Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may - Pdf 30

b
b
é
éc
c
«
«
n
n
g
gt
t
h

b
¸
¸
o
oc
c
¸
¸
o

§
¸
¸
N
N
H
HG
G
I
I
¸

¸
T
TT
T
R
R
I
I
Ó
Ó
N
NN
N
G
G
µ
µ
N
N
H
HD

n
¨
¨
n
n
g
gn
n
©
©
n
n
g
gc
c
a
a
o
on
n
¨

a
n
n
h
ht
t
h
h
«
«
n
n
g
gq
q
u
u
a
at
t
¨

t
h
h
¸
¸
c
cc
c
¸
¸
c
cy
y
Õ
Õ
u
ut
t
è
è


t
h
h


¬
¬
n
n
g
gm
m
¹
¹
i
i nh viªn :

.


6
6n
n
¨
¨
m
m2
2
0
0
1
1
3
3
Môc lôc i Phần thứ hai
ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
TRỌNG TÂM CẦN XEM XÉT NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
THỜI GIAN TỚI I. Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt
Nam
41

II. Đánh giá về tiềm năng phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong
tương lai
43 III.
Xem xét một số cơ chế, chính sách và yếu tố thương mại chủ yếu
tác động tới ngành
50
lao động, trong đó 1,1 triệu lao động công nghiệp, đưa Việt Nam trở thành nước
xuất khẩu dệt may nằm trong Top 5 thế giới, ngành dệt may đã có vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong định hướng phát
triển kinh tế, xã hội của nước ta đến năm 2020, ngành dệt may tiếp tục là ngành
sản xuất, xuất khẩu chủ chốt của nền kinh tế, giữ vị trí quan trọng trong việc góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
- Về qui mô và tốc độ tăng trưởng, ngành dệt may trong giai đoạn 10 năm
2001 - 2011, giá trị xuất công nghiệp của ngành chiếm bình quân 8,2 - 8,4%
toàn ngành công nghiệp, tốc độ tăng trưởng toàn ngành dệt may hàng năm là
khoảng 15,2% năm, trong đó tốc độ tăng trưởng ngành may luôn đạt mức cao
bình quân 17,4% năm. Năng lực sản xuất của ngành không ngừng được nâng
cao, các nhóm sản phẩm chủ yếu đều có tốc độ tăng trưởng ở mức khá cao và
cao.
Bảng 1. Các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp dệt may

Lĩnh vực sản xuất
Đơn vị
tính
2005 2008 2009 2010 2011
Sợi
Tấn
259.245
392.915
538.299
810.151
941.591
Trong đó:
- Nhà nước
"
101.515

176,8
126,8
156,5
109,4
116,7

1

Lĩnh vực sản xuất
Đơn vị
tính
2005 2008 2009 2010 2011
- Ngoài Nhà nước
"
184,9
404,1
479,7
322,9
364,2
- Đầu tư nước ngoài
"
199,1
545,5
551,1
744,7
813,9
Quần áo
Triệu cái
1.156,4 2.175,1 2.776,5 2.604,5 2.890,9
Trong đó:


2
Biểu đồ 1.2 – Tình hình sản xuất vải Nguồn: Tổng cục thống kê

Biểu đồ 1.3 – Tình hình sản xuất quần áo Nguồn: Tổng cục thống kê 3


Vải dệt kim phẳng 1.000 tấn 25
Khăn
1.000 tấn
65
Vải không dệt 1.000 tấn 65
Nhuộm - inhoa - hoàn tất
Triệu m
800
Mex
Triệu m
2

12
Khóa kéo Triệu m 65
Sản phẩm may các loại
Triệu sản phẩm
2.800
Nguồn: Đề tài khảo sát năng lực ngành dệt năm 2011 (Viện Dệt May) và Tập
đoàn Dệt May Việt Nam

4

Trong đó:
+ Trong lĩnh vực kéo sợi, theo thống kê của Hiệp hội kéo sợi (VCOSA), chỉ
trong 10 năm từ 2000 đến 2010, ngành kéo sợi đã tăng trưởng trên 300% từ
1,2 triệu cọc sợi với tổng sản lượng
120.000 tấn lên 3,75 triệu cọc
nồi khuyên

