Tục thờ thánh Tam Giang ở vùng ngã ba Xà ( Nghiên cứu trường hợp Làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

* * *

NGUYỄN THỊ THU TRANG
TỤC THỜ THÁNH TAM GIANG Ở VÙNG NGÃ BA XÀ

(Nghiên cứu trường hợp:
làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)
Chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Khóa: 2006 - 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Khóa: 2006 - 2009
Hà Nội - 2009 Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

1
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH MINH HỌA 4
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của Luận văn 6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 7
5. Cấu trúc của Luận văn 9

2.2.2.2. Miếu thờ Đạm Nƣơng 49
Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………………………… 51
Chƣơng 3. PHỤNG THỜ THÁNH TAM GIANG QUA LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC 55
3.1. Lễ hội truyền thống và tục thờ Thánh ở làng Đoài ………… …………… 56
3.1.1 Phần chuẩn bị lễ hội 56
3.1.2. Rƣớc nƣớc 57
3.1.3. Chính hội 57
3.2. Lễ hội truyền thống và tục thờ Thánh ở làng Mai Thƣợng ………… …… 61
3.2.1. Hội tung hoa 61
3.2.2. Hội bơi chải 65
3.3. Lễ hội và phong tục ở một số làng ven sông Cầu………………………… 71
3.3.1. Hội Kéo co làng Hữu Chấp…………… …………………………… 71
3.3.2. Hội vật cầu làng Vân………………………………………………… 75
3.3.3. Lễ tắm phỗng làng Châm Khê………………………………………….77
3.4. Một số thay đổi trong lễ hội và phong tục của cƣ dân vùng Ngã Ba Xà…. 80
Tiểu kết chƣơng 3………………………………………………………………… 88
Chƣơng 4. GIÁ TRỊ VĂN HÓA – LỊCH SỬ CỦA TỤC THỜ TTG ……………90
4.1. Giá trị văn hóa của tục thờ TTG………………….………………………… . 90
4.1.1. Vai trò của tục thờ TTG đối với đời sống cƣ dân……………………….90
4.1.2. Giá trị văn hoá, thẩm mỹ……………………………………………… 92
4.2. Giá trị lịch sử của tục thờ TTG………………………………………… …. . 95
4.3. Bảo tồn và phát huy tục thờ trong đời sống đƣơng đại. ……………………. . 97
Tiểu kết chƣơng 4……………………………………………………………… 101
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………… 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………… 106
DANH SÁCH NHỮNG NGƢỜI CUNG CẤP TƢ LIỆU………………… …… 110
PHỤ LỤC …………………………………………………………………… 113
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

