LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Người thực hiện khóa luận
Phan Thị Diệp
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp vừa qua, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cá nhân, tập thể để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu nhà trường, toàn thể
các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn chính sách
nông nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS.Nguyễn Thị
Minh Thu đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi
hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này.
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ Ban Phát triển nông thôn xã
Xuân Phương, Ban Nông nghiệp xã Xuân Phương, Ban Thống kê xã Xuân
Phương, UBND xã Xuân Phương, và nhân dân ba xóm 1, 5 và Bắc. Trong thời
gian tôi về thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu
thập những thông tin cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan. Khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
nông dân với bão. Tìm hiểu ứng xử và các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử hộ
nông dân với bão. Tìm hiểu kết quả và kinh nghiệm ứng xử với bão trong nước
và quốc tế để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.
iii
Trong quá trình thực hiện đề tài, các thông thứ cấp được thu thập qua tài
liệu, sách báo, trang web về các văn bản chính sách về bão, phòng chống và
khắc phục bão; đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu, các
báo cáo kinh tế xã hội của địa phương
Các thông tin sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn điều tra 60 hộ thuộc 3
xóm: xóm 1, xóm 5 và xóm Bắc. Các thông tin thu thập được tổng hợp và tính
toán bằng bảng tính Excel theo các mục tiêu nghiên cứu, đồng thời sử dụng một
số phương pháp thống kê so sánh, thống kê mô tả và một số phương pháp khác.
Kết quả nghiên cứu trên địa bàn xã Xuân Phương cho thấy, những thiệt
hại mà các hộ nông dân phải chịu là thiệt hại về người, thiệt hại về nhà cửa, thiệt
hại trồng trọt, thiệt hại về chăn nuôi…. Mức độ thiệt hại do bão đến những
nhóm hộ khác nhau là khác nhau, điểm chung là đều gây thiệt không nhỏ đến
mỗi hộ, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội. Hộ nông dân có nhiếu ứng
xử để phòng tránh và khắc phục bão. Hộ nông dân đã có ứng xử khá tốt trong
bảo vệ tính mạng và ứng xử trong quan hệ cộng đồng. Tuy nhiên, hộ nông dân
tại xã chưa ứng xử tốt trong bảo vệ sản xuất nông nghiệp và nhà cửa, tài sản.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử hộ nông dân tại xã bao gồm: trình độ, nhận
thức và hiểu biết của hộ đối với bão, đặc điểm địa lí, địa hình, điều kiện kinh tế
hộ, ngành nghề của hộ và đặc biệt là hỗ trợ của chính quyền địa phương.
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng xử hộ nông dân
với bão; thực trạng, thiệt hại bão gây ra đối hộ nông dân của xã; phân tích ứng
xử hộ nông dân xã Xuân Phương trước sự đe dọa của bão và phân tích một số yếu tố
ảnh hưởng, một số giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra đối với hộ
nông dân được đề xuất như sau: Nâng cao nhận thức hộ nông dân đối với bão. Tăng
cường khả năng ứng xử đối với bảo vệ tính mạng và tài sản. Tăng cường khả năng
ứng xử đối với bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Tăng khả năng ứng xử hộ nông dân đối
not found
Hộp 4.7 Lý do một số hộ nghèo không vay vốn đẩy nhanh sản xuất Error:
Reference source not found
Hộp 4.8 Kinh nghiệm hộ nông dân chống mất trắng lúa. .Error: Reference source
not found
Hộp 4.9 Đánh giá về sự hỗ trợ từ cộng đồng Error: Reference source not found
Hộp 4.10 Ý kiến của người tham gia giúp đỡ cộng đồng hỗ trợ và phòng tránh bão
Error: Reference source not found
Hộp 4.11 Lý do hộ thuần nông nhanh chóng khôi phục sản xuất 111
Hộp 4.12 Hỗ trợ chủ yếu của cán bộ khi có bão Error: Reference source not
found
viii
ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CC : Cơ cấu
SL : Số lượng
ĐVT : Đơn vị tính
BQ : Bình quân
UBND : Ủy ban nhân dân
GTTH : Giá trị thiệt hại
GTSXKD : Giá trị sản xuất kinh doanh
TĐPT : Tốc độ phát triển
TB : Trung bình
Tr.đ : Triệu đồng
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐP : Địa phương
STT : Số thứ tự
DT : Diện tích
x
PHẦN I: MỞ ĐẦU
tình trạng chặt phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép ngày càng gia tăng
Khi đối mặt với bão, người dân tại xã Xuân Phương có nhiều biện pháp
để ứng phó với bão để bảo vệ sinh mạng tài sản và sản xuất của mình. Tuy
nhiên, hiệu quả rất ít thậm chí không có hiệu quả. Nhận thấy điều cần thiết hiện
nay là tăng khả năng ứng phó của người dân với bão, nhất là với các hộ nông
dân. Bởi hiện nay, họ là những người chịu thiệt hại chính do bão gây ra. Đồng
thời, khi xảy ra bão, trước khi nhận được sự cứu trợ, họ cần phải biết cách tự
cứu mình trước. Việc nghiên cứu ứng xử hộ nông dân đối với bão là một công
việc cực kỳ quan trọng, góp phần bảo vệ đời sống bền vững cho người dân nói
chung và người nông dân nói riêng mỗi khi có bão.