104.348 rotor

+ Trong lĩnh vực dệt thoi, theo thống kê của Vinatex trong lĩnh vực dệt vải,
trong đó có khoảng 15.000 máy dệt kiểu thoi, khoảng 6.800 máy dệt không thoi,
tỷ lệ máy dệt không thoi so với tổng số máy dệt là 32%. Trong số máy dệt không
thoi thì máy dệt kiếm chiếm 63%, máy dệt khí chiếm 28%, máy dệt thoi kẹp
chiếm tỷ lệ 1,5% còn lại là máy dệt nước chiếm tỷ lệ 7,5% trong số máy dệt
không thoi. Năng lực sản xuất đạt khoảng 800 triệu m
2
vải/năm và 65.000 tấn
khăn/năm.

5

Mặt hàng vải bông 100%, PES/Co, PES/Visco chiếm tỷ trọng chính trong
các mặt hàng vải dệt thoi, chủ yếu để phục vụ may sơ mi, quần âu. Nhờ có nhiều
thế hệ máy dệt không thoi được đầu tư, cùng với hệ thống mắc, hồ được trang bị
nên chất lượng vải ngày càng được cải thiện. Mặt hàng gabadin, khaki, chéo
được nhiều công ty sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất khăn bông đã có sự tăng
trưởng về số lượng, chất lượng, chủng loại, đa dạng về kích thước. Mặt hàng vải
sử dụng sợi tổng hợp 100%, nhờ được đầu tư đồng bộ từ thiết bị xe sợi và hoàn
tất giảm trọng, làm mềm cơ học, nên hàng năm cũng đã sản xuất đáp ứng thị
trường nội địa và một phần xuất khẩu. Mặt hàng vải PES/Wool cũng được sản
xuất hàng triệu m/năm và vải mành cũng được sản xuất khoảng 10.000 tấn/năm.
+ Trong lĩnh vực vải dệt kim, mặt hàng dệt kim chủ yếu là vải sử dụng để
may áo T-shirt, Polo-shirt, quần áo lót với các kiểu dệt single dệt trơn và dệt
biến đổi, vải Interlock dệt trơn, dệt biến đổi và cài sợi ngang, vải Rib dệt trơn và
vải Rib cài sợi lycra (các sản phẩm may mặc thông dụng từ vải dệt kim như áo
sơ mi các loại, quần áo lót đang là nhóm mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất tính
theo cả khối lượng và giá trị; trong năm 2011, hàng may mặc dệt kim chiếm
khoảng 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị
trường Hoa Kỳ). Đối với vải dệt kim tròn, tỷ lệ cung cấp cho may xuất khẩu đạt

6

EU, Nhật Bản, Hàn Quốc các nước Đông Âu,… Điều đó đã khẳng định sản
phẩm may của ngành dệt may nước ta là hạt nhân trong sự phát triển của ngành.
Năng lực sản xuất hiện nay của Việt Nam vào khoảng 200 triệu sản phẩm
sơmi/năm; 150 triệu quần âu/năm; 120 triệu áo jacket/năm; 20 triệu sản phẩm
Jeans/năm; 3 triệu bộ vét tông/năm; poloshirt/T-shirt 1.200 triệu sản phẩm/năm;
80 triệu sản phẩm dệt kim mặc ngoài/năm; 50 triệu sản phẩm đồ lót/năm; 170
triệu sản phẩm trẻ em/năm; 70 triệu sản phẩm váy/năm; 20 triệu sản phẩm đồ
bơi/năm; và khoảng 400 triệu sản phẩm khác
- Về số lượng và cơ cấu các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh
trong ngành:
+ Số lượng các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trong toàn ngành
dệt may là khá lớn, trong đó các doanh nghiệp có qui mô lớn chiếm tỷ lệ khá
cao. Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2011 số lượng doanh nghiệp trong toàn
ngành dệt may là khoảng 5.982 doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, trong đó:
Nếu tiêu chí phân loại doanh nghiệp lớn, nhỏ theo số lượng lao động thì:
Số lao động Số lượng doanh nghiệp
Doanh nghiệp lớn
≥ 5.000 lao động
12
Doanh nghiệp vừa
Từ 200 – 4.999
997
Doanh nghiệp nhỏ
< 200
4.973
Nguồn: Tổng cục thống kê

