BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ðÀM VĂN TÙNG TÌM HIỂU MỨC PHÂN BÓN VÀ MẬT ðỘ TRỒNG CHO
GIỐNG NGÔ NẾP LAI MỚI 601 TRONG ðIỀU KIỆN CANH
TÁC NHỜ NƯỚC TRỜI TẠI YÊN ðỊNH, THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ VĂN LIẾT
HÀ NỘI, 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi thông tin, tài liệu
trích dẫn trong luận văn ñã ñược ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn ðàm Văn Tùng
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành luận văn thạc sĩ nông nghiệp, trong quá trình học tập và
nghiên cứu, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ rất
nhiệt tình của tập thể, cá nhân, gia ñình và người thân.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:
PHẦN I. MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2. Mục ñích yêu cầu 3
1.2.1. Mục ñích nghiên cứu 3
1.2.2. Yêu cầu 3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 5
2.2 Nghiên cứu chọn tạo giống ngô nếp 6
2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón ñến năng suất ngô 8
2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón ñạm ñến năng suất ngô 8
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lân ñến năng suất ngô 13
2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón kali ñến năng suất ngô 16
2.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phối hợp khác nhau ñến
năng suất ngô. 17
4.2.2. Sinh trưởng phát triển của giống ngô 601 ở các mức bón ðạm khác
nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 32
4.2.3 Một số ñặc ñiểm nông sinh học của giống Ngô nếp lai 601 ở các
mức bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 34
4.2.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh và ñổ, gãy của giống Ngô nếp lai 601 ở
các mức bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 36
4.2.5 Một số tính trạng về chất lượng của giống Ngô nếp lai 601 ở các mức
bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 38
4.2.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô NL 601 ở các mức
bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 39
4.3 Ảnh hưởng của mật ñộ và phân bón ñến sinh trưởng, phát triển, chống
chịu và năng suất của giống ngô nếp lai 601 trong ñiều kiện canh tác nhờ
nước trời tại Yên ðịnh vụ xuân năm 2013 41
4.3.1 Ảnh hưởng của mật ñộ và phân bón ñến các giai ñoạn sinh trưởng
của giống ngô nếp lai 601 42
4.3.2 Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến ñộng thái tăng trưởng
chiều cao cây của giống ngô nếp lai 601 43
4.3.3 Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến ñộng thái ra lá của
giống ngô nếp lai 601 46
4.3.4 Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến chiều cao thân, chiều
cao ñóng bắp, ñường kính thân của giống NL 601 48
4.3.5 Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến khả năng chống ñổ,
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ 1990 – 2010 4
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ 1990 ñến 2010 5
Bảng 4.1. Diễn biến khí hậu, thời tiết vụ ðông năm 2012 và vụ Xuân năm
2013 tại huyện Yên ðịnh 27
Bảng 4.2. Các giai ñoạn sinh trưởng của giống ngô nếp lai 601 ở các mức
bón ñạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 29
Bảng 4.3. §éng th¸i tăng trưởng chiều cao cây, số lá của giốngngô nếp lai
601 ở các mức bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ
nước trời 33
Bảng 4.4. Một số ñặc ñiểm nông sinh học của giống ngô nếp lai 601 ở các
mức bón ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 36
Bảng 4.5. Khả năng chống chịu của giống Ngô nếp lai 601 ở các mức bón
ðạm khác nhau trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời 37
Bảng 4.15. Ảnh hưởng mức phân bón và mật ñộ ñến chất lượng của 60
Bảng 4.16. Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến hiệu quả kinh tế
của giống ngô NL 601 61
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
viii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1. ðồ thị ñộng tái tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô nếp lai 601 33
Hình 2. ðồ thị ñộng tái tăng trưởng số lá của giống ngô nếp lai 601 34
Hình 3. ðồ thị ảnh hưởng của múc bón ñạm ñến NSLT và NSTT của giống
ngô nếp lai 601 40
Hình 4. Ảnh hưởng của của mật ñộ và mức phân bón ñến ñộng thái tăng
trưởng chiều cao cây của giống ngô nếp lai 601 45
Hình 5. Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến ñộng thái ra lá của
giống ngô nếp lai 601 48
Hình 6. Ảnh hưởng của mật ñộ và mức phân bón ñến năng suất của giống
ngô NL 601 57
2
O. Một giống ngô có thể ñạt năng suất tối ña, phát huy tiềm năng của giống cần
nghiên cứu lượng phân bón, tỷ lệ phân, kỹ thuật và thời kỳ bón phù hợp (Jéan du
Plessis, 2003). J.G. Davis và D.G. Westfall của ðại học Colorado, Hoa Kỳ (2009)
báo cáo ñạm là yếu tố dinh dưỡng hạn chế ñến năng suất ngô, bón ñạm với tỷ lệ
thích hợp cho năng suất cao, giảm nitrate, không làm giảm chất hữu cơ và vi lượng
trong ñất. Các nhà khoa học nghiên cứu khuyến cáo tỷ lệ phân bón phù hợp cho sản
xuất ngô.
