LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân
chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và sự
vận dụng trong đổi mới tổ chức, hoạt
động của Hội đồng nhân dân các cấp ở
Nghệ An hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói
chung và Hội đồng nhân dân (HĐND) nói riêng gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo
việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
Một số vấn đề liên quan đến đề tài như: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới hệ
thống chính trị; cải cách bộ máy nhà nước; Nhà nước pháp quyền đã được các nhà nghiên
cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Nguyễn Anh Tuấn (Chủ biên), Nguyễn Xuân Tế - Bùi Ngọc Sơn, Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2003.
Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Kỷ yếu Hội thảo: Nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 1993.
- Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Kỷ yếu Hội thảo: Các nội
dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, Nhà nước thực sự của dân, do
dân, vì dân, Hà Nội, 1997.
- Lê Minh Thông (Chủ biên), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001.
- Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (đồng Chủ biên), Cải cách hành
chính địa phương lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Bùi Xuân Đức, Bàn về tính chất của Hội đồng nhân dân trong
điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 12/2003.
- Nguyễn Thị Hồi, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở nước ta hiện nay,
Tạp chí Luật học, 1/2004.
- Nguyễn Hoàng Anh, Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 3/2003.
- Chu Đức Thành, Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan đại diện ở nước ta
hiện nay, Luận án phó tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
1996
Nhìn chung, những công trình trên đã đề cập tới tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước hoặc tổ chức và hoạt động của HĐND. Song, chưa có đề tài nào nghiên cứu về bản
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và kế thừa quan niệm của các nhà nghiên cứu có liên
quan đến đề tài này.
- Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích và
tổng hợp kết hợp với phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, điều tra xã hội học.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN.
- Qua phân tích thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của
Nhà nước XHCN trong tổ chức, hoạt động của HĐND để khẳng định: HĐND - thiết chế
thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ở địa phương.
- Từ thực trạng tổ chức, hoạt động của HĐND ở Nghệ An, tác giả đề xuất một số
giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND bảo đảm phát huy bản chất
dân chủ của Nhà nước XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thực hiện thành công mục đích và nhiệm vụ nói trên, đề tài sẽ góp phần nhận
thức sâu hơn về bản chất của Nhà nước XHCN nói chung và HĐND nói riêng từ một
cách tiếp cận mới, từ đó có những quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động của
HĐND để nó thật sự trở thành một thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước tại
địa phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về
nhà nước, pháp luật và cho những ai quan tâm tới việc nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí
Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 2 chương, 4 tiết.
Nói "dân là chủ" là để khẳng định vị thế, tư cách xã hội của người dân. Tuy
nhiên, cần có sự phân biệt giữa tư cách "là chủ" của dân với trạng thái "dân làm chủ" trên
thực tế. Trong tư duy và trong hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến sự
khác biệt, đến khoảng cách giữa tư cách "dân là chủ" với trạng thái "dân làm chủ". Bởi
vì, trong lịch sử đã có nhiều cứ liệu chứng minh sự khác biệt về chất này, đó là làm chủ
trên thực tế và làm chủ trên danh nghĩa. Từ "dân là chủ" đến "dân làm chủ" là cả một
bước nhảy vọt về chất đầy khó khăn. Hồ Chí Minh đã có lần nói đến một thực tế như là
một điều trăn trở khôn nguôi: Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng
quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm.
ở đây, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu yêu cầu: Làm sao cho nhân dân biết hưởng
quyền dân chủ. Đây là nguyên tắc thuộc bản chất của Nhà nước và thực chất của chế độ xã
hội mới: "Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì" [40, tr. 56]. Điều đáng chú ý ở đây là Hồ Chí Minh thường dùng từ "hưởng" để
chỉ một nội dung rất cơ bản của quyền dân chủ. Khi nói đến việc "nhân dân hưởng hạnh
phúc tự do, ăn no, mặc ấm " thì "hưởng" ở đây hoàn toàn không bao hàm nghĩa như là một
thứ ân huệ do được ban tặng, mà đó là thành quả đấu tranh của nhân dân. Trong suốt cuộc
đời đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, Người không ngừng giác ngộ cho dân chúng nhận
thức về tư tưởng tự lực cánh sinh, "việc ta ta phải gắng lo ", "công nông mình cứu lấy
mình", "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta ". Đây chính là điểm mấu chốt để phân biệt
"dân là chủ" và "dân làm chủ".