Nếu tiêu chí phân theo tổng giá trị tài sản thì:
Phân loại doanh nghiệp theo lĩnh vực sản xuất
Bông
0,2%
Xơ sợi
tổng hợp
0,1%
Tơ tằm 1,6%
Sợi, chỉ
4,8%
Dệt
11,0%
Nhuộm hòan tất,
3,0%
May, 64,1%
Nguyên phụ liệu
0,7%
Khác
14,6%

+ Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia ngành dệt may thuộc thành
phần kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm ưu thế và
đang tiếp tục có xu hướng gia tăng. Trong tổng số 5.982 doanh nghiệp của toàn
ngành thì có tới 5.041 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 84,27% và doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài là 876, chiếm 14,64%.
Bảng 3. Cơ cấu loại hình doanh nghiệp
TT Loại hình doanh nghiệp Số doanh nghiệp Tỷ lệ (%)
1
Nhà nước

Khu vực Số doanh nghiệp Tỷ lệ (%)
Đồng bằng Sông Hồng
1.587
26,53
Trung du & miền núi phía bắc 130 2,17
Bắc trung bộ, Duyên hải miền trung
425
7,10
Tây nguyên 50 0,84
Đông nam bộ
3.549
59,33
Đồng bằng sông Cửu long 241 4,03
Tổng 5.982 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Doanh nghiệp dệt may phân bổ theo vùng lãnh thổ

Nhà nước
1
,09
%
Tư Nhân
84,27%
Vốn nước
ngoài
14,64%

9

ĐB sông hồng

năm qua cho thấy:
- Đầu tư trong nước, trong đó chỉ xét riêng Vinatex đơn vị hàng đầu trong
ngành dệt may chiếm thị phần khoảng (18 -19)% kim ngạch xuất khẩu của toàn
ngành cho thấy số liệu đầu tư ở các giai đoạn như sau: Từ 2001 - 2005 nguồn
vốn đầu tư phát triển cho ngành là 12.500 tỷ đồng trong khi ngành đã tiến hành
khoảng 220 dự án với tổng mức đầu tư hơn 8.373 tỷ VNĐ, trong đó vốn cố định
là 7.184 tỷ đồng và vốn lưu động là 1.189 tỷ đồng. Từ 2006 - 2010 là khoảng
9.500 tỷ đồng, trong đó thực hiện của năm 2011 là 6.750 tỷ đồng.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Từ 2001 đến tháng 4 năm 2012 đã có 1.136
dự án dệt may có vốn nước ngoài đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 4.316 triệu

10

USD và đã thực hiện được 1.928 triệu USD. Có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ
tham gia đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam, trong đó 3 nền kinh tế là Đài
Loan, Hàn Quốc và Hồng Kông có vốn đầu tư nhiều nhất. Có tất cả 35 tỉnh,
thành phố có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may, phần lớn các
dự án đều tập trung tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh.
Trong số các địa phương có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may
thì Đồng Nai là tỉnh thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất, tiếp đến là thành phố
Hồ Chí Minh và Bình Dương.
Bảng 5. Các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) vào dệt may
(tính đến ngày 20/4/2012)
Đơn vị: USD
Năm
Số dự án
Vốn đăng ký
Vốn điều lệ
2001 74 236,379,166 112,102,854
2002

may, với tổng số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD.
Các nhà đầu tư nước ngoài trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án
đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội thuận
lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không,
các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án nhất. Trong khi đó, các tỉnh
miềm núi, vùng sâu, vùng xa, những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi cao
hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm. Tình trạng đó đã dẫn đến một
nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được nhiều,
do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả
nước.