Ảnh hưởng quan trọng của phân bón ñến năng suất và chất lượng của ngô ñã
ñược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Amany và cộng sự (2006) nghiên
cứu cho thấy phân bón có ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng ngô, ñặc biệt là
ngô lai ñơn. R.O. Onasanya và cộng sự (2009) nghiên cứu cho thấy phân bón có ảnh
hưởng ñến năng suất ngô trên các loại ñất khác nhau, tỷ lệ và lượng bón yêu cầu
khác nhau cần có nghiên cứu ñể xác ñịnh tỷ lệ và lượng bón phù hợp. Nghiên cứu
của các tác giả cũng khẳng ñịnh vai trò của phân ñạm và lân trong tăng sinh trưởng
và năng suất hạt của ngô. Nunes và cộng sự (1996) báo cáo năng suất sinh vật học
ngô tăng khi phân bón ñạm tăng, Sanjeev và cộng sự (1997) ; Fedotkin và
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
Kravtsov (2001) báo cáo năng suất ngô tăng lên ở mức có ý nghĩa khi tăng bón ñạm
240 kg/ha tăng chiều cao cây, tích lũy chất khô, số hạt/bắp, khối lượng 1000 hạt.
Theo kết quả khảo sát của Cục Trồng Trọt – Bộ Nông Nghiệp và phát triển
nông thôn cho biết hiệu suất sử dụng phân bón ở Việt Nam hiện nay mới chỉ ñạt
khoảng 40 – 45% ñối với ñạm, lân từ 40 – 45% và kali từ 40 – 50%. Như vậy còn
khoảng 55 – 60% lượng ñạm, 55 – 60% lượng lân và 50 – 60% lượng kali không
ñược sử dụng. Trong ñó một phần nằm lại trong ñất, một phần bị rửa trôi theo nước,
phần còn lại bị bốc hơi gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.
Ở Việt Nam, Ngô Hữu Tình, 1997 cho rằng ngô của Việt Nam ñược trồng
chủ yếu ở miền núi, và ñất bãi nơi thường xuyên gặp bất thuận hạn. ðể giảm ảnh
+ Tìm hiểu mức phân bón và mật ñộ trồng cho giống ngô nếp lai 601 cho
năng suất cao, chất lượng và chống chịu tốt trong ñiều kiện canh tác nhờ nước trời
tại huyện Yên ðịnh, Thanh Hóa.
+ Khuyến nghị mật ñộ trồng và mức phân bón thích hợp trong ñiều kiện
canh tác nhờ nước trời tại Yên ðịnh, Thanh Hóa.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Một trong những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thành công rực rỡ nhất ở thế
kỷ 20 là ngô lai. Nghề trồng ngô trên thế giới vào những năm cuối thế kỷ 20 ñã có
những bước tiến nhảy vọt nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ thuật
nông học tiên tiến và những thành tựu to lớn của công nghệ sinh học, công nghệ bảo
quản và chế biến, công nghệ tin học,… góp phần giải quyết nhu cầu lương thực và
protein ñộng vật cho con người trên thế giới (Viện nghiên cứu ngô tại hội nghị tổng
kết 5 năm phát triển ngô lai, 1996 - 2000, lần 2) [22] .
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ 1990 – 2010
Năm
Diện tích thu hoạch
(Triệu ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
8,9 triệu tấn (Báo NN&PTNT, 2000).