4
DANH MỤC BẢNG, BIẾU, HÌNH MINH HỌA 1.
Biểu đồ 2.1.
Nguồn gốc ra đời TTG
Tr.34
2.
Bảng 2.1.
Quan niệm của ngƣời dân về TTG
Tr. 35
3.
Sơ đồ 2.1.
Sơ đồ mặt bằng tổng thể di tích đền Xà
Tr. 38
4.
Sơ đồ 2.2.
Sơ đồ bài trí tƣợng thờ và đồ thờ trong di tích
đền Xà
Tr. 40
5.
Sơ đồ 2.3.
Sơ đồ mặt bằng tổng thể di tích nghè Ngũ Giáp
Tr. 48
6.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Vào những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nƣớc, các sinh hoạt
tín ngƣỡng dân gian truyền thống đã đƣợc phục hồi và phát triển khá mạnh. Một
trong số đó phải kể đến sự xuất hiện trở lại của các loại hình tín ngưỡng như tín
ngưỡng Thờ Mẫu, nổi bật nhất là các hiện tƣợng đi cầu mẫu tại các đền, phủ. Tín
ngưỡng phồn thực biểu hiện rõ là các nghi thức phồn thực trong lễ hội truyền
thống ở một số làng nhƣ làng Vân Sa, làng Sơn Đồng (thuộc tỉnh Hà Tây cũ),
làng Quang Lang (Thái Bình). Tín ngưỡng thờ Tản Viên ở một số làng thuộc
vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ nhƣ làng Vân Gia (Hà Tây cũ), làng Ngọc
Khám (Bắc Ninh). Tín ngưỡng thờ Thánh Chử Đồng Tử đƣợc phát triển mạnh ở
các làng Đa Hoà (Hƣng Yên), làng Chử Xá (Hà Nội), làng Ô Mễ (Thái Bình)
Tuy nhiên, hiện tƣợng này đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho các cấp, các ngành
từ trung ƣơng đến địa phƣơng.
Có thể ghi nhận một thực tế rằng đã có nhiều ngƣời nghiên cứu về tín
ngƣỡng dân gian, về biến đổi văn hoá nhƣng chƣa có ai nghiên cứu sâu về hiện
tƣợng thờ TTG không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả sự nguyên dạng và biến
đổi của loại hình tín ngƣỡng dân gian này.
Ý tƣởng thực hiện đề tài này của tôi xuất hiện khá tình cờ. Trong thời gian
đƣợc tham gia vào dự án Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Phi vật thể các dân
tộc ở Việt Nam, và dự án “Xây dựng hồ sơ văn hoá Quan họ Bắc Ninh trình
UNESCO” (2005-2007), tôi đƣợc trực tiếp đi khảo sát 22 làng quan họ cổ và một
số làng ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Tôi nhận thấy hầu hết các làng có tục hát
quan họ đều gần sông Cầu hoặc nằm ở nhánh sông Cầu, và 80% các làng chúng
tôi khảo sát đều thờ Thánh Tam Giang. Hiện tƣợng thờ Thánh Tam Giang khá
dày đặc ở vùng ven sông Cầu. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Trần Quốc
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

6
Thịnh [30, tr.42] có tới 315 làng quanh vùng sông Cầu thờ thánh Tam Giang.

hóa tinh thần của cƣ dân Ngã Ba Xà.
- Tập hợp, hệ thống hoá những tài liệu thu đƣợc và kết quả nghiên cứu về
hiện tƣợng thờ Thánh Tam Giang từ trƣớc tới nay, đồng thời góp thêm tƣ liệu
cho những nghiên cứu tiếp theo về đề tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Vì Thánh Tam Giang đƣợc phụng thờ ở nhiều nơi khác nhau, với các nghi
thức, nghi lễ khác nhau
1
. Cho nên, Luận văn này chỉ khuôn lại trong phạm vi hai
làng khá tiêu biểu cho vấn đề này. Đó là làng Đoài (xã Tam Giang, huyện Yên
Phong, tỉnh Bắc Ninh) và làng Mai Thƣợng (xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh
Bắc Giang). Đây là hai ngôi làng đối diện nhau, một làng thuộc bờ bắc Ngã Ba
Xà, một làng thuộc bờ nam Ngã Ba Xà. Hai làng cùng thờ Thánh Tam Giang và
có nhiều nghi thức, nghi lễ liên quan mật thiết với nhau.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu đƣợc chúng tôi tập trung tìm hiểu trên các mặt:
từ truyền thuyết đến di tích, lễ hội và phong tục thờ cúng trong mối quan hệ với
môi trƣờng tự nhiên – kinh tế - xã hội đã sản sinh và nuôi dƣỡng nó. Chúng tôi
cũng đặc biệt chú trọng điều tra và trình bày tục thờ Thánh Tam Giang tiêu biểu
ở một số địa phƣơng, với mong muốn thấy đƣợc những nét chung cũng nhƣ sắc
thái địa phƣơng của tín ngƣỡng này. 1
Theo thống kê của chúng tôi (tham khảo phụ lục 1), hiện nay, chỉ riêng hai tỉnh Bắc
Ninh và Bắc Giang đã có 118 làng thờ TTG.
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