Để "dân làm chủ" phải có những điều kiện, mà điều kiện tiên quyết có tính tiền
đề là cuộc đấu tranh kiên dũng của nhân dân vì độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản.
Giành được chính quyền, nhân dân giành lại được quyền là người chủ xã hội và
cả quyền làm chủ xã hội, nhưng từ địa vị "là chủ" đến "quyền làm chủ" và làm chủ trên
thực tế, cần phải có những điều kiện chặt chẽ kèm theo. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng
giành chính quyền, làm chủ chính quyền, xây dựng xã hội là sự nghiệp của toàn dân, của
chính nhân dân, không ai làm thay được. Nhưng để tham gia cuộc đấu tranh và trong quá
trình đấu tranh đó nhân dân phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết lại thành sức mạnh:
cách làm này của Người: Trong bài báo đăng trên Báo Cứu quốc phát động phong trào luyện
tập thể dục trong những năm tháng đầu của chính quyền nhân dân, Người đã chỉ ra ý nghĩa
chính trị, dân chủ to lớn của việc luyện tập thể dục vốn là một việc làm thông thường của
mỗi người. Người xem đây là bổn phận của mỗi một người yêu nước, "giữ gìn dân chủ, xây
dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần phải có sức khỏe mới làm thành công.
Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe" [40, tr. 24]. Trong Chương trình
hành động của Chính phủ lâm thời với 6 nhiệm vụ cấp bách được trình bày tại phiên họp
Chính phủ ngày 3-9-1945, có 2 nhiệm vụ được Người đặt lên hàng đầu là chống nạn đói,
nạn dốt. Những nhiệm vụ này trực tiếp hoặc gián tiếp đều có tác dụng bồi dưỡng sức dân,
nâng cao dân trí, nuôi dưỡng dân khí, khơi dậy ở mỗi người dân và ở tất cả các tầng lớp
nhân dân ý thức, tinh thần làm chủ nước nhà, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ
quốc vừa giành được quyền độc lập, tự do.
Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của
mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước
nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Chúng ta học tập
chính là để có đủ năng lực làm chủ, đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới Bởi
vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn
phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm
chủ của mình [40, tr. 36].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân làm chủ không chỉ để hưởng quyền dân chủ,
dù đó là hưởng thành quả do chính mình tạo nên, mà còn để "biết dùng quyền dân chủ,
dám nói, dám làm", điều đó thể hiện một thái độ chủ động, tích cực, xây dựng và sáng tạo
từ phía người dân. Cách dùng từ "biết" đặt bên cạnh "hưởng quyền dân chủ" và "dùng
quyền dân chủ" thể hiện một đòi hỏi cao về năng lực "làm chủ', đó là trình độ "dân trí"
của nhân dân. Chỉ khi người dân hiểu được "quyền dân chủ" của mình thì khi đó họ mới
"dám nói, dám làm".
- Đi đến dân chủ thực sự
[41, tr. 244].
Tóm lại, với quan niệm: Dân chủ là "dân là chủ"; "dân làm chủ" cùng với "thực
hành dân chủ" Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tới vị thế (là chủ) và hành động (làm chủ) của
người dân - người chủ xã hội trong mối quan hệ với nhà nước của dân, do dân và vì dân.
1.1.2. Bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí
Minh
Nhà nước dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một Nhà nước dân chủ kiểu
mới, Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Trong tư tưởng của Người, bản chất dân
chủ của Nhà nước kiểu mới có nội dung rất rộng và thể hiện cả trong tổ chức và hoạt
động của Nhà nước. Bước đầu nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi có thể khái quát thành
những nội dung cơ bản sau đây.
1.1.2.1. Nhà nước dân chủ là tổ chức chính trị của nhân dân do nhân dân tổ
chức ra
Với quan điểm: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ"
[42, tr. 515], Hồ Chí Minh đã khẳng định việc nhân dân làm chủ nhà nước bằng con
đường tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Hồ Chí Minh nhận
thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách
mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân.
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài,
có đức để gánh vác việc nước nhà. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc
nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là người công dân thì đều có quyền đi bầu cử…
Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ.
Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của nhân dân [40, tr. 133].
Thông qua việc bầu Quốc hội và HĐND, nhân dân thực hiện quyền lực của mình
bằng hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp, xây dựng nên một nhà nước hợp pháp theo
ý nguyện của toàn dân.