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Cây ngô ñược ñưa vào trồng ở Việt Nam cách ñây khoảng 300 năm và ñược
coi là cây màu chính, thích ứng rộng, chịu thâm canh cao, là loại cây ñứng ñầu về
năng suất trong các cây lương thực ( Trần Văn Minh ; 2004) [23].
Theo thống kê của FAO năm 2003 diện tích trồng ngô của các nước ðông
Nam Á là 480.580 nghìn ha, ở vùng này nhức quốc gia có tốc ñộ tăng sản lượng
hằng năm cao nhất là Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam, tốc ñộ hằng năm
trên 10% (Việt Nam 11,1%). Năng suất ngô trên thế giới tăng từ 3,62 tấn/ha năm
1993 lên 4,47 tấn/ha năm 2003 tốc ñộ tăng bình quân/năm là 1,7% trong ñó năng
suất ngô Việt Nam hằng năm là 5,3% (Bộ NN&PTNT, 2007; Tạp chí Viện ngô,
1999) [24]
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ 1990 ñến 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1990
431,80 1,55 671,0
2000
730,20 2,74 2.005,9
2010
1.126,39 4,09 4.606,8
(Nguồn: FAOSAT – 2012)
Trong vòng 20 năm từ 1990 ñến 2010 thì diện tích trồng ngô của Việt Nam
tăng 694,59 nghìn ha gấp khoảng 2,6 lần; Năng suất ngô tăng 2,54 tấn/ha gấp
các giống do Việt Nam tự sản xuất và cung ứng. Năng suất hạt khô có thể ñạt từ 30
– 45 tạ/ha, trái tươi từ 7 – 8 tấn/ha; khả năng chống chịu (hạn, chua phèn, ñổ) khá, ít
nhiễm sâu bệnh.
Thu thập, ñánh giá và bảo tồn giống ngô nếp ñịa phương các tỉnh miền núi
Tây Bắc ñã ñược các nhà khoa học Trường ðại học Nông nghiệp I thực hiện từ năm
2000 ñến 2005. Kết quả ñiều tra thu thập các giống ngô ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc của Vũ Văn Liết và cộng sự ñã thu thập ñược 20 giống ngô trong ñó có 13 mầu
giống ngô là ngô nếp, cho thấy nguồn gen cây lúa, ngô ở huyện ðiện Biên nói riêng
và vùng miền núi phía Bắc Việt Nam nói chung là rất ña dạng và phong phú. Vì vậy
chúng ta cần thiết phải tiến hành thu thập, bảo tồn, phân loại và ñánh giá chúng ñể
phục vụ cho công tác chọn tạo giống mới, ñặc biệt là chọn tạo các giống phục vụ
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7
cho việc canh tác nhờ nước trời ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam (Vũ Văn Liết và
cs, 2003) [28].
Duy trì bảo tồn những giống ngô nếp ñịa phương chất lượng cao ñược nhiều
cơ quan nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học quan tâm PGS.TS Trần Văn
Minh, 2006 ñã phục tráng và bảo tồn thành công giống ngô nếp Cồn Hến của Thừa
Thiên Huế nhằm bảo vệ giống ngô nếp quý hiếm của miền Trung nước ta, sau 5
năm nghiên cứu, tác giả và các ñồng nghiệp ñã phục tráng ñược giống ngô nếp Cồn
Hến, giữ lại ñặc ñiểm bản chất quý hiếm của nó.