8
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Các nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn bao gồm:

chúng tôi sử dụng đối với diễn trình lễ hội và các cuộc họp liên quan đến lễ
hội diễn ra trong vùng. Với cả hai phƣơng pháp này, tôi đều ghi chép điền dã
dân tộc học chi tiết và tại chỗ. Thông qua quá trình tham dự của tôi vào sự
kiện lễ hội này – chia sẻ cùng với những chủ thể văn hóa khác những trải
nghiệm, sự mệt mỏi về thể chất trong lúc cùng đoàn đi rƣớc nƣớc cũng nhƣ
những niềm vui và phấn khởi về tinh thần – tôi đã cố gắng dấn thân, tham dự
để đạt đƣợc cái nhìn từ bên trong mà cố GS. Trần Quốc Vƣợng đã gợi ý.
* Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp phân tích, đối chiếu,
tổng hợp và so sánh để đạt hiệu quả tối ƣu trong nghiên cứu.
6. Cấu trúc của Luận văn
Luận văn gồm 2 phần: chính văn và phụ lục. Phần chính văn gồm 101 trang
với Mở đầu ( 5 trang), Kết luận (3 trang) và Tài liệu tham khảo ( 4 trang). Nội
dung Luận văn gồm (89 trang) chia thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (18
trang)
Chƣơng 2. QUẦN THỂ DI TÍCH THỜ THÁNH TAM GIANG (25 trang)
Chƣơng 3. PHỤNG THỜ THÁNH TAM GIANG QUA LỄ HỘI VÀ PHONG
TỤC (34 trang)
Chƣơng 4. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA TỤC THỜ THÁNH TAM
GIANG ( 12 trang)
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

10
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.
1.1.Quan niệm dân gian về tục thờ Thánh Tam Giang
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngƣỡng sùng bái tự nhiên là gì? Trƣớc hết ta phải đồng ý rằng đây là

thuộc loại đƣợc sùng bái hàng đầu. Thiên hƣớng này còn đƣợc đẩy các con vật
lên mức tạo thành hai biểu tƣợng Tiên- Rồng, trong đó, tiên đƣợc trừu tƣợng hóa
từ giống Chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng), còn Rồng đƣợc trừu tƣợng hóa từ
hai loài bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nƣớc Đông Nam Á [31,
tr71]. Nhƣ vậy, từ lâu, ngƣời Việt đã tin và sùng bái tín ngƣỡng tự nhiên, đặc
biệt là tín ngƣỡng thờ rắn.
1.1.2. Lịch sử hóa thần tự nhiên
Theo tƣ duy nguyên thủy, con ngƣời luôn tự coi mình là trung tâm của vũ
trụ. Con ngƣời tạo ra mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với
thế giới tự nhiên. Một trong những đặc điểm của tín ngƣỡng đa thần là con ngƣời
luôn biến những lực lƣợng trong thế giới tự nhiên thành con ngƣời. Việc “nhân
hóa” tất cả những lực lƣợng tự nhiên nhƣ thế là nhằm tăng thêm sự gần gũi, thân
thiết giữa thiên nhiên và con ngƣời. Ngoài ra, tƣ duy của ngƣời Việt Nam xƣa là
luôn muốn thiêng hóa các vị thần. Bằng tấm lòng yêu nƣớc, lòng tự hào dân tộc,
thái độ uống nƣớc nhớ nguồn, ngƣời dân các thế hệ đƣa nhiều nhân vật lịch sử,
văn hóa của đất nƣớc vào hệ thống các nhân vật đƣợc phụng thờ [2, tr 452].
Thực chất, đây là một quá trình sáng tạo folklore. Khi ngƣời dân kê khai thần
tích của vị thần làng mình, chính là lúc ngƣời dân bắt đầu quá trình sáng tạo này.
Để có đƣợc quá trình sáng tạo ấy, ngƣời dân đã huy động toàn bộ vốn liếng văn
hóa mà họ có… và lúc này, thần tích lại bắt đầu một đời sống của nó trong tâm
thức dân gian. Bởi những bản thần tích ấy đều viết bằng chữ Hán, mà đại đa số
cƣ dân Việt, thời quân chủ không phải ai cũng biết, cũng đọc đƣợc thứ chữ này.
Vả chăng, trong con mắt những ngƣời dân quê, bản thần tích ấy là vật báu nhà
vua ban cho vị Thánh của làng, thành thử nó chứa không ít chất linh thiêng, kì bí
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

