BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN TRỊNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
DÀNH CHO XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA
HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số :
60 62 01 15NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS NGUYỄN VĂN SONG
triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- UBND, Phòng LĐTB và XH các phòng ban trực thuộc huyện Vũ Thư
và các cá nhân thuộc địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số
liệu để tiến hành nghiên cứu luận văn.
- Các trung tâm GTVL, các DN XKLĐ và các cá nhân đẫ giúp đỡ tôi
trong quá trình điều tra.
- Xin cảm ơn tập thể lớp Cao học kinh tế NN21D đã cùng chia sẻ với tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn văn Song, người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn tới những bạn bè và đồng
nghiệp người thân trong gia đình, luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện cả
về vật chất và tinh thần để tôi học tập và hoàn thành tốt luận văn.
Hà Nội, tháng 09 năm 2014
Tác giả
Phạm văn Trịnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
4.1 Thực trạng tình hình XKLĐ và nguồn nhân lực của huyện Vũ Thư 69
4.1.1 Tình hình XKLĐ của huyện trong những năm vừa qua 70
4.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực của huyện Vũ Thư 76
4.2 Tình hình của nhóm lao động điều tra 83
4.2.1 Thực trạng thông tin cơ bản của nhóm lao động điều tra 83
4.2.2 Thực trạng về ngành nghề của nhóm LĐ điều tra 91
4.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL dành cho
XKLD của huyện Vũ Thư 104
4.3.1 Công tác tuyển dụng lao động 104
4.3.2 Trình độ giáo dục đào tạo tại địa phương 106
4.3.3 Thể chế chính sách 107
4.3.4 Y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng 108
4.3.5 Văn hoá nghề 110
4.3.6 Vị trí địa lý và trình độ phát triển kinh tế tại địa phương 110
4.4 Các giải pháp nâng cao chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu XKLĐ
của huyện Vũ Thư 111
4.4.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng tuyển chọn và đào tạo lao động 111
4.4.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 117
4.4.3 Nhóm giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu lao động 119
4.4.4 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức vê yêu cầu
chất lượng kỹ năng nghề trong trong hoạt động XKLĐ 121
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.4.5 Nhóm giải pháp đẩy mạnh phát triển - kinh tế xã hội và nâng cao
chất lượng y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng 124
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 126
5.1 Kết luận 126
5.2 Kiến nghị 128
THCS Trung học sơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTLĐ Thị trường lao động
UBND Ủy ban nhân dân
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XH Xã hội
XKLĐ Xuất khẩu lao động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 So sánh một số yêu cầu về chất lượng LDXK và lao động trong nước 27
3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Vũ Thư qua 3 năm
2011 - 2013 54
3.2 Tình hình dân số huyện Vũ Thư qua 3 năm 2011- 2013 57
3.3. Kết quả phát triển kinh tế của Huyện Vũ Thư giai đoạn 2009 – 2013 59
3.4 Tình hình cơ sở hạ tầng của huyện Vũ Thư năm 2013 61
3.5 Địa điểm và số lượng phiếu điều tra 65
4.1 Tốc độ phát triển xuất khẩu lao động ở huyện Vũ Thư giai đoạn
từ năm 2006 đến 2013. 70
4.2 Cơ cấu LĐXK theo độ tuổi và giới tính từ năm 2006 đến năm
2013 của huyện Vũ Thư 72
4.3 Nơi cư trú của LĐXK ở huyện Vũ Thư giai đoạn 2006-2013 74
4.4 Ngành nghề của LDXK huyện Vũ Thư giai đoạn 2006-2013 76
4.5 Tình hình nguồn nhân lực của huyện (2011 -2013) 77
4.6 Lao động và ngành nghề của LĐNT huyện Vũ Thư giai đoạn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I : MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo tổng cục thống kê năm 2011, dân số Việt Nam có khoảng 87,84 triệu
người. Lực lượng lao động tử 15 tuổi trở lên có khoảng 51,4 triệu lao động,
chiếm hơn 58,5% dân số, trong đó 70,3% đang làm việc tại nông thôn và có
khoảng 80,6% lao động ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Mỗi năm nước ta có
thêm hơn 1 triệu người đến tuổi lao động. Thêm vào đó, mức độ gia tăng của lực
lượng lao động trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thời gian nhàn
rỗi ở nông thôn tương đối cao đặt ra những vấn đề bức bách trong giải quyết việc
làm cho người lao động (Tổng cục thống kê năm, 2011).