Trước thực trạng đó, câu hỏi đặt ra cần nghiên cứu là:
- Tình hình bão diễn biến thế nào tại xã Xuân Phương ?
- Những ảnh hưởng của bão đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân
xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường?
- Nhận thức của các hộ nông dân về bão như thế nào?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến ứng xử của họ?
- Những giải pháp nào là phù hợp để giúp các hộ nông dân xã Xuân Phương
giảm thiệt hại trước sự đe dọa của bão ?
Chính vì vậy, việc tăng khả năng ứng xử với bão của người nông dân là một
vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách. Vừa đảm bảo được cuộc sống bền
vững của người dân vừa là cách để người dân và các đoàn thể, tố chức
hiểu được hiểm họa của thiên tai và cùng chung tay phòng chống bão, hạn chế
tối đa các tác hại do bão gây ra. Nhằm góp phần luận giải câu hỏi trên, tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu ứng xử của hộ nông dân đối với bão trên địa bàn xã
Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định”.
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng bão và ứng xử của hộ nông dân xã Xuân
Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định với bão; từ đó, đề ra các định
-Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 07/01/2014 đến ngày 23/05/2014.
-Phạm vi nghiên cứu thực trạng: năm 2011 – 2013.
4
PHẦN II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NÔNG DÂN VỚI BÃO
2.1 Cơ sở lý luận về ứng xử của hộ nông dân đối với bão
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Ứng xử
Ứng xử được hiểu là thái độ, hành động của các cá nhân trước một sự việc
cụ thể. Trong kinh tế học và tâm lý, đó được xem là phản ứng của con người đối
với các vấn đề xảy ra trong quá trình làm việc và sinh sống. Ứng xử đồng thời
cũng là một cách thích nghi của con người đối với những diễn biến ngoại cảnh.
Từ điển tiếng Việt (1995) do Hoàng Phê chủ biên, ứng xử được định
nghĩa là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự.
Trong Từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc Viện, 1991, tr.12), cho rằng: “Ứng
xử chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích
thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống, và
tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với
hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích
thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ
không như tình ý bên trong, thì nói là ứng xử”.
Hai tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang (1997) trong cuốn tâm lý học ứng xử đã
đưa ra khái niệm về ứng xử đó chính là sự phản ứng của con người đối với sự tác động
của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ
con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có
tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức,
kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp nhất định.
Từ những định nghĩa trên có thể hiểu: “ Ứng xử là phản ứng, hành động
của một cá nhân, một sự vật trước các yếu tố tác động cụ thể để giúp cá nhân,
sự vật thích nghi tốt trước những tác động đó” .
chóng ổn định cuộc sống sau bão.
2.1.1.3 Bão
Khái niệm
Bão là hệ thống xoáy mạnh đặc trưng bởi khí áp thấp tại tâm, gió mạnh, và hệ
mây phát triển mạnh bố trí theo hình xoắn đi kèm với dông và mưa lớn.
Bão là danh từ được dịch từ tiếng anh “typhoon”.