Theo Hồ Chí Minh: "Chế độ tuyển cử chúng ta thực hiện dân chủ, đồng thời thực
được áp dụng nghiêm ngặt trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (6-1-1946).
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I mặc dầu được tiến hành trong một điều kiện hết
sức khó khăn, nhưng đã được đánh giá là diễn ra đúng với tinh thần dân chủ mà Hồ Chí
Minh đã khởi xướng. Điều đó được thể hiện ở chỗ: tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao, bao gồm
mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc (chiếm trên 90% danh sách cử tri), số lượng ứng cử
viên nhiều, tạo ra khả năng lựa chọn cho người dân. Trong thực tế, "tại kỳ bầu cử Quốc
hội khóa I, ở Hà Đông có 14 đại biểu Quốc hội thì có 97 vị ra ứng cử, ở Nam Định có 15
đại biểu thì có 70 vị ra ứng cử" [2, tr. 49].
Về độ tuổi đại biểu, có thể thấy, Quốc hội khóa I là một Quốc hội có độ tuổi
trung bình rất trẻ, thể hiện sức sống của một dân tộc đang vươn lên sau giành được tự do,
độc lập: Đại biểu từ 18 đến 25 tuổi chiếm 7%; đại biểu từ 26 đến 40 tuổi chiếm 70%; đại
biểu từ 41 đến 50 tuổi chiếm 18%; đại biểu từ 51 đến 70 tuổi chiếm 5%.
Về yếu tố chính trị, Quốc hội khóa I có nhiều tổ chức chính trị, Đảng phái tham gia:
Đảng viên mác-xít có 10 đại biểu; đảng viên xã hội 27 đại biểu; Đồng minh hội có 22 đại
biểu; Việt Nam quốc dân Đảng có 26 đại biểu. Đại biểu độc lập gồm: Chống phát xít (tiến
bộ) có 82 đại biểu và xu hướng quốc gia bảo thủ có 90 đại biểu [25, tr. 81-82, 102].
Về chất lượng đại biểu, Quốc hội khóa I đã phần nào đáp ứng được tư tưởng chỉ
đạo có tính nguyên tắc mà Hồ Chí Minh đã đề ra, đó là: "Có đủ chất xám trong bộ máy
chính quyền thì mới tăng được sức bật, sức bền của khối xi măng cốt sắt đại đoàn kết toàn
dân và xây dựng tổ quốc" [39, tr. 206]. Kết quả thành phần xã hội của đại biểu Quốc hội
khóa I đã minh chứng cho điều đó: Tri thức chiếm 61%; công kỹ nghệ chiếm 6%; buôn
bán chiếm 5%; thợ thuyền chiếm 6%; nông dân chiếm 22% [25, tr. 81-82; 102].
Một đặc điểm không lặp lại của Quốc hội khóa I là: Vừa có bầu, lại có cử. Ngoài
333 đại biểu bầu được trong ngày 06/01/1946, trong điều kiện vận nước hiểm nghèo,
ngàn cân treo sợi tóc, để đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh đề nghị giành 70 ghế Quốc hội
cho Việt Nam quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt
Cách) nhằm cô lập, phân hóa các lực lượng chống đối và lôi kéo cả những người trong bộ
cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nước" [45, tr.
590].
Xét từ góc độ thực thi quyền lực, việc bảo đảm cho nhân dân tham gia quản lý
các công việc nhà nước là một hình thức thực hiện dân chủ đặc thù, thể hiện bản chất tiến
bộ của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Trong các tác phẩm của mình, tuy Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập đến các
phạm trù, khái niệm dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp, nhưng điều đó hoàn toàn không
có nghĩa là Người không có sự quan tâm đến các phạm trù rất cơ bản này. Người thường
đề cập đến những phương thức phổ biến thực hành dân chủ như: "Đưa mọi vấn đề cho
dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết….Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với
dân chúng, giải thích cho dân chúng" [41, tr. 297].
Hồ Chí Minh nói nhiều đến yêu cầu nâng cao tinh thần trách nhiệm công dân,
làm chủ từ phía người dân và việc từ bỏ các tệ quan liêu, hách dịch, xem thường, khinh
miệt quần chúng, vô tâm, tắc trách trước các nhu cầu của nhân dân từ phía các cơ quan,
nhân viên nhà nước. Người lưu ý rằng: "Có người thường cho dân là dốt không biết gì,
mình là thông thái, tài giỏi. Vì vậy, không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc
với dân chúng. Đó là một sai lầm nguy hiểm lắm…" [41, tr. 295]. Đồng thời, Người nhắc
nhở: "Chúng ta tuyệt đối không theo đuôi quần chúng" [41, tr. 298].
Dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều từng
lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp
chừng chừng, có lớp lạc hậu. Vì vậy, không phải dân chúng nói gì, ta cũng nhắm
mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình
so sánh… Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại,
để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.
Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và
lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân
chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó và lúc đó đưa ra
Phải nói rằng, được sự giáo dục, chăm lo thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí
Minh mà bản thân Người là một mẫu mực nêu gương sáng về mối quan hệ giữa nhà nước
với nhân viên nhà nước và nhân dân, dù trong điều kiện ác liệt của chiến tranh kéo dài và
chính quyền non trẻ, một loại quan hệ "cá với nước" đã trở thành một truyền thống tốt
đẹp trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, điều mà ngày nay trở thành như
một điểm sáng để chúng ta noi theo và thực hiện.
1.1.2.3. Nhà nước dân chủ là Nhà nước trong đó nhân dân có quyền bãi miễn
những người không xứng đáng trong bộ máy nhà nước
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể hiện
ở việc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp mà còn ở quyền bãi miễn họ, kiểm soát, giám
sát hoạt động của các đại biểu.
Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã đề cao một giá trị có
ý nghĩa toàn nhân loại của cách mạng Mỹ 1776: "Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do,
quyền giữ tính mệnh của mình, phải làm ăn cho sung sướng… Chính phủ nào có hại cho
dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác" [37,
tr. 270].
Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh nhắc lại nguyên tắc này nhưng với
tinh thần mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ kiểu mới của nhân dân, do nhân
dân làm chủ: "Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ" [41, tr. 60].
Cơ chế bãi miễn dân chủ này nhằm làm cho Quốc hội bảo đảm được sự trong
sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhân dân có quyền
bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra
không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân đối với Nhà nước" [45, tr. 591].
Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng, đây là nội dung làm chủ rất khó khăn nhưng
thể hiện rất rõ tư cách là chủ nhà nước và năng lực thực hành dân chủ của quần chúng lao
động.
Với vai trò làm chủ nhà nước, thực hiện sự ủy quyền của nhân dân, các đại biểu
Nét độc đáo của Hồ Chí Minh là ở chỗ quan niệm nghĩa vụ công dân không chỉ
trên tinh thần luật pháp, mà còn cả trên bình diện đạo đức, nhân cách công dân. Người
chỉ rõ: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có
quyền làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công
dân" [43, tr. 542].
ý thức làm chủ, thực hiện nghĩa vụ làm chủ phải trở thành hành động tự giác,
thấm sâu vào mỗi người, trong từng công việc cụ thể, hàng ngày Hồ Chí Minh lưu ý
rằng:
Đã là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo
việc nhà. Người công nhân phải yêu quý máy móc như yêu quý con mình,
người nông dân yêu quý trâu bò của hợp tác xã như bản thân của mình. Mọi
người phải biết giữ gìn của công, phải chăm lo việc tập thể như chăm lo việc
gia đình.
Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo trong gánh vác, không ỷ lại,
không ngồi chờ. Mọi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước
nhà. Chớ nên "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau" [46, tr. 310].
1.1.2.4. Nhà nước dân chủ là nhà nước thực hiện nguyên tắc công khai, lắng
nghe ý kiến của nhân dân
Thực hiện nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến nhân dân trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước kiểu mới là một trong những nội dung cơ bản nhằm dân chủ
hóa tổ chức hoạt động của Nhà nước, bảo đảm nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì
dân. Thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động của bộ máy nhà nước phải công
khai để dân biết. Đồng thời trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách,
pháp luật, kế hoạch, các quyết định của cơ quan nhà nước phải lắng nghe, tiếp thu và
giải quyết ý kiến, nguyện vọng và những nhận xét, đánh giá của quần chúng nhân dân.
Thực hiện công khai hóa tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước là bảo
đảm cho nhân dân lao động có điều kiện hiểu biết, nhận thức và phân tích các hoạt động
phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban làng hiện
đông và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm
gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị,
đương trị và sẽ trị cho kỳ hết [40, tr. 158].
