permitted
B level (TSS <100mg/L) according to TCVN 5945:1995. In the study, aquatic plant is more effective in the
wastewater treatment than Moina.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status