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết
cực trị. Còn gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới. Xoáy thuận nhiệt đới là một vùng
gió xoáy, có đường kính rộng tới hàng trăm km, hình thành trên vùng biển nhiệt
đới. Ở Bắc bán cầu, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim
đồng hồ. Tùy theo tốc độ mạnh nhất ở vùng gần tâm mà xoáy thuận nhiệt đới
được phân chia thành áp thấp nhiệt đới hay là bão.
- Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm xoáy thuận nhiệt đới đạt từ cấp 6 đến
cấp 7 (tức là 39 - 61 km/giờ) thì gọi là áp thấp nhiệt đới.
- Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm xoáy thuận nhiệt đới đạt từ cấp 8 trở
lên (tức là từ 62 km/giờ trở lên) thì gọi là bão.
Tóm lại, bão là một vùng gió to mưa ào ào, đường kính tầm vài trăm km.
Ban đầu bão là một vùng áp thấp với dòng khí xoáy vào tâm vùng áp thấp ngược chi
ều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu. Trong điều kiện thuận lợi vùng áp thấp này có thể
khơi
sâu thêm, gió vùng trung tâm mạnh lên trở thành áp thấp nhiệt đới và sau đó là bão.
Cấu trúc của bão:
- Mắt bão nằm ở giữa cơn bão có đường kính khoảng 30 - 60 km, là vùng
tương đối lặng gió, quang mây.
- Cường độ của bão là sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão, vùng gió
mạnh của bão có thể bao phủ rộng hàng vài trăm km
2
, càng ra xa vùng tâm bão
7
sức gió giảm dần. Vùng ảnh hưởng của bão được xác định là vùng có gió mạnh
2,0
- Cây nhỏ có lá bắt đầu lay động. Ảnh
hưởng đến lúa đang phơi màu.
- Biển động mạnh. Thuyền đánh cá bị chao
nghiêng, phải cuốn bớt buồm.
6
7
39-49
50-61
3,0
4,0
- Cây cối rung chuyển. Khó đi ngược gió.
- Biển động. Nguy hiểm đối với tàu
thuyền.
8
9
62-74
75-88
5,5
7,0
- Gió làm gãy cành cây, tốc mái nhà làm
thiệt hại về nhà cửa. Không thể đi ngược
gió.
- Biển động rất mạnh. Rất nguy hiểm đối
với tàu thuyền.
10
11
89-102
103-117
9,0
ảnh hưởng đến Trung Bộ và Nam Bộ.
Hậu quả của bão
Sau đây là những hiện tượng thời tiết bất lợi do bão gây ra:
Gió mạnh: Gió mạnh trong bão từ cấp 8 trở lên gây nguy hiểm tính mạng
con người. Gió mạnh bắt đầu khi tâm bão còn cách xa 100 đến 150 km. Gió
mạnh nhất thường xảy ra ở ngay phía tây bắc của thành mắt bão. Gió bão
thường suy giảm nhanh chính khoảng 12 giờ sau khi bão đổ bộ. Tuy nhiên gió
vẫn có thể giữ được trên cấp 12 cả khi bão đi sâu vào đất liền.
Mưa lũ: Mưa lớn và nước lũ được đẩy từ biển vào do gió mạnh có thể gây
nên lũ lụt lớn trong vòng 24 giờ. Khi đổ bộ, một cơn bão trung bình có thể gây
nên tổng lượng mưa khoảng 100 đến 300mm. Nếu cơn bão lớn và chuyển chậm
thì lượng mưa sẽ lớn hơn nhiều. Khu vực mưa lớn thường nằm ở phía Tây Bắc
của bão và thường xảy ra khoảng 6h trước đến 6h sau khi bão đổ bộ.
Nước dâng do bão: Nước dâng do bão là lượng nước bị đẩy vào bờ do
hoàn lưu gió mạnh của cơn bão. Ở nước ta, nước dâng lên do bão thường xảy ra
ở ven biển phía bắc. Nước dâng kết hợp thủy triều có thể làm mức nước đến hơn
5m. Nước dâng do bão có sức tàn phá hết sức nguy hiếm, đặc biệt là khi kết hợp
với triều cường khi bão đổ bộ. Dòng chảy gây ra bởi nước dâng do bão kết hợp
với tác động của sóng phá vỡ đê biển, làm sụt bờ biển và giao thông ven biển.
