Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
HÀ NỘI, 2013
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
để em có thể hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự động viên và giúp đỡ nhiệt
tình của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận tốt
nghiệp
Tuy nhiên, do trình độ và thời gian có hạn nên trong quá trình thực
hiện đề tài này em vẫn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong được sự tham gia
đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè để đề tài này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 16 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Tuyết
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô
Chu Thị Diệp. Em xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng em.
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Tuyết
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA , HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH .................... 32
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực Ninh Bình hiện nay ................................ 32
2.2. Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Ninh Bình
hiện nay.................................................................................................... 56
KẾT LUẬN ............................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 76
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế
quốc tế. Đặc biệt khi đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH,
muốn phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh việc tận dụng nguồn lực tự
nhiên, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến nguồn lực con người vì
khi chất lượng nguồn nhân lực được chú trọng và đổi mới về chất mới thực
sự tác động làm thay đổi nền kinh tế. Bởi vậy, việc phát triển con người,
phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ
thống phát triển các nguồn lực, chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố
chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia, đầu tư cho
con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng
kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay nói cách khác là thông
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trên cơ sở đề cập đến vấn đề con người, tác giả đã đưa ra quan niệm của
mình về nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển
của đất nước.
* TS. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn
sách đã nêu lên vai trò, tầm quan trọng của nguồn lực trí tuệ trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước. Thực trạng của phát huy, xu
hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam và những giải pháp nhằm phát
huy nguồn lực này trong công cuộc đổi mới nước ta.
* TS. Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con
người ở Việt Nam”, Nxb Lao động, Hà Nội. Tác giả đã trình bày những vấn
đề lí luận và thực tiễn việc phát triển, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực
trong sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và
kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số nước như: Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc. Từ đó, đề ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nước ta
trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
2
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
* GS, TSKH Nguyễn Minh Đường, PGS, TS Phan Văn Kha (2005),
“ Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc
Khóa luận tốt nghiệp
* TS. Trần Văn Đạt (2008), “Vài cảm nghĩ đầu xuân về phát triển
nguồn nhân lực cho hội nhập toàn cầu”, Báo khoa học phổ thông. Tác giả
khẳng định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển của quốc gia
và nêu lên nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng ở nước ta hiện nay.
* Đặng Đăng Kiên (1/2005), “Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng
cao trong đội ngũ cán bộ công chức ở tỉnh Bình Dương”, Tạp chí khoa học
xã hội. Bài viết đề cập thực trạng nguồn nhân lực cán bộ, công chức tỉnh
Bình Dương hiện nay và những giải pháp phát triển nguồn nhân lực này.
Các luận văn, luận án:
* Vũ Thị Phương Mai (2004), “Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng
Ninh hiện nay”, luận văn thạc sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH, Hà
Nội. Tác giả phân tích vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự
nghiệp CNH, HĐH và đưa ra những giải pháp phát triển nguồn nhân lực
này ở Quảng Ninh trong thời gian tới.
* Lê Quang Hùng (2006), “Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng”, luận văn thạc sĩ kinh tế chính
trị, Hà nội. Tác giả đề cập quan niệm, các tiêu chí xác định, vai trò của
nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế xã hội và các nhân
tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời chỉ ra thực
trạng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế xã hội ở
thành phố Đà Nẵng trong những năm qua, tìm những giải pháp nhằm tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Đà
Nẵng.
Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học là cơ sở cho tác giả
triển khai đề tài của mình.
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
5
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm
của Đảng và nhà nước ta về nguồn nhân lực.
* Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể: lịch sử và logic,
quy nạp và diễn giải, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, nghiên cứu các môn
khoa học Mác- Lênin trong các trường cao đẳng, đại học.
Khóa luận có thể làm tài liệu để tỉnh ủy, UBND tỉnh Ninh Bình và
các cơ quan chuyên môn liên quan hoạch định đường lối chính sách phát
triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 2012 - 2020
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 2 chương, 4 tiết
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
6
như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có
tính xã hội”, hoặc con người động vật có tư duy… Những quan niệm trên
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
7
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã
hội của con người mà chưa nêu lên đươc nguồn gốc bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn
đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tình hiện thực của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. “Có thể phân biệt
con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ
cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc
vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của
mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người qui định. Sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã dán tiếp sản
xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [23, tr.29].