Kết quả chọn tạo giống ngô nếp của Viện nghiên cứu ngô ñến nay ñã chọn
ñược 14 giống ngô thụ phấn tự do ñược công nhận và ñưa vào sản xuất: TH2A,
TH2B, VM1, HSB1, TSB 1, TSB2, TSB3 (Ngô ñường), MSB49, MSB49B, Q2,
CV1, VN1, Nếp tổng hợp, Nếp VN2, giống ngô nếp triển vọng VN6 cho thấy chọn
tạo và nghiên cứu tạo giống ngô nếp còn rất hạn chế
Năm 2005 Công ty CP giống cây trồng miền Nam thử nghiệm 2 giống ngô
trong ñó có giống ngô nếp lai MX4. Giống Ngô MX4 từ lúc gieo hạt ñến lúc thu
hoạch bắp non là 70 ngày, chiều cao cây là 205cm, chiều cao ñóng bắp 95cm, số
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt có
hệ thống rễ chùm phát triển (Trần Văn Minh, 2004) [23]. Cây ngô là cây có tiềm
năng năng suất lớn. Trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất ngô, phân bón
giữ vai trò quan trọng nhất. Theo Berzeni và Gyorff (1996) thì phân bón ảnh hưởng
tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật ñộ, phòng trừ cỏ dại, ñất trồng
có ảnh hưởng ít hơn. Sự hút các chất dinh dưỡng thay ñổi theo các giai ñoạn sinh
trưởng, phát triển của ngô. Dựa vào biến ñổi hình thái của cây ñể xác ñịnh nhu cầu
dinh dưỡng từng thời kỳ cho ngô.
Với vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng. Vì vậy, ñã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về phân bón cho cây ngô và những kết quả nghiên cứu này ñã
ñược ñưa vào trong sản xuất.
2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón ñạm ñến năng suất ngô
ðối với cây ngô, ñạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng ñối với việc tạo năng
suất và chất lượng. ðạm tham gia tích cực vào quá trình sinh trưởng và phát triển
của cây ngô. Nhiều kết quả nghiên cứu ñã chỉ ra rằng cây ngô phản ứng rất rõ với
yếu tố ñạm, nếu có ñủ ñạm cây ngô sinh trưởng khỏe, lá xanh, cây mập.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
Theo L. G. Balko and W. A. Russell, 1979, dòng thuần ở ngô (
Zea mays
L.)
là bố mẹ của các tổ hợp ngô lai, nhưng còn rất ít nghiên cứu công bố về phân bón
cho các dòng thuần trong quá trình nhân và duy trì dòng như phân ñạm. Các tác
giả nghiên cứu 10 dòng ngô thuần ñể xác ñịnh: 1) phản ứng của các dòng ngô
thuần với bón ñạm theo lượng; 2) tỷ lệ bón ñạm cho năng suất dòng thuần tối ña;
3) phản ứng của các dòng thuần với các công thức bón ñạm. Các công thức bón
ñạm trong nghiên cứu là: ñối chứng 0kgN/ha; 3 công thức bón rải 60, 120 và
Y
trong pham vi 53 ñến 96 lb/acre
(26,5 ñến 48,0 kgN/0,45ha). Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng trồng luân canh
với ñậu tương tiết kiệm phân bón ñạm với các dòng thuần ngô trong sản xuất nhân
dòng (W. Bart Stevens ) [2].
Theo Russel, W.A dòng thuần ở ngô (Zea mays L) là bố mẹ cho các tổ hợp
ngô lai ñơn một loại giống ngô cơ bản trồng phổ biến ở Mỹ. Các tác giả nghiên cứu
12 dòng thuần do do Trạm nghiên cứu nông nghiệp phóng thích ra sản xuất. Mục
ñích là xác ñịnh phản ứng của các dòng thuần ngô này với mức bón ñạm khác nhau
khi nhân dòng. Thí nghiệm trên ruộng cây trồng trước là ñậu tương (Glycine max
(L) Merr). Thí nghiệm 5 mức bón ñạm (urea)-0,60,120,180,và 240 kg/ha tại thời
gian trồng. Nghiên cứu thực hiện ở một ñịa Phương trong 3 năm. Thu thập số liệu
10 cây và tính trạng bắp và hạt. Năng suất cao nhất ở mức bón 60 kg/ha, và không
có sự sai khác ở mức có ý nghĩa với các mức bón tiếp theo, các dòng phản ứng với
mức bón ñạm khác nhau, chỉ có 4 dòng thuần năng suất tăng lên khi bón ñạm tăng
trên 60kg/ha. Trung bình của các dòng về các yếu tố tạo thành năng suất như chiều
dài bắp, ñường kính bắp, ñộ sâu cay, số bắp/cây, khối lượng 300 hạt phản ứng với
mức bón ñạm ở mức có ý nghĩa (Russel, W.A , 1984) [3].