11

Bảng 6. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng ngành dệt may
Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011
Đơn vị: Triệu USD
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Kim ngạch
NK
447,156 481,797 641,677 847,878 459,783 578,341 658,471
Nguồn: ITC (International Trade Centre) Website: http://www.trademap.org
Cũng qua theo dõi tình hình đầu tư phát triển trong ngành dệt may thời gian

khá. Cũng do vậy nên mặt hàng, năng suất và chất lượng là trung bình. Điều này

12

dẫn đến hầu hết vải dệt thoi trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu làm
hàng xuất khẩu. Đặc điểm nổi bật về sản phẩm vải dệt thoi của Việt Nam là:
- Sản lượng còn thấp, chủng loại mặt hàng chưa đa dạng, chất lượng thấp và
không ổn định về độ đồng đều màu và độ bền màu của vải nhuộm, giá cả không
cạnh tranh, khâu tiếp thị lưu thông phân phối còn yếu kém nên phần lớn chỉ tiêu
thụ được ở thị trường trong nước.
- Vải dệt thoi xuất khẩu và cung cấp cho may xuất khẩu còn thấp khoảng
(13-14)%. Những yếu kém này làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thu
hồi vốn và trả nợ vay ngân hàng.
- Thứ ba là ngoài việc còn tồn tại một lượng lớn các thiết bị quá lạc hậu, việc
thiếu kỹ năng kỹ thuật chuyên môn ngành dệt như vấn đề quản lý kỹ thuật, công
tác phát triển mặt hàng mới chưa được chú trọng, chưa tạo ra bước đột phá về
chất lượng vải dệt.
3. Đối với lĩnh vực dệt kim
Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ của khu vực doanh nghiệp FDI về
cơ bản ở mức cao do được đầu tư sản xuất trong thời gian khoảng 10 năm trở lại
đây, khu vực doanh nghiệp tư nhân có trình độ thấp và trung bình.
Theo thống kê, số máy dệt kim trong toàn ngành là 5.239, trong đó có 1.672
máy dệt kim tròn thường và 11 máy đan tròn jacquard khổ trung bình và lớn
dùng cho dệt vải; có 321 máy dệt kim đan ngang phẳng bán tự động và 56 máy
đan ngang phẳng jacquard điện tử dùng cho dệt cổ áo, bo áo, cạp quần;… có
1.835 máy dệt kim phẳng đan ngang bán tự động và tự động dùng cho dệt len
(chưa tính đến các máy dệt len nằm rải rác trong các hộ kinh doanh cá thể và các
công ty gia đình, hợp tác xã thuộc các làng nghề truyền thống, chủ yếu điều
khiển bằng tay hoặc bán tự động); có 995 máy dệt kim tròn đường kính nhỏ
dùng cho dệt tất, găng tay; có 349 máy dệt kim phẳng đan dọc. Vải dệt kim cung

máy dệt tròn và hãng Shima Sheiki, Matsuya cho máy dệt cổ, bo. Hầu hết các
máy này cũng được nhập về từ trước năm 1997 và đa số vẫn đang được sử dụng.
Trên một nửa số máy hiện có trong Vinatex được nhập từ Hàn Quốc và Đài
Loan, một số ít nhập từ các nước khác như Trung Quốc, Singapore (chỉ cho máy
dệt đường kính <24”), trong đó Pai Lung của Đài Loan là hãng được nhập nhiều
nhất. Các máy hiệu suất sử dụng thấp do năng suất và chất lượng dệt không đảm
bảo chủ yếu là các máy Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc được sản
xuất trước năm 1996. Sản xuất vải dệt kim tại các doanh nghiệp thuộc Vinatex
tăng không đáng kể. Một số doanh nghiệp năng lực sản xuất thực tế rất thấp so
với năng lực thiết kế như Công ty CP Dệ
t Kim Hanosimex, Công ty TNHH
MTV dệt kim Đông Phương.
Thiết bị dệt kim thuộc các doanh nghiệp tư nhân trong nước chiếm tỷ lệ
nhiều nhất trong tổng số máy dệt kim tại Việt Nam (55%), nhưng chủ yếu là
máy dệt kim phẳng dùng cho dệt len, dệt màn tuyn và máy dệt tất, số máy dệt
kim tròn dùng cho dệt vải rất ít chỉ chiếm khoảng 6%. Trừ một vài công ty lớn
có đầu tư máy mới, chất lượng khá và tốt có thể sản xuất vải cho xuất khẩu, còn
lại hầu hết các máy dệt kim thuộc các doanh nghiệp tư nhân trong nước đều là
máy cũ, năng suất và chất lượng dệt thấp, chỉ chuyên để dệt vải cung cấp cho thị
trường nội địa.
4. Đối với lĩnh vực nhuộm, in hoa và hoàn tất
Hiện tại, trình độ công nghệ trong lĩnh vực này của Việt Nam được đánh giá
ở mức trung bình khá. Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có khoảng 177 doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhuộm in hoa và xử lý hoàn tất vải; có khoảng
66 dây chuyền in hoa; 193 dây chuyền nhuộm liên tục, 750 máy nhuộm gián
đoạn và khoảng 100 thiết bị nhuộm dạng sợi với mức độ công nghệ cụ thể như
sau:
- Tập đoàn Dệt May Việt Nam có 12 nhà máy nhuộm và hoàn tất, trong đó
thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến và được đầu tư trong vòng (5 - 7) năm nay


