Nghiên cứu hành vi ứng xử của hộ nông dân đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã thanh vân, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào.
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2010
Sinh viên

Bùi Thị Ngọc Mai


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản thân là sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cũng như sự động viên
giúp đỡ của các tổ chức tập thể, gia đình, bạn bè.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Trường
ĐHNN Hà Nội nói chung, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn nói riêng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình
học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Thanh Cúc,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới UBND xã Thanh Vân đã tạo điều kiện
cho tôi nghiên cứu thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những
người thân đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và thực
hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế và bản thân còn ít kinh nghiệm nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự động viên, đóng góp ý
kiến của thầy cô, gia đình, bạn bè.

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2010

Trên địa bàn xã Thanh Vân trong những năm vừa qua đã xuất hiện 3
loại rủi ro chủ yếu đó là rủi ro do dịch bệnh, rủi ro do thị trường và rủi ro vật
chất. Trong đó rủi ro dịch bệnh là loại rủi ro tương đối phổ biến và gây thiệt
hại cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã. Rủi ro dịch bệnh xuất hiện ở cả ba
nhóm hộ quy mô lớn, quy mô trung bình, quy mô nhỏ. Tuy nhiên rủi ro dịch

ii


bệnh này gây thiệt hại lớn nhất cho hộ chăn nuôi quy mô lớn, xuất hiện ở
88,98% hộ quy mô lớn. Các hộ ở quy mô trung bình cũng phải đối mặt với rủi
ro do dịch bệnh mang lại, chiếm 85,71% tổng số hộ quy mô trung bình. Đối
với các hộ chăn nuôi ở quy mô nhỏ thì mục đích của họ chủ yếu là phục vụ
nhu cầu gia đình. Mức độ xuất hiện rủi ro ở nhóm hộ này cũng thấp.
Khi tìm hiểu về các hành vi ứng xử của các nhóm hộ đối với các loại
rủi ro trong chăn nuôi chúng tôi được biết:
* Đối với rủi ro do dịch bênh:
Hầu hết các nhóm hộ khi dịch bệnh xảy ra thì không mở rộng quy mô
mà có xu hướng thu hẹp quy mô. Cụ thể 60% số hộ quy mô nhỏ, 56% số hộ
quy mô trung bình và 53,33% số hộ quy mô lớn quyết định thu hẹp quy mô.
Ngoài quyết định thu hẹp quy mô thì phần đông các nhóm hộ quyết định dừng
nuôi khi có dịch bệnh. Với nhóm hộ quy mô lớn thì có đến 33,33% các hộ
quyết định dừng nuôi; 36% đối với các hộ quy mô trung bình và 40% đối với
các hộ quy mô nhỏ.
Qua đó cho thấy dịch bệnh thực sự là yếu tố tác động rõ nhất đến hộ
chăn nuôi. Bởi vì dịch bệnh xuất hiện khó đoán trước. Có nhiều hộ đã quyết
định dừng nuôi, chủ yếu là hộ nuôi ở quy mô nhỏ, chăn nuôi chỉ là ngành phụ,
tận dụng nguồn thức ăn.
Ngoài dịch bệnh, công tác thú y của xã còn kém, nhận thức của người
dân cũng chưa cao. Một số bệnh thông thường chủ yếu chữa bằng kinh

của nhà để lại mà không mua ngoài.
Nhìn chung, khi rủi ro xảy ra thì các hộ thường rơi vào thế bị động. Họ
chỉ sử dụng những biện pháp nhỏ để chống lại rủi ro nhưng hiệu quả đạt được
là không cao.
Hành vi ứng xử của hộ nông dân đối với rủi ro trong chăn nuôi chịu
ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đó là yếu tố con người, yếu tố vốn, yếu tố thị
trường.
Từ thực trạng rủi ro và hành vi ứng xử của hộ nông dân với rủi ro trong
chăn nuôi tại xã, chúng tôi đã đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu
nhằm tăng khả năng ứng xử một cách hiệu quả của hộ nông dân với rủi ro
iv


trong chăn nuôi đó là giải pháp về đào tạo, về thông tin, về vốn, về thú y và
phòng dịch bệnh.
Đồng thời, để thực hiện được giải pháp trên thì cần phải có sự kết hợp
giữa hộ nông dân và nhà nước. Do vậy chúng tôi đã đưa ra một số kiến nghị
nhằm nâng cao khả năng ứng xử một cách hiệu quả của hộ nông dân với rủi
ro trong chăn nuôi.

v


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG

vi


DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HỘP


5.

BQ

Bình quân

6.

CN – TTCN

7.



8.

ĐVT

Đơn vị tính

9.