12
nên đƣợc cất giữ cẩn thận. Ngƣời dân quê chỉ đƣợc nghe lại, kể lại từ các ông đồ
nho, các nhân vật đƣợc xã trao cho quyền cất giữ các thần tích. Việc truyền
miệng diễn ra, và đƣơng nhiên, quá trình sáng tạo folklore lại bắt đầu. Cứ nhƣ

Nghiên cứu về tín ngƣỡng Việt Nam, từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
nhƣ Dân tộc học, Sử học, Xã hội học Các tác phẩm của các nhà khoa học này
với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tƣ liệu khá phong phú. Về
đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm. Nhóm thứ
nhất là nghiên cứu về tín ngƣỡng dân dã và nhóm thứ hai là các công trình
nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa nói chung và tín ngƣỡng nói riêng.
Các công trình nghiên cứu về tín ngƣỡng dân gian nói chung và tục thờ
TTG nói riêng có từ rất sớm và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị nhƣ các
công trình: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên soạn năm 1479; Tiếp đó là
các cuốn: Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh- Kiều Phú, đƣợc soạn năm 1492;
Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh Dƣới cách tiếp cận sử
học và văn hoá dân gian, các nhà nghiên cứu đi trƣớc đã cung cấp những tƣ liệu
quý giá về truyền thuyết, thần tích cũng nhƣ một số tập tục, sinh hoạt văn hoá-
tín ngƣỡng dân gian của dân tộc.
Tình hình nghiên cứu tín ngƣỡng dân gian ở Việt Nam vẫn tiếp tục đƣợc
duy trì một cách khá đều đặn trong những năm tiếp theo. Nhƣng phải đến sau
1986 việc nghiên cứu này mới thực sự khởi sắc và có bƣớc phát triển rõ rệt khi
mà những bí ẩn của cõi tâm linh đƣợc chú ý nhiều. Từ những biểu hiện cụ thể
của nghi lễ, của phong tục, của lễ hội diễn ra thƣờng xuyên trong giai đoạn này,
các nhà khoa học đã cố công tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà
con ngƣời gửi gắm trong tín ngƣỡng để cho ra đời hàng loạt những công trình,
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

14
những bài viết giá trị về tín ngƣỡng dân gian nhƣ: Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc
Khánh, 1993), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1996), Từ
điển lễ tục Việt Nam (Bùi Xuân Mỹ, Bùi Thiết và Phạm Minh Thảo, 1996), Về
tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, 1996), Tiếp
cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San (1998); Từ cái nhìn văn

Broom 1954… chỉ ra sự biến đổi văn hoá trong bối cảnh những xã hội Phƣơng
tây và ngoài Phƣơng Tây, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của những xã hội có ƣu thế
đối với ngƣời dân bản địa [3]. … Nghiên cứu về Việt Nam trong sự biến đổi văn
hoá phải kể đến các công trình nhƣ: Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay
ở đồng bằng sông Hồng (Tô Duy hợp chủ biên, 2000); Làng ở vùng châu thổ
sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (Philippe Papin- Olivier Tessier chủ biên, 2002);
cuốn Cuộc cách mạng ở làng: truyền thống và biến đổi ở miền Bắc Việt Nam
(Lƣơng Văn Hy, 1992); Lƣơng Văn Hy đã tập trung nghiên cứu Việt Nam thời
kỳ sau đổi mới, và ông giành thời gian nghiên cứu viêc “Cải cách kinh tế và tăng
cƣờng nghi lễ tại hai làng ở miền Bắc Việt Nam” [3]. Trong cuốn Đối mặt tương
lai, hồi sinh quá khứ (John Kleinen; 2007) thì theo tác giả, sự cải cách kinh tế,
nâng cao đời sống của ngƣời nông dân đã là nguyên nhân quan trọng để các lễ
nghi đƣợc tăng cƣờng: các lễ nghi cũ đƣợc khôi phục, các lễ nghi mới đƣợc cập
nhật và sáng tạo… Tác giả cũng đề cập đến sự thay đổi lễ nghi kéo theo những
thay đổi không nhỏ trong đời sống cộng đồng làng: mâu thuẫn giữa các thế hệ,
ảnh hƣởng tới dƣ luận cộng đồng, sức ép cộng đồng và cả những quy định của
chính sách đối với việc thực hành lễ nghi.

