Ứng xử của hộ nông dân đối với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện đô lương, tỉnh nghệ an - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** NINH XUÂN TRUNG ỨNG XỬ CỦA HỘ NÔNG DÂN ĐỐI VỚI RỦI RO
DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN HÙNG
HÀ NỘI, 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ
nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Tác giả

Ninh Xuân Trung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3



2.2 Cơ sở thực tiễn 35

2.2.1 Rủi ro trong nông nghiệp và chăn nuôi ở Việt Nam 35

2.2.2 Một số chủ trương, chính sách có liên quan đến chăn nuôi lợn
và giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam 37

PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 42

3.2 Phương pháp nghiên cứu 50

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 50

3.2.2 Phương pháp xứ lý số liệu, thông tin 52

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu, thông tin 52

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 55

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

4.1 Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện
Đô Lương 56

4.2.1.7 Nhận thức của hộ về phòng bệnh trong chăn nuôi lợn 86

4.2.2 Thái độ của người chăn nuôi với rủi ro trong chăn nuôi lợn 89

4.3 Ứng xử với rủi ro dịch bệnh của hộ 94

4.3.1 Ứng xử của hộ trong việc mua giống 94

4.3.2 Ứng xử của hộ trong sử dụng thức ăn chăn nuôi 97

4.3.3 Ứng xử của hộ khi có dịch bệnh xảy ra trong chăn nuôi 99

4.3.4 Ứng xử trong thực hành chăn nuôi của hộ 102

4.3.5 Ứng xử để ngăn chặn lây bệnh từ lợn sang người 103

4.4 Giải pháp nâng cao khả năng ứng xử của hộ nông dân và hạn
chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở huyện Đô Lương 105

4.4.1 Quan điểm đề xuất giải pháp 105

4.4.2 Các giải pháp 108

4.4.2.1 Tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật và nhận thức của người
chăn nuôi về thú y và kỹ thuật chăn nuôi 108

4.4.2.2 Quy hoạch vùng chăn nuôi 111

4.4.2.3 Phát triển và nâng cao chất lượng mạng lưới dịch vụ thú y
công và thú y tư nhân 114

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Đô Lương qua 3 năm,
2011 – 2013 45

Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Đô Lương qua 3 năm,
2011 – 2013 47

Bảng 3.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện năm 2013 49

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn huyện Đô Lương 56

Bảng 4.2 Các bệnh thường gặp và mức độ phổ biến thiệt hại trong chăn
nuôi lợn 58

Bảng 4.3 Thông tin chung về các hộ điều tra 59

Bảng 4.4 Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở Đô Lương 61

Bảng 4.5 Các loại bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn nái 62

Bảng 4.6 Các loại bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn con 63

Bảng 4.7 Các loại bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn choai 64

Bảng 4.8 Chi phí thú y trong chăn nuôi lợn của hộ 67

Bảng 4.9 Doanh thu và chi phí trong chăn nuôi lợn của hộ 69

Bảng 4.10 Tổng hợp hỗ trợ lợn bị dịch tai xanh ở huyện Đô Lương 70

Bảng 4.11 Tình hình sử dụng giống lợn trong chăn nuôi của hộ 72

Bảng 4.25 Tình hình thu nhập của hộ chăn nuôi lợn phân theo thái độ đối
với rủi ro 92

Bảng 4.26 Ứng xử của hộ trong việc mua giống lợn 94

Bảng 4.27 Ứng xử của hộ trong việc sử dụng giống lợn trong chăn nuôi 95

Bảng 4.28 Ứng xử của hộ trong việc chọn giống 96

Bảng 4.29 Ứng xử của hộ trong việc sử dụng thức ăn chăn nuôi 97

Bảng 4.30 Ứng xử của hộ khi lợn bị bệnh 99

Bảng 4.31 Ứng xử của hộ khi lợn bị chết 100

Bảng 4.32 Ứng xử của hộ khi trong xã có dịch 100

Bảng 4.33 Ứng xử phòng dịch trong chăn nuôi lợn ở Đô Lương 101

Bảng 4.34 Tình hình thực hiện gối lứa trong chăn nuôi lợn ở Đô Lương 102
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân tổ quy mô chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 51

Hình 2.2 Sự lựa chọn liên quan đến rủi ro 18

Hình 4.1 Chăn nuôi lợn ở cấp nông hộ nhỏ và vừa ở Đô Lương 73

Hộp 4.1 Ý kiến của thú y xã về con giống và dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page x

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQ Bình quân
CN Công nghiệp
DV Dịch vụ
ĐVT Đơn vị tính
KD Kinh doanh
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
SX Sản xuất
TM Thương mại
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

trường hợp nghiên cứu điển hình. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ
xem xét tác động và các biện pháp xử lý rủi ro do bệnh dịch chứ chưa đề cập đến
ứng xử của người chăn nuôi khi gặp phải rủi ro.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