Theo B.L. Ma , Lianne M. Dwyer and Edward G. Gregorich hiệu quả dử
dụng phân ñạm (NUE) là một tiêu chí chuyển ñổi ñạm thành năng suất kính tế. Phân
khoáng ñạm tăng khí bón bổ sung phân hữu cơ tạo ñạm ñễ tiêu, yêu cầu phân
khoáng ñạm phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của cây, có thể cải thiện NUE
bằng giảm lượng ñạm bị mất trong ñất. Một nghiên cứu thực hiện trong 2 năm và 5
năm tiếp theo (1992–1996 thí nghiêm trên ñồng ruộng trong ñiều kiện ñất pha sét tại
trạm thí nghiệm trung tâm, Ottawa, ON, Canada (45°23′ N, 75°43′ W). Mục ñích
nghiên cứu của các tác giả (i) xác ñịnh số lượng ñạm vô cơ, ñạm dự trữ và ñạm hữu
cơ trong thời kỳ bón phân khoáng, (ii) ñánh giá cân bằng ñạm trong hệ thống ñất và
cây. Bón phân hữu cơ tại mức phân khoảng ñạm cao nhất (NH+ 4 cộng NO− 3) của
≈100 kg N/ ha và ñến 800 kg N/ ha của ñạm tổng số ñến 120 kg/ ha ñạm khoáng
nguyên chất.Sự thất thoát ñạm tiềm năng là nhỏ nhất trong thời vụ trồng so với bón
nghiên cứu ở các mức 0, 50, 100 và 150 kg N/ha, phương pháp bón có che phủ và
không che phủ. Kết quả chỉ ra rằng loại phân và phương pháp bón cho năng suất
ngô sai khác khôg có ý nghĩa , nhưng tỷ lệ ñạm cho năng suất và hàm lượng ñạm
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
12
trong mô lá ngô khác nhau có ý nghĩa ở cả 2 ñịa phương. Như vậy sử dụng loại
phân có tỷ lệ ñạm nguyên chất cao tốt hơn loại có hàm lượng thấp, mặc dù bón
lượng nguyên chất như nhau(VA Banjoko, Moor J.,2003) [15].
Theo tác giả J. B. Maroko, R. J. Buresh, P. C. Smithson các phương pháp
ñơn giản xác ñịnh N dễ tiêu là cần thiết ñể ñánh giá hiệu quả của ñầu tư thấp, hệ
thống quản lý ñất bón lót phân hữu cơ và bón ñạm ở ñất nhiệt ñới. Xác ñịnh hiệu
quả sử dụng ñất trên cơ sở lượng N dễ tiêu trong ñất tương quan với năng suất hạt
ngô. Nghiên cứu hệ thống sử dụng ñất ở 2 ñiểm của Kenya ñến sinh trưởng của ngô
sau 17 tháng với các công thức luân canh khác nhau như ngô – ngô, ngô – bỏ hóa,
ngô – ñiền thanh. Phân tích ñất sau khi thu hoạch và gieo vụ mới cho thấy không
ảnh hưởng ñến ñạm tổng số hoặc ñạm liên kết trong vật chất hữu cơ (SOM) (>150
µm, >1.37 Mg m
-3
). Công thức ñiền thanh và bỏ hóa tăng lượng nhỏ(>150 µm,
<1.13Mgm
-3
). Năng suất của ngô cao nhất ở công thức luân canh với ñiền thanh.
Nitơrat, amon và ñạm vi sinh tương quan với năng suất ngô ở cả hai ñiểm thí
nghiệm (J. B. Maroko, R. J. Buresh, P. C. Smithson) [17].
Theo C.R.Camp, E.J.Sadler, D.E. Evans and J.A.Millen, từ năm 1999 ñến
2000 ảnh hưởng của nước và tỷ lệ ñạm ñến năng suất của ngô ñã ñược nghiên cứu
thí nghiệm hệ thống quản lý nước và phân bón cho ngô ở diện tíc nhỏ 100m
2
. Hệ
5
+ 90 K
2
O
5
. Năng suất cao nhất ñạt ñược ở mật ñộ trồng 92 nghìn cây/ha kết
hợp với lượng ñạm bón 150 kgN/ha. Tăng lượng ñạm bón lên 180 kg/ha năng suất
sai khác không có ý nghĩa thống kê (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự,2011) [38].