3
Ý kiến này của Tạ Chí Đại Trƣờng ngƣợc với ý kiến của một số nhà nghiên cứu khác nhƣ Lê Viết Nga, Lê
Danh Khiêm (Xem chi tiết tại tr 382 cuốn Lễ hội Bắc Ninh)
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

16
Nhắc đến những nghiên cứu về thay đổi các nghi lễ, tín ngƣỡng không thể
không nhắc đến cuốn Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Đinh
Gia Khánh, 1993) Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê
Hồng Lý, 2008) và công trình nghiên cứu cấp Bộ: Biến đổi văn hoá ở một số
làng ở Bắc Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nguyễn Thị
Phƣơng Châm. Các tác giả đã cung cấp những cứ liệu, những dẫn chứng hữu ích

Ngã Ba Xà là ngã ba sông, nơi tiếp giáp giữa sông Cà Lồ và sông Cầu.
Sông Cầu đổ nƣớc ra Đu Đuổm ( Thái Nguyên) đến địa phận thuộc 3 tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang và Hà Nội thì đƣợc dòng sông Cà Lồ đổ vào hợp lƣu. Sông Cầu
ở ngã ba này có độ rộng trên dƣới 200m. Bờ sông bên lở, bên bồi, dòng nƣớc
chảy chầm tạo nên một khung cảnh bình yên của vùng quê thôn dã. Sông Cà Lô
chảy qua địa phận Sóc Sơn rồi đổ ra sông Cầu, lòng sông rộng khoảng 60m. Hai
dòng sông này hợp lƣu tại một điểm là Ngã Ba Xà, nƣớc đƣợc hòa vào nhau
nhƣng có điều thú vị là nƣớc của sông Cầu trong, xanh còn nƣớc của sông Cà Lồ
lại vẩn đục, tạo ra dòng nƣớc chảy bên trong bên đục. Vị trí đặc biệt mà Ngã Ba

4
có là: một tiếng gà gáy, ba tỉnh cùng nghe.
Để đánh dấu Ngã Ba Xà, ngƣời dân trong vùng đã trồng một cây gạo ngay
bên mép sông để khi đi xa, về gần, ngƣời ta nhìn thấy nó lại nhớ về cội nguồn.
Theo lời các cụ già trong làng kể: Ngã ba xà khi xƣa nằm ngay sát đền Xà, và
sông lúc đó rộng 2- 3km. Ngã Ba Xà đƣợc ngƣời dân trong vùng ghi nhớ nhƣ
một địa danh gắn liền mật thiết với di tích đền Xà. Nơi đây cũng đƣợc nhắc đến
mỗi khi ngƣời dân nói về bài thơ Thần của Lý Thƣờng Kiệt. Mặc dù trải qua
hàng ngàn năm, nơi đây có sự biển đổi khá lớn, ngã ba sông đƣợc đẩy lùi ra xa
cách đền xã khoảng 1,4km. Quá trình biến đổi đó đến nay vẫn còn dấu tích để

4
Xem hình minh hoạ tại phụ lục 2.
Nguyn Th Thu Trang - Lun vn Thc s Lch s - 2009

18
li, ú l quy lut bi t Phự Lam Sn; ngha l bờn phớa trc n X l bi
t, cũn bờn b bc thuc a phn xó Mai ỡnh, Bc Giang l bờn l.
Hin nay, b nam Ngó Ba X, tc bờn bi t l a phn xó Tam Giang,
trong ú lng oi l mt lng c nm ngay ven sụng Cu. a bn dõn c ging