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi,
cải biến giới tự nhiên: “Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người
thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [24, tr.137].
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật
chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tinh xã hội
của con người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất
ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và
nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con
người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang giá trị
văn minh con người và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi
tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện
vào nhau để tạo thành con người tự nhiên – xã hội.
* Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con
người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ
với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người.
Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đề mang tính xã hội, trong đó quan hệ
xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối
quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C. Mác đã
nêu lên lậu đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản
chất con người không phải là một cái trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
9
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội” [23, tr.11].
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát
ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội, con người luôn luôn cụ thể, xác
Khóa luận tốt nghiệp
và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của
chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực
mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng
không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người
càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con
người càng làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [23,
tr.476].
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực
tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự
vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều
kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực
tiễn của mình để làm phong phú thêm giới tự nhiên, tái tạo lại tự nhiên thứ
hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của
mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sang tạo ra
lịch sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là
điều kiện tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời
sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt qui luật của lịch sử xã hội, con
người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển
từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra.
Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội,
và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi
giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong
mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng
phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống
đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con
Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận, xem xét con người trong tính đa
dạng của nó: đa dạng trong quan hệ xã hội (quan hệ dân tộc, giai cấp, tầng
lớp, đồng chí, đồng bào…); đa dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất,
khả năng, cũng như năm ngón tay dài, ngắn khác nhau, nhưng đều hợp
nhau lại nơi bàn tay; mấy mươi triệu người Việt Nam, có người thế này, thế
khác, nhưng đều cùng là nòi giống Lạc Hồng; đa dạng trong hoàn cảnh
xuất thân, điều kiện sống, làm việc….
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
12
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối
lập: thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu, hiền và giữ,…bao gồm cả tính người
– mặt xã hội và tính bản năng – mặt sinh học của con người. Theo Hồ Chí
Minh, con người có tốt, có xấu, nhưng “dù là xấu, tốt, văn minh hay dã
man đều có tình” [28, tr. 60].
* Con người cụ thể, lịch sử
Hồ Chí Minh cũng dùng khái niệm “con người” theo nghĩa rộng
trong một số trường hợp: “phẩm giá con người”, “giải phóng con người”,
“người ta”, “con người”, “ai”… trong một bối cảnh cụ thể và tư duy chung.
Còn phần lớn, Người xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội,
quan hệ giai cấp, theo giới tính (thanh niên, phụ nữ), theo lứa tuổi (phụ lão,
nhi đồng), nghề nghiệp (công nhân, nông dân, trí thức…), trong khối thống
nhất của cộng đổng dân tộc (sĩ, nông, công, thương) và quan hệ quốc tế
ta tốt lắm. Người phân tích phẩm chất tốt đẹp của dân từ lòng trung thành
và tin tưởng vào cách mạng, vào Đảng, không sợ gian khổ, tù đày, hi sinh
đến việc dân nhường cơm, sẻ áo, che chở, đùm bọc, bảo vệ, nuôi nấng bộ
đội và cán bộ cách mạng.
Dân ta là tài năng, trí tuệ và sáng tạo, họ biết “giải quyết nhiều vấn
đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những
đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [26, tr. 295]. Đặc biệt là lòng sốt sắng,
hăng hái của dân để thực hiện con đường cách mạng. Hồ Chí Minh có niềm
tin vững chắc rằng với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc
ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chẳng
những chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định thắng lợi.
Nhân dân là yếu tố quyết định thành công của cách mạng. “lòng yêu
nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không
ai thắng nổi” [27, tr. 281].
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; phải coi
trọng, chăm sóc, phát huy nhân tố con người.