dụng khoảng 10 năm và dây chuyền in hoa và hoàn tất khăn của Dona Bochang
với thiết bị cũ nhưng đạt kết quả chất lượng sản phẩm tốt. Gần đây, Công ty
Hansoll Việt Nam đã đầu tư dây chuyền hoàn tất vải dệt kim có công suất đến
18.000 tấn/năm với thiết bị và công nghệ hiện đại.
Riêng đối với công nghệ sử dụng trong ngành dệt nhuộm, nhìn chung có
mức độ phức tạp hơn so với công nghệ sử dụng trong ngành may. Về trình độ
công nghệ theo đánh giá của nhiều chuyên gia và qua số liệu khảo sát của những
năm gần đây cho thấy, trình độ công nghệ trong ngành dệt nhuộm nói chung
được đánh giá là chậm hơn các nước trong khu vực xung quanh khoảng (15 -
20) năm. Nếu xếp theo thang điểm 10 thì trình độ công nghệ dệt nhuộm Việt
Nam chỉ đạt khoảng (5 - 6) điểm, đạt mức trung bình của thế giới.
Ngoài ra, việc đánh giá trình độ công nghệ có thể dựa vào tính đồng bộ của
dây chuyền, hay mức độ hiện đại của công nghệ, thiết bị sử dụng. Tính đồng bộ

15

của dây chuyền công nghệ sử dụng được đánh giá theo 3 mức độ (đồng bộ cao,
trung bình và thấp), được xác định dựa trên mức độ bảo đảm tối đa công suất
khai thác của các thiết bị trong dây chuyền và mức độ bảo đảm chất lượng sản
phẩm theo chỉ tiêu đặt ra. Mức độ hiện đại của công nghệ, thiết bị sử dụng trong
ngành được đánh giá dựa vào thế hệ công nghệ sử dụng thuộc những năm 90,
2000 hay công nghệ hiện đại, tự động hóa. Kết quả khảo sát những năm gần đây
cho thấy:
Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ cao (15 - 20)%
Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ trung bình (65 - 70)%
Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ thấp (10 - 15)%
Về mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ sử dụng:
Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại, tự động hóa
sau năm 2005 trở lại đây
(10 - 15)%