19
õy cũn l i bn c ng thun li cho phỏt trin kinh t v giao lu vn hoỏ.
Trong chin tranh, Ngó Ba X l a bn trng yu, l v trớ u cu m mi bờn
tham chin u mun ginh v gi.
1.3.2. c im t nhiờn
V a th ca 3 vựng ny cú s khỏc bit rừ rt: Súc Sn v Bc Giang
cú a th tng i bng. ven sụng, c tng t ca hai vựng cng tng i
bng nhau, u l t thú , cú ni cao ti 6m, phớa trờn b mt cú mt lp t
tht sõu khong 40cm, khụng cú phự sa bi t. ng thi cng chớnh l hai bờn
l. a th t ca bờn n X Bc Ninh thỡ hon ton ngc li, c tng t
hon ton khỏc do c bi p ca phự sa sụng, lp trờn cựng cú dy phự sa
l 40cm, phớa di l tng t tht pha cỏt cú sõu khong 3,2m. õy chớnh l
vựng cú a hỡnh thp. Ton b khu vc t n X tr ra Ngó Ba X hin nay
u do quỏ trỡnh bi p phự sa m ra.
Do a th, a hỡnh v c tng t ca ba vựng khỏc nhau nh vy nờn
cõy trng õy cng cú s khỏc nhau. Phớa bờn a phn Bc Ninh v Bc Giang
ch yu l trng lc, dõu, lỳa. Phớa a phn Súc Sn, c dõn trng tre chn súng
v nh c lp p, lp lng ngay cnh hai b sụng ny. Hin nay, Ngó Ba X cú
3 bn ũ trờn a phn ca 3 a phng: Bc Ninh, Bc Giang v Súc Sn. õy
cng l nột c ỏo m ch cú Ngó ba X mi cú.
Bờn b Nam Ngó Ba X l a phn lng oi, xó Tam Giang. Tng din
tớch t nhiờn ca xó hin nay l 864,8 ha, trong s ú cú 520ha l t nụng
nghip, 30,44 ha t mt nc, s cũn li l t th c v t chuyờn dng. Tam
Giang cng l a bn tng i thun li, cú v th tim nng phỏt trin kinh

trận tuyến dài mà chúng đánh thành từng khối ở những vị trí xung yếu nhất là những bến đò,
những con đ-ờng thuận lợi tiến về Thăng Long. Một bộ phận quan trọng quân Tống do phó
t-ớng Triệu Tiết chỉ huy đóng ở bờ bắc bến đò Nh- Nguyệt vùng thôn Mai Th-ợng, xã Mai
Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Hà Bắc [22. Tr.158]
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

21
1.4. Tình hình dân cƣ và kinh tế- văn hóa- xã hội vùng Ngã Ba Xà
1.4.1.Tình hình dân cư và kinh tế- văn hóa- xã hội làng Đoài, xã Tam Giang
Nằm trong vùng cửa sông, nơi hợp lƣu của hai dòng sông cổ là Sông Cà
Lồ và sông Nguyệt Đức (sông Cầu), Tam Giang là vùng đất đƣợc thiên nhiên ƣu
đãi, thuận lợi giao thông thuỷ, bộ. Từ thời đại Hùng Vƣơng dựng nƣớc, các
nhóm cƣ dân Việt cổ đã sinh sống tại vùng đất Yên Phong, lập nên nhiều xóm
làng xung quanh vùng chân núi Thất Diệu, vùng ven sông Nhƣ Nguyệt (sông
Cầu), sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ. Theo các cứ liệu lịch sử, họ là những
bộ tộc, bộ lạc thuộc bộ Vũ Ninh, quốc gia Văn Lang. Thời thuộc Hán, vùng đất
Yên Phong nằm trong huyện Long Biên, quận Giao Chỉ. Trong suốt chiều dài
lịch sử, Tam Giang là một địa bàn có vị trí quan trọng trong chiến lƣợc phòng
thủ quốc gia, chống lại các đạo quân xâm lƣợc phƣơng Bắc. Đây là nơi quan yếu
trên phòng tuyến sông Nhƣ Nguyệt thời Lý, Trần.
Địa bàn Tam Giang còn đóng vai trò là một trung tâm kinh tế - chính trị
quan trọng thời phong kiến Việt Nam. Theo các nguồn sử liệu cổ sử từ thời Trần
– Lê, trải qua mấy trăm năm, xã Hƣơng La (Tam Giang) đƣợc chọn là nơi đóng
trụ sở của huyện Yên Phong, đến năm Gia Long thứ nhất (1802) trị sở của huyện
Yên Phong mới chuyển về Đông Yên (xã Đông Phong).
Đối với cƣ dân nông nghiệp nói chung và cƣ dân của xã Tam Giang nói
riêng, đất trồng trọt là yếu tố quan trọng nhất trong đời sống kinh tế. Tổng diện
tích đất canh tác của xã có 520 ha, chủ yếu là diện tích đất ruộng hai vụ, chất
lƣợng đất đồng ruộng theo đánh giá của ngƣời dân trong vùng thuộc loại
“thƣợng đẳng điền”, “bờ xôi ruộng mật” rất thuận lợi trong việc canh tác lúa
nƣớc. Thôn Đoài là khu vực nằm ngoài đê nên phần lớn diện tích canh tác chịu
ảnh hƣởng trực tiếp của thời tiết, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thƣờng xuyên bị
ngập úng, lũ lụt trong mùa mƣa. Trƣớc đây, đất thôn Đoài chỉ canh tác một vụ
Nguyễn Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử - 2009