Vì sống gần dân, với dân, giữa lòng dân, hiểu rõ dân tình, dân tâm,
dân ý, Hồ Chí Minh thấy rõ yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con
người, giải phóng lao động xã hội. Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của cách mạng. Năm 1911, giữa lúc đất nước đang bị xâm lược, nhân
dân phải chịu cảnh lầm than, Người ra đi với ý chí “quyết giải phong gong
cùm nô lệ cho đồng bào”. Người xác định rõ trách nhiệm của Người cũng
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
14
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
15
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh nhận rõ: “Muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”,
“có dân thì có tất cả”…
Niềm tin vào sức mạnh của dân còn được nhận thức từ mối quan hệ
giữa nhân dân với Đảng và chính phủ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nếu không có
nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng; nếu không có chính phủ thì
nhân dân không ai dẫn đường. Đảng lãnh đạo nhưng nhân dân là chủ. Dân
như nước, bộ đội như cá. Lực lượng bao nhiêu là ở nhân dân hết. Tin dân,
học dân, tôn trọng dân, dựa vào dân theo đúng đường lối quần chúng sẽ tạo
nên sức mạnh vô địch. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc
và xây dựng CNXH chỉ có thể thực hiện với sự giác ngộ đầy đủ và lao
động sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng nhân dân.
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi
cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông
dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng CNXH
Không phải mọi con người đều trở thành động lực, mà phải là những
con người được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn
hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa
hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam…Chính trị, văn hóa tinh thần là động
lực cơ bản trong động lực cơ bản trong động lực con người.
Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ
chức, có lãnh đạo. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
xã hội, xây dựng một xã hội tốt đẹp, vì sự phát triển của con người: Xã hội,
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao dựa vào lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về
các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện. Các dân tộc trong cộng đồng Việt nam bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…Con người là trung tâm của
chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền của con người, gắn quyền
con người với quyền và lợih ích dân tôc, đất nước và quyền làm chủ nghĩa
của nhân dân…Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước,
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
17
K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao đọng
giỏi; sống có văn hóa; có tinh thần quốc tế chân chính. Trong dự thảo chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 trên quan điểm phát triển, Đảng
ta đã khẳng định “Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người,
coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát
triển” [16, tr.25]. Trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X
Đảng ta luôn coi trọng chiến lược xây dựng con người mới và sự phát triển
nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước có mối quan
hệ biện chứng với nhau. Trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định việc
lực lượng sản xuất xã hội, là phương tiện để sản xuất ra cảu cải vật chất. Vì
vậy nguồn nhân lực là lượng lao động đáp ứng được nhu cầu sự phát triển
của nền kinh tế là nhân tố quan trọng, được coi là vốn người. Với khái
niệm này, nguồn lực con người được coi là một trong những các loại “vốn”
khác như: tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, tiền…là đầu vào và
đầu ra của sản xuất.
Nhận thức đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua khái niệm
phát triển con người là Human Development (HD) thì con người và nguồn
lực con người được hiểu là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá chỉ
số HDI- (Human Development Index) là đánh giá về sự phát triển của một
xã hội qua đánh giá các chỉ số về chất lượng cuộc sống con người: Thu
thập, năng lực sinh thể ( tuổi thọ) năng lực tinh thần ( giáo dục, y tế…).
Thực tế nhiều quốc gia phát triển, nhưng con người bị lãng quên, không
được quan tâm, thất nghiệp, nghèo đói, thất học, nhân quyền bị vi phạm,
không được chăm sóc sức khỏe chiếm tỷ lệ cao… như vậy trình độ phát
triển của xã hội không chỉ đánh giá bằng thu nhập quốc dân, tốc độ tăng
trưởng kinh tế, tiện nghi vật chất; mà chỉ số phát triển xã hội chính là phát
triển con người. Quan điểm coi con người có vị trí trung tâm của sự phát
triển kinh tế - xã hội là yêu cầu trong hoạch định các chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội. Như vậy con người là trung tâm của sự phát triển “ Đầu
vào” nhân tố quyết định là “ vốn con người”, tiềm năng con người, nguồn
lực con người, còn “ Đầu ra” mục tiêu là chất lượng cuộc sống, là các chỉ
số về phát triển con người.
Đối với nước ta, các nhà khoa học đã nhiên cứu và đưa ra nhiều quan
niệm về nguồn nhân lực; Bộ Lao động Thương binh xã hội xác định: “
nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
19