16

mức tiên tiến trên thế giới. Trình độ công nghệ trong ngành may có thể phân làm
các nhóm sau:
- Nhóm 1: Trình độ tiên tiến. Các xưởng may sử dụng CAD/CAM trong khâu
thiết kế kỹ thuật và giác sơ đồ. Có hoặc không sử dụng phần mềm trong sáng tác
sản phẩm. Tỷ lệ sử dụng các thiết bị may, cắt, vận chuyển nội chuyền, thiết bị,
thiết bị hoàn tất chuyên dùng và có trang bị tự động và điện tử khá cao. Có sử
dụng một số phần mềm trong quản lý sản xuất và tiêu thụ.
- Nhóm 2: Trình độ trung bình khá. Có sử dụng một phần CAD/CAM trong
khâu thiết kế kỹ thuật và sơ đồ. Có sử dụng một phần các thiết bị chuyên dùng
và trang bị điện tử trong dây chuyền cắt, may và hoàn tất. Có sử dụng một phần
hoặc chưa sử dụng phần mềm trong quản lý.
- Nhóm 3: Trình độ thấp và trung bình. Thiết bị thông thường. Chưa sử dụng
phần mềm quản lý và thiết kế.
Trong đó:
- Tập đoàn Dệt may Việt Nam có 126 xưởng may với 78.000 thiết bị may cắt
và hoàn tất các loại, trong đó các xưởng nhóm 1 chiếm 20%, xưởng nhóm 2
chiếm 70% và xưởng nhóm 3 chiếm 10%. Một số xưởng thuộc các Tổng Công
ty CP May Việt Tiến, Tổng Công ty may Nhà Bè – Cty Cổ phần, Tổng Công ty
May Đức Giang, Tổng Công ty May 10, Công ty May Phương Đông, đã có sử
dụng phần mềm sáng tác mẫu và thiết bị cắt vải Robot của Mỹ, Đức, Ngoài ra
còn có khoảng 200 xưởng may thuộc doanh nghiệp nhà nước khác có trình độ đa
số thuộc nhóm 2 và 3.
- Khu vực tư nhân: Có khoảng 850 xưởng may với khoảng 350.000 thiết bị
và trình độ công nghệ đa số thuộc nhóm 2 và 3.
- Khu vực đầu tư nước ngoài có gần 400 xưởng may với trên 400.000 thiết
bị có trình độ công nghệ hầu hết thuộc nhóm 1 và nhóm 2. Một số xưởng thuộc
các Công ty như: Công ty Esquel, Công ty Chutex, Công ty Hansoll, Công ty
Namyang, Công ty Shing Viet, Công ty Scavi, đã được khảo sát cho thấy dây

Tăng
trưởng TB
Số lao động cả nước
6.237.396
100%
10.079.886
100%
6,8%
Dệt 162.934 3% 188.914 2% 2,5%
May
513.428
8%
861.097
9%
9,0%
Nguồn: Niên giám thống kê, 2011
Bảng 8. Tỷ lệ trình độ giám đốc theo giới tính và theo trình độ chuyên môn
của ngành dệt may
Ngành Ngành dệt Ngành may
Chia theo giới tính - Nam 77.47 71.37
- Nữ
22.53
28.63
Chia theo trình độ chuyên môn

- Tiến sỹ
0.25

- Nam
35.96
16.96
- Nữ 64.04 83.04
Chia theo trình độ chuyên môn - Tiến sỹ 0.01 0.00
- Thạc sỹ
0.05
0.02
- Đại học 4.27 2.19
- Cao đẳng
2.49
1.84
- Cao đẳng nghề 1.01 1.25
- Trung học chuyên nghiệp
5.14
2.52
- Dạy nghề dài hạn
3.29
3.77
- Dạy nghề ngắn hạn
11.86
14.75
- Trình độ khác
71.87
73.66
Chia theo tính chất công việc