Tr.đ

Triệu đồng

Trung bình
Bảo hiểm nông nghiệp


cấu sản xuất, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt
trong cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên Thanh Vân cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước
phải đối mặt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tình hình dịch bệnh khá phức
tạp, mang đến nhiều rủi ro cho các hộ chăn nuôi. Chẳng hạn như dịch Lở
1


mồm long móng ở trâu, bò, dịch tai xanh ở lợn, cúm A H 5N1 ở gà.... tạo nhiều
áp lực cho các hộ khi ra quyết định sản xuất.
Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra cho các nhà Khoa học và nhà quản lý là:
- Nông hộ đã và đang phải đối mặt với những rủi ro nào trong chăn
nuôi?
- Họ đã nhận diện các rủi ro đó ra sao?
- Nông hộ đã có hành vi ứng xử với mỗi loại rủi ro đó như thế nào?
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hành vi ứng xử của hộ nông dân đối với rủi ro trong
chăn nuôi tại xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở điều tra khảo sát, phân tích những hành vi ứng xử đối với
rủi ro của hộ nông dân trong chăn nuôi trên địa bàn xã. Từ đó đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng xử của các hộ nông dân với các rủi ro
trong chăn nuôi.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro và hành vi ứng xử với rủi
ro trong sản xuất nông nghiệp.
Tìm hiểu thực trạng rủi ro và các hành vi ứng xử của hộ nông dân với
rủi ro trong chăn nuôi trên địa bàn xã Thanh Vân.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng xử của các hộ

phú, nhưng tóm lại có thể chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền
thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hoà.
a) Theo trường phái tiêu cực:
Theo trường phái tiêu cực (cách nghĩ truyền thống) thì “rủi ro là những
thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể
xảy ra cho con người”. Rủi ro được định nghĩa như sau:
- “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ điển tiếng
Việt,1995).
- “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may ” (Từ và ngữ Việt Nam,
1998).
- “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại” (Từ
điển Oxfort).
- “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại ” hoặc “rủi ro là yếu tố
liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”.
- Trong lĩnh vực kinh doanh, Hồ Diệu định nghĩa “rủi ro là sự tổn thất
về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”.
- “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp”.
b) Theo trường phái trung hoà
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight).

4


- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến
cố không mong đợi” (Allan Willent).
- “Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng
xác suất” (Irving Preffer).
- “Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến”.

và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung.
Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường
phái truyền thống, bởi vì với hộ nông dân thì họ quan niệm rủi ro tức là sự
không may, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hộ. Hơn nữa với hộ nông dân
cũng không có những ghi chép liên tục về các sự kiện đã xảy ra nên khó có
thể tính được xác suất chính xác.
2.1.1.2 Không chắc chắn
Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của người nông dân có rất
nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây nên bất lợi đối với mỗi nông dân như
thiên tai, giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật… Các sự kiện đó xảy
ra với những xác suất mà không thể biết trước được.
Vì vậy, ta có thể hiểu sự không chắc chắn là các tình trạng không thể
gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện. Sự không chắc chắn đề cập theo ý
nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các hộ phải đương đầu.
Các dạng không chắc chắn đều được thể hiện bằng sự nghèo nàn tuyệt
đối của nhiều hộ nông dân, hậu quả của các sự không chắc chắn thường tạo ra
sự khác biệt giữa giàu có và đói nghèo. Sự không chắc chắn chỉ được xem
như là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và
được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau:
+ Sự không chắc chắn về sản lượng
Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai.
Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp mà khó có
thể dự đoán được như sâu bệnh, lũ lụt, nắng hạn… Thiên tai cũng có thể được
mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng cây trồng. Khả
năng chống lại thiên tai phụ thuộc nhiều vào khả năng tiền mặt, vật tư của hộ
nông dân, vì vậy khả năng này giữa các hộ nông dân sẽ khác nhau.
6


+ Sự không chắc chắn về giá cả


không chắc chắn đề cập đến tình trạng mất mát không thể gắn xác suất với
việc xảy ra các sự kiện, nó không còn là khách quan như ý nghĩa ban đầu mà
gắn với chủ quan của người ra quyết định. Có nghĩa là con người có thể tác
động để giảm bớt sự thua thiệt cho người sản xuất. Đó cũng là nguyên tắc cho
việc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan của
từng người.
Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả, mỗi kết quả có thể xảy ra với các khả
năng khác nhau. Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa là tần suất
trung bình xảy ra kết quả đó. Trong khi đó, không chắc chắn đề cập đến tình
trạng có nhiều kết quả có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả
năng sẽ xảy ra của từng kết quả. Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác
nhau ở việc có đánh giá được hay không khả năng (hay còn là xác suất) xảy ra
các kết quả khác nhau.
Sự phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn rất có ý nghĩa trong trường
hợp chúng ta không biết hết tất cả những biến cố sẽ xảy ra của một quyết
định, hoặc biết đến mức độ nào về sự rủi ro. Cần có sự phân biệt trên là để
giúp cho hộ nông dân định hướng được quyết định trong sản xuất, nếu hộ
nông dân định lượng được các rủi ro xảy ra sẽ giúp tránh được những mất mát
lớn, còn với những điều không chắc chắn thì hộ nông dân rất khó để có thể đo
lường và nhận dạng giúp cho việc ra quyết định.
2.1.2 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro của hộ nông dân
2.1.2.1 Nguyên nhân gây ra rủi ro
Nông dân là đối tượng trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp, cho
nên khi có bất cứ bất trắc nào xảy ra liên quan đến sản xuất nông nghiệp hay
đời sống thì họ đều chịu tổn thất lớn nhất và cũng chính do ngành nông
nghiệp có nguy cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi đặc thù của ngành gây nên. Từ
những điều này cộng thêm sự bấp bênh trong đời sống mà có nhiều nguyên
nhân gây ra rủi ro cho người nông dân.