Dông và tố lốc: Thường xảy ra ở phần phái trước bên phải hướng di
chuyển của bão. Dông và tố lốc có thể xảy ra vài ngày sau bão, khi mà bão chỉ
còn là một vùng thấp có hoàn lưu xoáy thuận.
9
Bão mang theo những hiểm họa khôn lường như gió mạnh, mưa lũ, nước
dâng do bão, dông và tố lốc và gây thiệt hại lớn đến hộ nông nơi bão đi qua. Bão
tàn phá mùa màng, làm gãy cành cây, đổ cột điện, tốc mái nhà, Mức độ tàn
phá của bão không thể lường trước được. Hơn nữa, bão là quy luật tự nhiên, hộ
nông dân không thể né tránh mà buộc phải đối mặt với bão.
Trong đề tài này, tôi tiến hành nghiên cứu hậu quả trực tiếp của bão đến
hộ nông dân tại xã Xuân Phương. Để giảm thiểu thiệt hại bão, mỗi hộ nông dân
dân về bão cũng như ứng xử của hộ nông dân trong bảo vệ tài sản, tính mạng,
sản xuất và ứng xử trong quan hệ cộng đồng. Khai thác các yếu tố ảnh hưởng
đến ứng xử hộ nông dân với bão. Qua đó, tìm ra điểm mạnh điểm yếu trong ứng
xử hộ nông dân với bão cũng như tìm ra giải pháp giảm thiểu thiệt hại do bão
gây ra đối với hộ nông dân.
2.1.2 Vai trò của nghiên cứu ứng xử của hộ nông dân đối với bão
Mỗi năm trung bình Việt Nam hứng chịu 27 cơn bão. Mỗi cơn bão đi qua
đã gây thiệt hại nặng về người và tài sản của nhân dân các tỉnh, có hàng chục
người người chết và mất tích, hàng trăm ngôi nhà bị hỏng, sập, hàng ngàn hecta
lúa bị đổ Uớc tính thiệt hại do 1 cơn bãi gây ra có khi đến hàng trăm tỉ đồng.
Ngày 08-08- 2008, cơn bão số 4, mưa lớn, lũ quét đã gây ra thiệt hại khá nặng
nề đối với các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh. Tính đến ngày 17 -
8 đã có 145 người chết và mất tích, 75 người bị thương, 307 ngôi nhà bị sập trôi,
4.260 nhà bị ngập, 3.700 ha lúa, hoa mầu bị ngập, nhiều công trình giao thông bị
tàn pha nghiêm trọng Ước tính tổng thiệt hại ở các tỉnh bị lũ, lụt lần này
khoảng 2.000 tỷ đồng.
Cơn bão số 8 vào bờ biển miền Bắc đã gây thiệt hại nặng nề: Hàng ngàn
ngôi nhà dân bị tốc mái chỉ trong một đêm; hơn 5.500 cột điện đổ rạp; lúa, hoa
màu nát bét khắp nơi. Ít nhất đã có 42 người chết, bị thương và mất tích. Bão số
8 cũng đã làm hơn 2.000 ha lúa mùa cùng hàng nghìn ha hoa màu cây vụ đông
11
cũng bị ngập úng. Có khoảng hơn 2.000 ngôi nhà bị tốc mái và hàng trăm ngôi
nhà bị đổ.
Bão là một hiện tượng tự nhiên, khó kiểm soát, biến đổi khó lường nên
người dân không thể lẩn tránh mà phải đối mặt với nó. Mỗi cơn bão đi qua, để
lại cho Việt Nam hay quốc gia khác con số thiệt hại về người và của. Và trong
đó, hộ nông dân phải gánh chịu nhiều nhất thiệt hại do bão gây ra. Mỗi hộ nông
dân có ứng xử khác nhau để bảo vệ tài sản, tính mạng và sản xuất của hộ. Cách
ứng xử người dân vô cùng đa dạng, song chưa hẳn đồng nhất. Cách ứng xử khác
nhau dẫn đến thiệt hại khác nhau. Tuy nhiên, sự tàn phá và nguy hiểm của thời
quả và mang tính chất dài hạn đến mỗi hộ nông dân.