Ở Việt Nam, nghiên cứu về ứng xử của hộ nông dân với rủi ro trong sản
xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn hạn chế. Hiện nay, mới
chỉ có một số nghiên cứu tập trung về phân tích rủi ro, nghiên cứu rủi ro để thực
hiện bảo hiểm nông nghiệp,… và có một số công ty, doanh nghiệp tham gia vào
bảo hiểm cho một số ngành nông nghiệp Việt Nam nhưng không thành công.
Hiện tại nhà nước có rất nhiều chính sách hỗ trợ người nông dân nuôi lợn như về
thú y, khuyến nông, vốn, kỹ thuật, giống, thị trường, tiêm vacxin phòng và chữa bệnh,…
Tuy nhiên những biện pháp này chỉ giảm được một phần rất nhỏ để chống lại rủi ro mà
người dân gặp phải, và nó thường mang tính khắc phục bị động hơn là chủ động hạn chế
ngay từ ban đầu, chứ chưa tập trung vào nâng cao năng lực và khả năng ứng phó của hộ
nhằm hạn chế tác động của rủi ro.
Đô Lương là một huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An. Đời sống người
dân ở đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính. Chăn nuôi lợn đang dần
trở thành ngành sản xuất chính và thu hút sự tham gia của đa số người dân địa
phương. Tuy tỷ lệ số hộ tham gia chăn nuôi lớn nhưng chăn nuôi lợn ở Đô Lương
vẫn còn khá nhiều hạn chế như: quy mô chăn nuôi nhỏ, chủ yếu là chăn nuôi tận
dụng,… Bên cạnh đó, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn tiềm ẩn rất nhiều
nguy cơ và rủi ro về dịch bệnh như: tai xanh, lở mồm long móng,… Trước tình
hình hiện nay thì ứng xử của hộ chăn nuôi lợn với các nguy cơ và rủi ro dịch bệnh
hiện tại như thế nào? Làm thế nào để nâng cao khả năng ứng phó của hộ với các rủi
ro dịch bệnh trong chăn nuôi?
Để trả lời các câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu chọn đề tài “Ứng
xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện
Đô Lương, tỉnh Nghệ An”.

Làm thế nào để nâng cao khả năng ứng phó của người chăn nuôi rủi ro dịch
bệnh?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động chăn nuôi lợn; rủi ro dịch bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn
và ứng xử của nông dân chăn nuôi lợn đối với rủi ro dịch bệnh, công tác quản lý rủi
ro của các hộ chăn nuôi;
- Các hộ nông dân chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh
Nghệ An.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến
chăn nuôi lợn, rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân và ứng xử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đô
Lương, tỉnh Nghệ An.
Bên cạnh đó, đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các hộ chăn nuôi quy
mô nhỏ và quy mô vừa, không tập trung vào các hộ chăn nuôi quy mô trang trại.
Các hộ chăn nuôi quy mô trang trại thường là các hộ chăn nuôi theo quy trình, chăn
nuôi chuồng kín và áp dụng các quy trình chăn nuôi khép kín nên việc ứng xử với
rủi ro dịch bệnh của các hộ là rất cao.
- Phạm vi về không gian: đề tài tiến hành trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh
Nghệ An
- Phạm vi về thời gian:
Số liệu thứ cấp về chăn nuôi, rủi ro, rủi ro dịch bệnh và hành vi ứng xử của
hộ nông dân chăn nuôi lợn được thu thập từ năm 2005 – 2012.
Số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra trong năm 2013.
Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2013 – 10/2014.


bán công nghiệp, hay tận dụng);
- Lựa chọn thay đổi nguồn cung cấp đầu vào;
- Quyết định thay đổi trong tiêu thụ sản phẩm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

2.1.2 Rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi
2.1.2.1 Rủi ro, nguy cơ và không chắc chắn
* Không chắc chắn
Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của người nông dân có rất
nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân như thiên tai,
giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật,…. Các sự kiện đó xảy ra với những
xác suất mà không biết trước được. Người ta gọi tình trạng đó là không chắc chắn
(Đoàn Thị Hồng Vân, 2002).
Theo TS. Bùi Thị Ga, không chắc chắn là các tình trạng không thể gắn xác
suất với việc xảy ra các sự kiện. Sự không chắc chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc
điểm môi trường kinh tế mà các nông hộ phải đương đầu. Sự không chắc chắn chỉ
được xem như là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác
và được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau:
- Sự không chắc chắn về sản lượng: nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn
là do gặp phải thiên tai. Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông
nghiệp mà khó có thể dự đoán được như bệnh dịch, lũ lụt, nắng hạn,… Thiên tai
cũng có thể được mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng của
đối tượng nuôi. Khả năng chống lại thiên tai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh
nghiệm, kiến thức, nguồn lực, sự hợp tác trong cộng đồng,… Điều này dẫn đến ảnh
hưởng của cùng một loại thiên tai đến các vùng khác nhau, hay ảnh hưởng đến các
hộ khác nhau cũng khác nhau. Mức độ ảnh hưởng này là một trong những nguyên
nhân gây nên sự khác biệt về sản lượng trong sản xuất.
- Sự không chắc chắn về giá cả: do chu kỳ của sản xuất nông nghiệp kéo dài
nên khi lựa chọn một loại cây trồng hoặc loại gia súc nào đó tại thời điểm ra quyết

cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắn chắn. Điều đó
cũng làm tăng thêm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội nông thôn.
* Rủi ro
Theo PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân cho đến nay chưa có một định nghĩa
thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau thì đưa ra
những định nghĩa về rủi ro khác nhau. Những định nghĩa về rủi ro rất đa dạng và
phong phú.Tuy nhiên có thể chia thành hai trường phái: Trường phái Truyền thống
(hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái Trung hòa.
 Trường phái truyền thống: Theo cách nghĩ truyền thống thì “rủi ro là
những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

khó khăn hay những vấn đề không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo
trường phái này có nhiều định nghĩa như:
− “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến” (Từ điển Tiếng
Việt, 1995)
− “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” (GS. Nguyễn Lân, Từ điển
Từ và ngữ Việt Nam, 1998)
− “Rủi ro là gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại…”(Từ điển Oxford)
− Một số từ điển khác đưa ra khái niệm tương tự như : “Rủi ro là sự bất trắc
gây ra mất mát , hư hại” hay “ rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó
khăn hoặc điều không chắc chắn”
− Trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “Rủi ro là sự tổn
thất về tài sản hoặc là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
− Hoặc “Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp”
 Trường phái trung hòa: Trường phái này có một số định nghĩa như sau:
− “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight)
− “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự xuất hiện những biến đổi

điều này có thể hiểu là do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực của sản
xuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro. Bên cạnh đó, do rủi ro xảy ra
nhiều lần trong đời sống của con người cho nên những bất trắc xảy ra thì có thể
đo lường được chúng.
* Phân biệt rủi ro và không chắc chắn
P.H.Callkin và cộng sự (1983) nói rằng F.H.Knight (1921) đã phân biệt
giữa rủi ro (risk) và không chắc chắn (Uncertainty). Theo Knight, rủi ro tồn tại khi
người sản xuất biết vùng kết quả (Outcome) có khả năng xảy ra và xác suất của
vùng kết quả đối với quyết định của người sản xuất. Ngược lại sự không chắc chắn
xảy ra khi các kết quả hoặc sự kiện (event) xảy ra và xác suất của chúng không
biết. Thông thường không chắc chắn bao gồm các sự cố thỉnh thoảng xảy ra như lũ
lụt cả một con sông hay cái chết của một con bò đực đánh giá,…
Còn R.D.Kay (1988) nói rằng, có nhiều tác giả phân biệt giữa rủi ro và
không chắc chắn, họ định nghĩa rủi ro là tình trạng mà ở đó tất cả các kết quả có
khả năng xảy ra và xác suất của nó là biết trước đối với người ra quyết định. Còn
không chắc chắn là tình trạng mà các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó
không biết trước khi quyết định quản lý. Với sự phân biệt này, phần lớn quyết định
trong nông nghiệp được phân biệt ra rủi ro và không chắc chắn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

J.B.Hardaker (1997) cho rằng rủi ro và không chắc chắn có thể định nghĩa
theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường đó là: rủi ro là sự
không hoàn hảo về kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc
chắn là kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó là không biết trước.
Sự phân biệt rủi ro và không chắc chắn không có ích nhiều đối với nhà quản
lý sản xuất nông nghiệp. Một tình trạng rủi ro thuần túy là rất hiếm thấy vì không
biết được xác suất thực. Do đó, mà một số tác giả cho rằng, người quản lý sản xuất
nông nghiệp luôn luôn phải quyết định trong môi trường không chắc chắn, hay nói
cách khác là mọi quyết định đều chứa đựng rủi ro. Cơ sở của những tranh luận này