hoạch định chặt chẽ về mặt xã hội sẽ dễ dẫn tới những hậu quả liên quan đến
vấn đề chính trị xã hội như tranh chấp, tình trạng nông dân không đất, nạn
9


thất nghiệp ở nông thôn nó tác động lớn đến tâm lý suy nghĩ của người nông
dân để có thể duy trì sinh kế.
+ Rủi ro về con người: Do ốm đau, bệnh tật, qua đời, ly hôn, mắc phải
các tệ nạn xã hội. Loại rủi ro này xảy ra làm cho đời sống của hộ nông dân đã
khó khăn lại càng khó khăn hơn do khả năng tài chính của các hộ nông dân rất
thấp. Ngoài những rủi ro chung của các hộ nông dân trên thế giới, hộ nông
dân Việt Nam còn gặp phải một số rủi ro sau.
+ Rủi ro do không có thị trường chắc chắn để tiêu thụ sản phẩm: Một
số nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhưng việc thực hiện và xử lý hợp
đồng không nghiêm minh làm cho người nông dân bị thua thiệt. Một số nông
sản hàng hoá đã được các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhưng khi có sản
phẩm thì họ không mua hoặc mua với giá rẻ.
+ Rủi ro do thiểu hiểu biết kỹ thuật và thiếu thông tin. Trong nông
nghiệp nếu làm sai mùa vụ, sai giống, sai kỹ thuật cũng dễ dẫn đến mất trắng.
+ Rủi ro do tuyên truyền, quảng cáo sai hoặc lừa đảo của một số cá
nhân (thông tin không hoàn hảo) nên nông dân dễ mua phải hàng giả và cả
dịch vụ giả.
Như vậy, rủi ro xảy ra trên địa bàn nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống và sản xuất của người nông dân. Tình trạng có nhiều rủi ro làm
cho nông dân không có động cơ đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đòi hỏi phải đầu
tư cao hoặc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến. Vì thế, việc nghiên cứu
và tìm ra các biện pháp phòng tránh và giảm bớt các tác hại của rủi ro sẽ có
các ảnh hưởng tích cực đến sản xuất và vấn đề nghèo đói ở nông thôn.
2.1.2.2 Đặc điểm rủi ro của nông dân
Nông dân gắn với khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt

và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soát
việc phòng ngừa và quản lý rủi ro là khó thực hiện.
+ Trong nông nghiệp có nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau, mỗi
loại thường gặp những rủi ro khác nhau. Thậm chí có những loại rủi ro mà
hậu quả của chúng mang tính chất thảm hoạ. Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến
tâm lý người sản xuất. Mặc dù có lao động, có đất đai nhưng muốn mở rộng
11


quy mô sản xuất, muốn đầu tư thâm canh, muốn sản xuất hàng hoá với quy
mô lớn, họ cũng không dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư. Bởi vì tài sản thế
chấp vốn vay không có, mà rủi ro lại luôn rình rập.
Trong điều kiện rủi ro cao, người nông dân thường giảm quy mô sản
xuất và do đó thu nhập của họ sẽ giảm. Lý do rất đơn giản là rủi ro cao sẽ đòi
hỏi sản xuất phải có lãi cao hơn trong trường hợp sản xuất không có rủi ro.
Trong trường hợp hiệu quả giảm dần theo quy mô như ngành nông nghiệp
điều này dẫn đến người nông dân phải giảm sản xuất để tăng sản phẩm cận
biên sao cho bằng với chi phí cận biên mà chi phí này cao hơn do rủi ro làm
tăng chi phí cơ hội của các nguồn lực (vốn, lao động).
Đối với nông dân ngoài rủi ro gặp phải trong sản xuất họ còn có thể gặp
rất nhiều rủi ro trong cuộc sống do điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn các tầng
lớp khác trong xã hội, cơ sở hạ tầng kém phát triển, môi trường sống không
vệ sinh… Những rủi ro về con người đã làm cho nông dân càng nhiều khó
khăn hơn và phát sinh thêm nhiều rủi ro khác. Mỗi loại rủi ro có những tác
động rất khác nhau đến kết quả, hiệu quả sản xuất và cuộc sống của hộ.
2.1.3 Phân loại rủi ro trong các hộ nông dân
* Phân theo lĩnh vực rủi ro
+ Rủi ro trong quá trình sản xuất: Là những rủi ro liên quan trực tiếp
đến quá trình sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.
+ Rủi ro ngoài sản xuất: Là những rủi ro liên quan đến cuộc sống của