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lân ñến năng suất ngô
Theo tác giả Lê Văn Khoa, cho rằng vai trò của lân ñối với sự sống có một ý
nghĩa lớn vì lân tồn tại trong tế bào của ñộng thực vật, nó có trong nhân tế bào,
enzyme, vitamin. Lân tham gia vào việc tạo thành và chuyển hóa hidratcacbon, chất
chứa nito, tích lũy năng lượng tế bào sống. Lân còn ñóng vai trò quan trọng trong
hô hấp và lên men.
Theo L. G. Bundy, T. W. Andraski and J. M. Powell sự thất thoát lân trong
hệ thống canh tác ngô (Zea mays L.) ñược các tác giả nghiên cứu trên thí nghiệm
ñồng ruộng với các mức bón lân khác nhau, phối hợp với kỹ thuật làm ñất và bón
phân hữu cơ. Sự giữ lại sau mưa (76 mm/ h) ñã ñược thu thập trên diện tích 0,83-m
2
sau 1 giờ mưa bắt ñầu ñể phân tích lân hòa tan, lân dễ tiêu và lân tổng số. Ở vị trí
không có ngô cả 2 nồng ñộ DRP và và tổng ñều tăng như loại ñất Bray P1 (STP)
tăng từ 8 ñến 62 mg/ kg. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số kỹ thuật có thể ảnh
hưởng trái ngước với mất DRP với TP, cần thiết kế quản lý phân bón ñể giảm mất
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14
lân trong canh tác ở mức thấp nhất (L. G. Bundy, T. W. Andraski and J. M. Powell,
2001) [5].
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15
ñầu tiên là (0, 33, 66 và 99 kg P/ ha) thiết lập một phạm vi mức lân trong ñất ở
những năm tiếp theo, ô chính nhận 0, 9, 18, 27 và 36 kg P/ ha hàng năm. Hút P
ñược tính từng năm và sử dụng thiết bị dự ñoán lân. Tất cả các ô ñược lấy mẫu và
phân tích lân dễ tiêu trước khi trồng với các giống ngô lai ñịa phương. Giá trị P của
ñất tăng lên với mức lân ban ñầu (8–24 mg/ kg) nhưng giảm sau 3 năm (6–
10 mg/ kg). Chỉ có mức bón thấp nhất (9 kg P/ ha) tạo ra mức lân dễ tiêu ở mức
không có ý nghĩa. Năng suất qua các ô chính, ô phụ và các năm trong phạm vi từ
6,6 ñến 13,2 t/ ha. Năng suất ngô trung bình toàn bộ qua các năm tăng 8–33% khi
mức bón lân tăng so với ñối chứng. Mặc dù vậy bón lân không có hiệu quả trong
những năm lượng mưa trung bình thấp ảnh hưởng ñến sinh trưởng của cây. Lân dư
thừa ảnh hưởng ñến năng suất hạt xảy ra với mức bón lân cao ở năm cuối. Nghiên
cứu chỉ ra rằng dưới ñiều kiện có tưới, ngô phản ứng với lượng phân bón lân, nhưng
lượng lân dễ tiêu xảy ra trong một vài năm và ngang bằng với mức lân dễ tiêu trong
cây có thể duy trì bằng mức bón phân lân vừa phải nhất (H. Ibrikci, J. Ryan và cộng
sự, 2005) [9].
Theo M. Rashid andM. Iqbal, ngô là cây thức ăn quan trọng của gia súc ở
Pakistan. Lân là một yếu tố dinh dưỡng chất lượng quan trọng của cây ngô làm thức
ăn gia súc. Các tác giả thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân ñến năng suất
và chất lượng của cây ngô là thức ăn gia súc trên ñất mùn sét (calcareous). Hút bám
ñẳng nhiệt thiết kế bằng cân bằng 2,5 g ñất với 25 ml dung dịch CaCl
2
0.01 M chứa
0, 20, 40, 60, 80, 100, 200,300,400 và 500 µg P/ mL dạng KH
2
PO
4
và lắc trong 24