hợp tổn thất xảy ra trong thời gian cụ thể. Mức độ nghiêm trọng được hiểu như là
giá trị tổn thất quy đổi thành tiền tính cho mỗi trường hợp xảy ra tổn thất (Nguyễn
Tiến Hùng, 2012).
Như vậy, có thể hiểu nguy cơ là những nguyên nhân có thể dẫn đến các
tổn thất; rủi ro là xác suất xảy ra các tổn thất. Nguy cơ và rủi ro không được
xem là hai thuật ngữ tương tự nhau mặc dù nguy cơ là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến rủi ro, mặc dù rủi ro liên quan đến khả năng xảy ra sự kiện và được
thể hiện thông qua xác suất, nhưng con số đó chưa thể hiện đầy đủ nguy cơ hàm
chứa trong các sự việc.
Sự phân biệt nguy cơ và rủi ro không có ý nghĩa nhiều trong sản xuất nông
nghiệp vì nguy cơ là một điều kiện làm gia tăng khả năng tổn thất. Không có nguy
cơ rủi ro vẫn tồn tại, có nguy cơ, khả năng rủi ro phát động cao hơn. Do đó, giảm
thiểu nguy cơ chỉ có thể làm giảm khả năng xảy ra biến cố chứ không làm giảm
mức độ rủi ro hay triệt tiêu rủi ro. Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển giúp ích
cho con người rất nhiều trong việc giảm thiểu nguy cơ bằng các biện pháp như: dự
báo tình hình sâu bệnh, dịch bệnh trong quá trình sản xuất, khi điều kiện ngoại cảnh
thay đổi,…
2.1.2.2 Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Rủi ro được coi như là đặc điểm nội tại của nông nghiệp và nông thôn Việt
Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu mang tính điển hình về rủi ro trong nông
nghiệp ở Việt Nam lại không có nhiều hoặc ít được công bố. Các thông tin về rủi ro
nông nghiệp phần lớn thường được tìm thấy trong các báo cáo điều tra hoặc báo
cáo phát triển của các tổ chức.
Cuộc điều tra nông thôn gần đây do IPSARD tiến hành (2007) cho thấy
trong 5 năm qua, có tới 47% hộ nông dân chịu thiệt hại do các loại rủi ro gây ra.
Trong đó chủ yếu phải kể đến rủi ro về người do ốm đau, bệnh tật (19%), dịch bệnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

vật nuôi, mất mùa (22,9%), thiên tai (10,1%)). Tuy nhiên các biện pháp chính thức

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

• Rủi ro giá cả hay rủi ro thị trường: xuất hiện do những thay đổi không
biết trước của thị trường đầu vào cũng như đầu ra trong nông nghiệp. Sản xuất
nông nghiệp thường có chu kỳ dài và không phải lúc nào cũng tạo ra lợi nhuận
ngay lập tức. Lấy ví dụ như ngành chăn nuôi, việc đầu tư cho thức ăn và các trang
thiết bị có thể diễn ra vài tháng cho tới vài năm trong khi giá cả đầu vào và đầu ra
là rất khó dự tính nên lợi nhuận của người chăn nuôi thường bị ảnh hưởng mạnh.
Bên cạnh đó, yếu tố thị trường bao gồm cả thị trường nội địa và quốc tế có liên
quan chặt với nhau nên lợi nhuận của người sản xuất nông nghiệp có thể bị ảnh
hưởng một cách đột ngột khi có các biến động lớn ở khu vực địa lý cách rất xa địa
điểm sản xuất.
• Rủi ro thể chế: là hệ quả của những thay đổi về chính sách và quy định
của nhà nước hoặc chính quyền địa phương gây ảnh hưởng đến nông nghiệp. Loại
rủi ro này thường diễn ra khi các quy định và chính sách mới ban hành gây ra các
rào cản và hạn chế cho sản xuất hoặc khiến giá cả đầu ra hoặc đầu vào thay đổi.
Chẳng hạn như các quy định của Chính phủ về sử dụng phân bón trong trồng trọt
hoặc các chất kích thích trong chăn nuôi có thể gây ảnh hưởng đến giá cả nông sản
đầu ra, hoặc chính sách hạn chế nhập khẩu của nước nào đó có thể gây phương hại
đến sản xuất nông nghiệp của nước xuất khẩu. Các hình thái khác của rủi ro thể chế
có thể được kể đến như các quy định về chất thải chăn nuôi, các ràng buộc trong
bảo tồn đất hoặc sự thay đổi về chính sách tín dụng và thuế thu nhập.
• Rủi ro về con người: đến từ các hành vi mang tính cá nhân hoặc do sức
khỏe bị ảnh hưởng bởi ốm đau, bệnh tật. Thêm vào đó, việc thay đổi mục tiêu sản
xuất của các cá nhân trong ngành nông nghiệp cũng được coi là một loại rủi ro gắn
với con người khi nó có các ảnh hưởng về lâu dài đối với toàn bộ ngành nông
nghiệp hoặc một lĩnh vực đặc thù nào đó trong ngành nông nghiệp. Các rủi ro về
mất mát tài sản do trộm cắp, cháy nổ, hoặc các thiệt hại về nhà cửa, vật nuôi gắn
với yếu tố quản lý và sử dụng của con người cũng được liệt kê vào nhóm rủi ro này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status