việc ứng xử của hộ nông dân với những rủi ro xảy ra.
Theo từ điển Tiếng Việt (2000) ứng xử là có thái độ, hành động, có lời
nói thích hợp trong việc xử sự.
Theo từ điển tâm lý thì hai từ ứng xử và hành vi thường thay thế cho
nhau. Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của con người khi một yếu tố nào đó trong
môi trường kích thích các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành
một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp
chủ thể thích nghi với hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là
các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng

13


có thể quan sát được thì gọi là ứng xử. Còn khi nhấn mạnh mặt định hướng,
mục tiêu thì gọi là hành vi.
Lê Thị Bừng và Hải Vang (2000) cho rằng ứng xử là sự phản ứng của
con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống
cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà
chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán thể hiện qua thái độ,
hành vi, cử chỉ, tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiêm và nhân cách mỗi người
để nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất.
Trên đây là một số quan điểm về ứng xử của con người. Tuy nhiên, các
quan điểm đó thiên về cách ứng xử giữa con người với con người qua giao
tiếp. Còn các tác động bên ngoài đối với sản xuất và đời sống của nông hộ
như rủi ro thì họ cũng có những quyết định, lựa chọn tính toán qua hành vi
của mình để đạt kết quả mong đợi.
Theo Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến (2000) thì nếu có rủi ro xảy ra
với giả định giá cả là yếu tố cố định, khi đó hộ sẽ có quyết định như thu hẹp
sản xuất, hoặc sản xuất ở quy mô hợp lý, hoặc tối thiểu hoá sự thiệt hại. Giả
định nông hộ sử dụng một yếu tố đầu vào (X) để sản xuất, khi đó họ sẽ kỳ


d

E(TR)

i

e

0

TR2

X2

XE

X1

Đầu vào (X)

Hình 2.1: Các quyết định sản xuất trong điều kiện có rủi ro
Chú thích:
TR1: Tổng doanh thu của sản phẩm lúc được mùa
E(TR): Kỳ vọng doanh thu
TC: Tổng chi phí cố định
TR2: Tổng doanh thu của sản phẩm lúc mất mùa
+ Ở mức đầu vào X1, giả định nông hộ sản xuất gặp điều kiện thuận lợi,
họ thu được sản lượng cao coi như được mùa khi đó phần lãi thu được tương
ứng khoảng (ab), phần lỗ do rủi ro tương ứng khoảng (bj). Trong trường hợp

Loại ứng xử
Chịu rủi ro
Chống rủi ro
Trung tính

2.1.5 Biện pháp hạn chế rủi ro cho hộ nông dân
Đỗ Văn Viện (2000) đã đưa ra một số biện pháp để hạn chế rủi ro cho
nông dân nhằm mục tiêu tăng khả năng của nông dân chống lại rủi ro, tạo môi
trường bền vững cho hộ nông dân, tạo môi trường kinh tế xã hội thích hợp.
Một số biện pháp để hạn chế rủi ro cho nông hộ như đối với thiên tai thực
hiện hoàn thiện, kiên cố kênh mương tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới,
tiêu, giữ nước. Hoàn thiện giống cây, con có khả năng chịu hạn, chịu úng,
chống chọi tốt với điều kiện khắc nghiệt, dịch bệnh. Triển khai bảo hiểm nông
nghiệp trong nông hộ để từ đó đảm bảo cho người nông dân có thể sản xuất
một cách an toàn, đầu tư lớn vào phát triển nền nông nghiệp mang tính hàng
hoá, tạo nên một hệ thống đa dạng hoá về sản phẩm, và có thể giảm thiểu tối
đa những thiệt hại do rủi ro gây ra cho ngành này.
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi ứng xử của hộ nông dân
Thái độ ứng xử, khả năng ra quyết định và hành động của hộ nông dân
phù hợp hay không phù hợp mang lại hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố.
2.1.6.1 Điều kiện kinh tế của hộ
- Trình độ học vấn của chủ hộ: Trình độ văn hóa, trình độ khoa học của
chủ hộ ảnh hưởng tích cực đến khả năng ra quyết định đúng đắn và kịp thời
của chủ hộ. Chủ hộ có trình độ học vấn cao, có hiểu biết về khoa học kỹ thuật
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status