là các yêu cầu về tuân thủ luật bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe, buộc các
doanh nghiệp phải xây dựng phương án di dời và đang từng bước di dời, do đó
các đơn vị gặp không ít khó khăn về nguồn nhân lực (thiếu hụt trầm trọng)
Trong những năm gần đây môi trường làm việc (đặc biệt là thu nhập) của
ngành dệt may hoàn toàn không còn hấp dẫn đối với nhiều cán bộ kỹ thuật cũng
như công nhân lao động. Việc di dời các đơn vị của ngành ra khỏi các trung tâm,
thành phố lớn đến các khu công nghiệp cũng đã tác động không nhỏ đến điều
kiện môi trường của người lao động, trong điều kiện các chế độ chính sách đãi
ngộ không thể cải thiện một sớm một chiều đã làm cho ngành dệt may nói
chung, đặc biệt ngành dệt vải và nhuộm hoàn tất nói riêng gặp nhiều khó khăn
về nhân lực. Biến động lao động từ năm 2001 - 2006 ít xảy ra, nhưng từ năm
2007 đến nay số lao động biến động thường xuyên hàng năm là rất lớn, số cán
bộ công nhân viên muốn gắn bó lâu dài với các công ty là rất ít (so với trước
đây) do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.
- Bên cạnh đó, một số yếu tố ngăn cản sự phát triển của ngành dệt Việt Nam
là vấn đề ý thức của người lao động. Các lao động đang làm việc trong các xí
nghiệp nhà nước không hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng của công việc.
Chính vì họ chỉ ý thức rằng, chỉ cần bỏ ra một khoảng thời gian là có thể hoàn
thành được công việc, vì vậy mà năng suất lao động thực tế tại xưởng sản xuất
giảm sút. Vấn đề này đang trở thành vấn nạn lớn làm giảm đi năng suất lao động
của các doanh nghiệp. Chính vì vậy phải thực hiện công việc với lòng nhiệt tình,
với ý thức rằng người lao động đều là chủ nhân của nhà máy thì mới có thể góp
sức vào cho sự phát triển của doanh nghiệp (vấn đề này đang từng bước được
giải quyết tại các công ty cổ phần khi người lao động có cổ tức, tuy nhiên trong
thực tế vẫn còn một khoảng cách).

2. Về công tác đào tạo
Xét về số lượng, các trường đào tạo các ngành nghề liên quan đến công nghệ
dệt may trong cả nước hiện có: đào tạo trên đại học là 01 trường; đào tạo bậc đại
học là 09 trường và đào tạo bậc cao đẳng dạy nghề là 12 trường. Một thực tế là

doanh nghiệp còn rất thiếu, không đồng bộ và lạc hậu so với những cơ sở sản
xuất tiên tiến trong nước. Phần lớn các doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên
cứu và triển khai công nghệ.
Thiếu sự liên kết giữa sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ; thiếu sự
hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu phát triển trong ngành với các
trường đại học và các doanh nghiệp.
Hệ thống dịch vụ khoa học công nghệ bao gồm thông tin khoa học công
nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất
lượng còn yếu cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ.
Thiếu cán bộ khoa học công nghệ giỏi, thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ
cao. Sự phân bố cán bộ kỹ thuật của ngành chưa hợp lý, sự hỗ trợ về công nghệ
của các cơ quan nghiên cứu, trường đào tạo đối với các doanh nghiệp còn rất
hạn chế. Đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả
năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế.
Công tác nghiên cứu ở các doanh nghiệp là nghiên cứu đề tài phục vụ trực
tiếp cho sản xuất của doanh nghiệp. Toàn ngành có ba viện nghiên cứu, 9 trường
đại học có đào tạo dệt may, 12 trường cao đẳng và cao đẳng nghề có thể thực
hiện công tác nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài nghiên cứu các cấp phục
vụ cho sản xuất kinh doanh của ngành, trong đó có các đề tài nghiên cứu về

21

công nghệ thuộc các sản phẩm mới và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tổ chức
các lớp bồi dưỡng và đào tạo công nhân kỹ thuật cho các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, mới chỉ có các viện nghiên cứu thực hiện các đề tài phục vụ sản xuất,
song nhiều đề tài nghiên cứu chưa được ứng dụng trong sản xuất, tính khả thi
còn thấp.
V. Về công tác quản lý chất lượng sản phẩm
- Công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong ngành dệt may của Việt Nam

Khâu quản lý thiết bị, quản lý chất lượng làm chưa được tốt, do đó hiệu suất sử
dụng thiết bị mới đạt khoảng (75 - 80)%, chất lượng vải mộc còn nhiều khuyết
tật, chất lượng nhuộm - hoàn tất cũng gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ sản phẩm phục
vụ may xuất khẩu đạt thấp.

22

Trích đoạn hanh, hình ảnh Trung bình (2,8) V ề phương thức kinh doanh mặt hàng dệt may, có một số điểm đáng lưu ý như sau: Nghiên c ứ u phát tri ể n s ả n ph ẩm, trong đó đặ c bi ệ t là khâu thi ế t k ế m ẫ u mã v ẫn đang là khâu yếu quan trọng của ngành dệt may Việt Nam Vi ệc đầu tư nâng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status