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi
quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển có nguồn lao động lớn như Việt
Nam. Giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình phát triển của
nền kinh tế là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Góp
phần tích cực vào sự hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng
lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực thế giới. Nhận thức rõ tầm quan trọng
của vấn đề giải quyết việc làm. Đảng đã đề ra chủ trương và đường lối thiết
thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực. Nâng cao chất lượng NNL,
chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH-HĐH. Để
giải quyết việc làm cho người lao động, một trong những giải pháp hiệu quả
đó là XKLĐ. Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế - xã hội nhằm góp
phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tạo thu nhập và nâng cao
trình độ nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và
các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và của chính bản thân người lao động
nhằm phát huy các nguồn lực trong phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân
dân. Từ nhiều năm qua, huyện đã thực hiện các giải pháp như giải quyết việc
làm tại chỗ thông qua việc mở rộng và phát triển các ngành nghề truyền thống
của địa phương, song song với việc giải quyết việc làm trong nước thì XKLĐ
của huyện trong những năm qua đã tạo công ăn việc làm và từng bước nâng cao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
thu nhập của người dân trong huyện. Hiện tại toàn huyện có khoảng 2.900 lao
động đang làm việc tại các nước và mỗi năm huyện đưa đi được 500-700 lao
động .( UBND huyện Vũ Thư năm, 2013).
Nhìn chung toàn bộ số lao động đi làm việc tại nước ngoài là lao động phổ
thông còn yếu kém về tay nghề và ngoại ngữ.Trong những năm qua XKLĐ của
huyện còn chú trọng về mặt số lượng chưa đi vào chiều sâu chất lượng. Do nhận
thức kém lên tỷ lệ lao động bỏ trốn , phá vỡ hợp đồng lao động và quay về nước
trước thời hạn chiếm tỷ lệ khá cao. Một trong những nguyên nhân quan trọng
của XKLĐ còn chưa tương xứng với tiềm năng của huyện là chất lượng LĐXK
còn kém. Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
- Những lý luận và thực tiễn nào làm cơ sở cho sự phát triển nguồn nhân
lực nói chung và NNL cho XKLD nói riêng?.
- Hiện trạng chất lượng NNL của địa phương và NNL dành cho XKLD
hiện nay như thế nào?.
- Chất lượng của nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu ảnh
hưởng bởi những yếu tố nào?.
- Cần phải làm gì để từ bước nâng cao chất lượng NNL nói chung và
nguồn nhân lực dành cho xuất khẩu nói riêng để tương xứng với tiềm năng và
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nước nhập khẩu lao động.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài “Nâng cao chất
+ Thực trạng xuất khẩu lao động và chất lượng nguồn nhân lực dành
cho xuất khẩu lao động tại huyện Vũ Thư.
+ Đề xuất một số giải pháp tập trung nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao
động về số lượng và chất lượng từ đó từng bước nâng cao đời sống của nhân
dân trong toàn huyện
- Phạm vị về không gian: đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện
Vũ Thư tỉnh Thái Bình
Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu trong
3 năm từ năm 2011 đến năm 2013. Số liệu sơ cấp được điều tra năm
2014.Thời gian thực hiện đề tài từ 5/20013 đến tháng 9/2014 và định hướng
cho các năm tiếp theo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm về NNL, chất lượng NNL và phát triển, vai trò của phát
triển NNL
2.1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực
"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình
thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một
nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế
giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc
độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (1998), “Nguồn nhân lực là tất cả
những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con
người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” (Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2006).
cho sự phát triển. Cách này muốn chỉ rõ nguồn gốc tao ra nguồn lực con
người, nghiêng về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới
sự biến động nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực( Human resources) là nguồn lực con người, là yếu tố
quan trọng nhất năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội .
Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương,
nó khác với các nguồn lực khác, ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động
sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên biến đổi thế giới tự nhiên vào trong
quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Cụ thể
hơn, nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:
1. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở
nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng
lao động. không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh
vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn lực xã hội.
2. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động( do pháp luật quy định)
Như vậy mặc dù có nhiều biểu hiện khác nhau nhưng NNL của một quốc
gia hay một địa phương nó phản ánh các đặc điểm quan trọng sau đây:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người
- Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, nó gắn liền với cung LĐ
- Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội, và nó
cũng phản ánh chính xác trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương hay
quốc gia đó
Do đó, nguồn nhân lực tiếp cận dưới góc độ Kinh tế phát triển được hiểu
là: Tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội
tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc và xã hội: mức độ sẵn
sang tham gia lao động….)
5) Phẩm chất đạo đức, tác phong thái độ với công việc và môi trường
làm việc…
6) Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực
7) Thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân( về cả vật
chất lẫn tinh thần) của người lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực là một trạng thái nhất định của nguồn nhân
lực, là bản chất là tốt chất bên trong, nó luôn có sự vận động và phản ánh
trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh những thành tựu đạt được
không ngừng của khoa học- công nghệ và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ có
tác động thúc đẩy phát triển nhanh quá trình kinh tế- xã hội thì chất lượng
nguồn nhân lực luôn có sự vận động, phát triển đi lên theo hướng tích cực và
cũng quá trình phát triển đó cũng đặt ra nhiều thách thức đối đối với nguồn
nhân lực. Sự vận động tích cực của nguồn nhân lực ở trình độ ngày càng cao,
là cơ sở để cải biến xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất - tinh
thần cho người lao động.
Theo sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội của GS. TS Bùi
Văn Nhơn- NXB Tư Pháp năm 2006 khẳng định chất lượng nguồn nhân lực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu
tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố về
tinh thần, thể lực, trí lực.
Thể lực của nguồn nhân lực: Sức khỏe vừa là mục đích của phát triển,
đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe là sự phát triển hài
hòa của con người cả về vật chất và tinh thần. Đó là sức khỏe cơ thể và sức
khỏe tinh thần. Sức khỏe cơ thể là được thể hiện bằng chiều cao, cân nặng, thể
D
= ×
∑
∑
Trong đó D% là tỷ lệ dân số biết chữ
x
D
∑
là tổng số người trên 10 tuổi biết chữ
D
∑
là tổng dân số trên 10 tuổi trở lên
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá trình độ văn hóa ở mức tối thiểu
của một quốc gia. Các thống kê giáo dục trong nước và trên thế giới hiện nay
đều sử dụng chỉ tiêu này(Dương tuyết Nhung, 2008).
∗ Số năm đi học trung bình: số năm đi học trung bình là số năm đi học
trung bình của một người trên 25 tuổi. Đây cũng là một chỉ tiêu được liên hiệp
quốc sử dụng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia:
Phương pháp tính
i i
A a x
=
∑
trong đó
A: Số năm đi học trung bình
a
i
: Các hệ số được chọn theo hệ thống giáo dục mỗi nước hoặc mỗi vùng
x
T
là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo
LV
DT
L
∑
là số lao động đã qua đào tạo đang làm việc
LV
L
∑
là tổng số lao động đang làm việc
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát về trình độ chuyên môn của lực
lượng lao động của mỗi vùng mỗi, quốc gia (Dương tuyết Nhung, 2008.