Hồ Chí Minh nhiều lần phê phán cán bộ, đảng viên không chấp hành pháp luật
của Nhà nước, làm gương xấu cho quần chúng. Việc lợi dụng quyền thế vi phạm pháp
luật cũng được Người chỉ ra:
Có cán bộ đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm
những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích và vật chất
cũng như quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử lý kịp
thời… như vậy là kỷ luật chưa nghiêm [45, tr. 207].
Đối với Hồ Chí Minh, việc thưởng phạt phải nghiêm minh, bởi vì:
Cán bộ ta nhiều người tận tụy, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với
Chính phủ, với Quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan
cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. thậm chí dùng
phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể… trong
một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng
chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công [40, tr. 163].
1.1.2.5. Nhà nước dân chủ là Nhà nước trong đó nhân dân có quyền kiểm tra,
giám sát, nhận xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công
chức nhà nước
Không chỉ xác định từ làm chủ, là chủ của nhân dân đối với Nhà nước, Hồ Chí
Minh còn giải thích rất cụ thể mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân trong nhiệm vụ
phục vụ nhân dân: "Chính phủ cộng hòa dân chủ là gì? là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch
toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không
phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ hại đến dân thì dân có quyền đuổi Chính
phủ" [41, tr. 60].
phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó [43, tr. 368].
Sự giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình của nhân dân đối với chính quyền là
phương thức trực tiếp và tốt nhất nhằm làm cho hoạt động của chính quyền nhân dân
ngày một hiệu quả hơn. Một mặt, các yếu tố này sẽ làm cho Nhà nước mau chóng nắm
bắt được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân trên các lĩnh vực, thúc đẩy nhanh chóng các
hoạt động kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của Nhà nước đúng theo hướng phục vụ
lợi ích nhân dân; mặt khác, dưới tác động thường xuyên của vai trò và trách nhiệm của
nhân dân sẽ làm cho Nhà nước tránh khỏi quá trình quan liêu hóa, điều chỉnh xu hướng
xa rời dân của Nhà nước, làm gia tăng bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ tầm quan trọng của vấn đề nhân dân có
nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật và làm đúng chính sách của Chính phủ để
Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó. Sự tác động tương hỗ này làm gia
tăng bản chất dân chủ của Nhà nước trong thực tiễn, đồng thời tăng cường trách nhiệm
chính trị là chủ và làm chủ của nhân dân, ngăn ngừa việc xem nhẹ luật pháp và coi
thường cơ quan đại diện quyền lực của dân.
Cũng cần thấy rõ rằng, phương thức đó chỉ được duy trì khi chính quyền tỏ rõ
năng lực của mình trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân, trong xây dựng và
phát triển nền dân chủ của đất nước. Ngược lại, khi "nhân dân có quyền đôn đốc và phê
bình Chính phủ" [43, tr. 368] nhưng lại không giúp đỡ, không đôn đốc, không kiểm soát,
không phê bình là lúc trong xã hội xuất hiện thái độ thờ ơ chính trị hoặc không thừa nhận
trên thực tế người đại diện lợi ích của mình nữa, thậm chí còn đối lập, thì vấn đề tồn tại
của chính quyền đã được quyết định.
Chính mối quan hệ đặc biệt giữa chính quyền với nhân dân được xác định rõ ràng
như vậy đã làm rõ bản chất dân chủ của Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân dân
có quyền bầu ra đại biểu của mình, đồng thời cũng có quyền bãi miễn những đại biểu đó -
đây là biểu hiện quyền lực tối cao của nhân dân. Quyền lực đó được khẳng định trong
thực tiễn, làm cho cơ quan đại diện ở nước ta xứng đáng là cơ quan đại diện cho quyền
hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống
của nhân dân phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới,
phải chăm lo cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân.
Nói tóm lại, hết thảy mọi việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân phải được chú ý [40, tr. 47].
Như vậy, chức năng đối nội cơ bản của Nhà nước dân chủ là hướng nhân dân tổ
chức tốt đời sống, tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, phân phối cho công bằng,
"không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên", từng bước cải thiện đời sống vật chất, văn
hóa tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu cần thiết hàng ngày. Theo Hồ Chí
Minh:
Chúng ta tranh được độc lập tự do rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì
tự do cũng chẳng làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà
dân được ăn no, mặc đủ.
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1. Làm cho dân có ăn
2. Làm cho dân có mặc
3. Làm cho dân có chỗ ở
4. Làm cho dân có học hành
Cái mục đích mà chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta
xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do độc lập [40, tr. 152].