Giảm thiểu cho người già và trẻ em ra đường vào ngày mưa bão. Tích trữ
lượng thực, thực phẩm chủ yếu là gạo và hoa màu chuẩn bị cho những ngày mưa
bão kéo dài người dân không đi làm được.
Làm thêm gác để dự trữ lương thực tránh ngập úng gây ẩm mốc và hư hại
khi bị lụt do bão gây ra.
Di chuyển lương thực thực phẩm đến nhà cao, mái bằng, kiên cố. Đảm
bảo lương thực trong và sau bão đến khi người dân ổn định cuộc sống.
Trang bị các phương tiện chống chọi với bão, các trang thiết bị này rất
quan trọng cho người dân vùng bão. Vì bão đổ bộ vào thì gió rất to mưa rất lớn,
nước có thể dâng lên gây lụt và sạt lở đất xảy ra bất ngờ nên có áo phao sẽ giúp
người dân bảo về tính mạng của mình tốt hơn khi bị nước dâng lên. Các loại
thuyền bè có thể giúp người dân di chuyển kịp thời khi mưa quá lâu bị ngập lụt.
Biện pháp trang bị các phương tiện chống bão là rất quan trọng, do bão có thể
bất ngờ tốc mái, sập nhà hoặc nước dâng cao khiến người dân không kịp di dời.
Tạo lập mạng lưới và sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc di động.
Trong khi xảy ra bão, những vùng gần như bị cách li với bên ngoài, chỉ có thể đi lại
13
bằng xe tải. Tuy nhiên, điều này cũng rất nguy hiểm vì gió rất mạnh,mưa rất to.
Đồng thời, các phương tiện liên lạc cố định đều có khả năng bị gió làm đổ hoặc phá
hỏng. Đây là một cách hiệu quả để những người ngoài vùng bão có thể biết được
tình hình bên trong vùng bão. Từ đó, có những hỗ trợ hiệu quả như đưa lương thực,
thuốc men, đồng thời thực hiện công tác cứu hộ cứu nạn hiệu quả.
Thường xuyên cập nhật tình hình thời tiết tại địa phương cũng như tình
hình dịch bệnh để có biện pháp phòng tránh cho gia đình và mọi người xung
quanh. Vì khi có mưa bão thường xảy ra nhiều dịch bệnh ở cả người như tiêu
chảy,bệnh sởi, cúm hay ở động vật như cúm H7N9…
Tài sản
Tài sản là vật quan trọng thứ hai sau tính mạng của hộ nông dân. Phần lớn
tài sản hộ nông dân có tài sản chung là tài sản công cộng và tài sản riêng là tài
nông dân thu hoạch sớm nhất, đạt hiểu quả cao, tránh được các nguy cơ đổ và
ngập úng do bão.
Thay đổi cơ cấu giống, cây trồng, chọn giống ngắn ngày, cứng cây tốt.
Phù hợp với với tình hình của địa phương, với tình hình diễn biến phức tạp của
thời tiết mà ở đây cụ thể là mưa bão. Người dân phải biết gieo trồng các loại cây
ngắn ngày nhằm làm giảm thời gian thu hoạch, các cây thích hợp với địa
phương để đem lại năng suất cũng như giá trị kinh tế cao nhất.
Áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất đặc biệt là giai đoạn thu hoạch giáp với
mùa bão. Việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất và thu hoạch cũng góp phần
làm giảm thiệt hại do bão gây ra cũng như là tiết kiệm được lao động, thời gian
thu hoạch trong quá trình sản xuất.
Thường xuyên cập nhật thông tin về mưa bão. Khi có thông tin thời tiết sẽ
có bão thì cần bố trí thu hoạch sớm để tránh việc không thể thu hoạch được khi
bảo đổ bộ. Thông thường, lịch thời vụ đảm bảo người nông dân thu hoạch trước
mùa bão. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp khi trước mùa thu hoạch thì bão
xảy ra. Người dân thường dập lúa với nhau và đôi khi có thể tiến hành thu hoạch
cả khi quả xanh tránh bão làm giập nát, ngập úng dẫn đến thối.
15