Tỷ lệ lao động theo cấp bậc đào tạo: là tỷ lệ số lượng lao động đã
qua các cấp bậc đào tạo trên tổng số lao động đang làm việc
Công thức
100
CBDTi
CBDTi
LV
L
T
L
= ×
∑
∑
CBDTi
T
là tỷ lệ lao động được đào tạo ở cấp bậc thứ i đang làm việc
thông qua các cuộc điều tra tâm lý xã hội và các phương pháp điều tra định
tính. Tuy nhiên, trong từ khía cạnh của phẩm chất này, người ta có thể đánh
giá bằng phương pháp thống kê và xác định bằng các chỉ tiêu định hướng
người lao động như tỷ lệ người lao động vi phạm kỷ luật lao động, hay tỷ lệ
người bỏ trốn hoặc phá bỏ hợp đồng (Dương tuyết Nhung, 2008).
2.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là hệ
thống các biện pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập giúp
con người tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay
hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đó là tổng thể
các hoạt động có tổ chức được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm
đem đến sự thay đổi cho người lao động đối với công việc của họ theo chiều
hướng tốt hơn.
Theo chiều hướng này, phát triển được phản ánh qua 3 hoạt động: Đào
tạo, giáo dục và phát triển:
Đào tạo: Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao
động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đối
với các doanh nghiệp thì nhu cầu đào tạo không thể thiếu được bởi vì không
phải lúc nào các doanh nghiệp cũng tuyển được những người mới có đủ trình
độ, kỹ năng phù hợp với những công việc đặt ra.
Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con
người bước vào một nghề nghiệp mới, thích hợp hơn trong tương lai. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Phát triển: Là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc
trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa
trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.
muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải dựa trên ba yếu tố quan trọng hàng
đầu là: công nghệ, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Trong đó yếu tố hàng đầu
vẫn là nguồn nhân lực. Bởi vì nguồn nhân lực là yếu tố sẽ quyết định các
nguồn lực khác và thực tế cho thấy các quốc gia có ưu thế cạnh tranh luôn
luôn thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực có chất lượng cao. Bởi vậy, hiện
nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều quốc gia đã xác định phát
triển nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu và là yếu tố quyết định.
Hiện nay tồn tại có rất nhiều khái niệm và định nghĩa về phát triển nguồn
nhân lực. UNESCO (2000) sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo
nghĩa hẹp, cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành
nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của
đất nước. Còn theo tổ chức lao động thế giới(ILO)(2007). Phát triển nguồn
nhân lực theo phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành
nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử
dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp
và cuộc sống cá nhân.Liên hiệp quốc cũng nghiêng về sự dụng khái niệm phát
triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm cả giáo dục, đào tạo và sử
dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng
cao chất lượng cuộc sống.
Tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO)(2005): Phát triển con
người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển
của một quốc gia. Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội.
Như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo.
Bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt
động thực tiễn.
Như vậy, tựu trung lại, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm tạo
ra nguồn lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân. Phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
sát được.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
- Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động.
- Đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực.
- Giảm bớt được tai nạn lao động
- Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ vững
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt
do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế.
+ Đối với người lao động:
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ đem lại nhiều
lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp chop người lao động cập nhật các kiến
thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật.
Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào tahỉ trong
quá trình phát triển của tổ chức, xã hội. Và nó còn góp phần làm thoả mãn
nhu cầu phát triển cho người lao động.
+ Đối với nền kinh tế xã hội:
Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của người lao động có ảnh
hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đào
tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh
trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự phát triển nguồn nhân lực của các
doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.1.2 Khái niệm về XKLD và các hình thức, hoạt động XKLD
2.1.2.1 Khái niệm về xuất khẩu lao động
Là một hiện tượng KT - XH, chính thức xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX.
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Xuất khẩu lao động
trở nên rất phổ biến và trở thành xu thế chung của thế giới. Có rất nhiều cách
hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ. Nếu như trước đây với thuật ngữ " hợp