22


23
những lợi ích từ phúc lợi xã hội. Chất lƣợng dân cƣ cũng ngày càng đƣợc nâng
cao tỉ lệ thuận với sự phát triển về kinh tế.
Đời sống văn hoá -xã hội
Là một khu vực đồng bằng nằm trong vùng văn hoá của ngƣời Việt cổ, các
cộng đồng dân cƣ ở Tam Giang hội đủ những yếu tố văn hoá của những ngôi
làng cổ vùng đồng bằng Bắc bộ châu thổ sông Hồng. Đối với mỗi ngƣời dân, quê
hƣơng, bản quán có ý nghĩa đặc biệt. Nó không chỉ là nơi sinh thành, nuôi dƣỡng
mà còn là nơi nguồn cội, dòng tộc phát tích, là nơi họ mong muốn đƣợc gửi thân
khi hết số, về cõi vĩnh hằng
Trong quan hệ xã hội, ngƣời dân thƣờng cố kết với nhau dƣới danh nghĩa
“làng”. “Ngƣời làng” là đối tƣợng rất quan trọng, đặc biệt là đối với những
ngƣời ly hƣơng, khi ấy, “ngƣời làng” là những mắt xích để kết nối chuỗi văn hoá
đã thấm đẫm vào mỗi con ngƣời từ khi sinh ra. Đó cũng chính là những mắt lƣới
trong mạng lƣới xã hội của mỗi thành viên trong cộng đồng. Sự đối đãi giữa các
thành viên trong cộng đồng làng bị chi phối bởi nhiều yếu tố nhƣ tính cố kết
trong quan niệm xã hội, giá trị đạo đức truyền thống, những ràng buộc về dòng
tộc hay mạng lƣới thân tộc… khiến cho quan hệ này bền chặt hơn.
Hẹp hơn mối quan hệ “làng” là quan hệ “dòng họ”. Dòng họ là tập hợp
những ngƣời có quan hệ huyết thống với nhau. Nếu nhƣ quan hệ “làng” có tổ
chức chính quyền, có các chức sắc cai quản thì dòng họ cũng vậy, nó cũng có
ngƣời cầm đầu và những quy định, chế tài riêng cho các thành viên trực thuộc.
Mỗi dòng họ ở Tam Giang đều đƣợc tổ chức thành một tập hợp cố kết mà biểu
tƣợng chung nhất là ngôi nhà thờ họ. Có thể kể đến một số dòng họ nhƣ họ Ngô,
họ Chu ở làng Vọng Nguyệt, họ Lê Hữu, Lê Duy ở làng Đoài, họ Lê Đắc, Lê
Danh, Lê Duy ở làng Đông… Tổ chức dòng họ ở Tam Giang tƣơng đối chặt chẽ,

Trích đoạn Hội Kộo co làng Hữu Chấp Hội vật cầu làng Võn Một số thay đổi trong lễ hội và phong tục của cƣ dõn vựng Ngó Ba Xà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status