Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở bắc ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Trần Đức Nguyên

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở BẮC NINH TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở
Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung
thực và có xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội , ngày 20 tháng 08 năm 2015
Tác giả luận án Trần Đức Nguyên 2
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, TỔNG QUAN
VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở TỈNH BẮC NINH 11
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài luận án 24
1.3. Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh 35
Tiểu kết 48
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở
TỈNH BẮC NINH 50
2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 50

9. Nxb : Nhà xuất bản
10. PGS : Phó giáo sƣ
11. Sở VHTTDL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
12. Tr. : Trang
13. TS : Tiến sĩ
14. TW : Trung ƣơng
15. UBND : Ủy ban nhân dân
16. UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc

4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài dựng nƣớc
và giữ nƣớc. Theo dòng thời gian, ông cha đã để lại một kho tàng DSVH đồ sộ,
phong phú và mang nhiều giá trị. Ngày nay, những DSVH ấy có vị trí, vai trò
quan trọng trong đời sống xã hội. Luật di sản văn hóa đã khẳng định: “Di sản văn
hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ
phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ
nƣớc của nhân dân ta”[42, tr.31]. DSVH của mỗi quốc gia trên thế giới hay ở từng
địa phƣơng trong mỗi quốc gia đều có những điểm khác biệt nhau. Điều đó tạo
nên những đặc trƣng, bản sắc văn hóa riêng của mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng.
1.2. Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, một trong những địa
phƣơng có bề dày văn hiến, có truyền thống lịch sử. Bắc Ninh ngày nay là một phần
của vùng Kinh Bắc xƣa, là địa bàn cƣ trú của ngƣời Việt cổ từ hàng nghìn năm trƣớc.
Với những điều kiện thiên nhiên ƣu đãi, đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi thuận
tiện cho việc giao thƣơng mà Bắc Ninh từng đƣợc chọn là nơi đóng đô, là thủ phủ của
nƣớc ta dƣới thời Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm. Luy Lâu - Dâu là một trung tâm
kinh tế - văn hóa - chính trị phát triển phồn thịnh. Nơi đây còn là điểm đặt chân đầu
tiên khi Nho giáo và Phật giáo truyền vào nƣớc ta. Trải thời gian, Bắc Ninh là vùng

nhiều hạn chế nhƣ việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo
vệ di tích, nhiều di tích còn bị mất cắp cổ vật, di vật; việc tuyên truyền, phổ biến chủ
trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc về quản lý di tích
đến cộng đồng còn chƣa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch…
Hiện nay, Bắc Ninh là địa phƣơng có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh,
quá trình CNH, ĐTH diễn ra mạnh mẽ. Thực tiễn cho thấy, Bắc Ninh đã có 15 khu
công nghiệp tập trung, 30 khu công nghiệp vừa nhỏ, hơn 20.000ha đất đô thị đƣợc
quy hoạch và xây dựng. CNH, ĐTH đã có những tác động tích cực đến bảo tồn, phát
huy giá trị di tích nhƣ tăng cƣờng nguồn ngân sách để trùng tu, tôn tạo cho các di
tích, làm cho nhiều di tích tránh đƣợc sự xuống cấp, hủy hoại. Tuy nhiên quá trình
CNH, ĐTH cũng có những tác động tiêu cực đến bản thân các di tích nhƣ các khu đô
thị, khu công nghiệp phát triển nhanh không đƣợc lƣu ý đúng mức đến sự tồn tại bền
vững của các di tích dẫn đến tình trạng di tích bị lấn át, hƣ hỏng, biến dạng hoặc bị
hủy hoại; thành phần cƣ dân địa phƣơng nơi có di tích tồn tại sẽ có những biến đổi rõ

6
rệt, sự liên kết cộng đồng làng xã cổ truyền sẽ chuyển sang một mối quan hệ khác,
thái độ ứng xử của cộng đồng đối với di tích cũng có sự thay đổi. Vì vậy, đây là các
vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý di tích trong thời kỳ phát triển CNH, ĐTH. Cơ
quan quản lý đứng trƣớc một áp lực đối với việc bảo vệ, khai thác và phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống một cách bền vững, nhƣng vẫn đảm bảo phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cƣ.
1.3. Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về quản lý DSVH vật thể, nghiên
cứu về quản lý di tích lịch sử văn hóa ở một số địa phƣơng tuy nhiên chƣa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn
quản lý di tích lịch sử văn hóa với những cách thức phù hợp với đặc điểm, điều kiện và
hoàn cảnh của mỗi địa phƣơng. Đối với các di tích ở Bắc Ninh từ trƣớc tới nay cũng đã
đƣợc đề cập tới trong một số bài viết, báo cáo khoa học về một hoặc một số các di tích
tiêu biểu. Có thể thấy các nghiên cứu này mới cho ngƣời đọc thấy đƣợc sự phong phú,
đa dạng và nhiều giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh,

quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh
trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm của đối tƣợng quản lý đó là các loại hình di tích lịch sử
văn hóa ở Bắc Ninh (tập trung vào các di tích đã đƣợc Nhà nƣớc công nhận xếp hạng).
- Nghiên cứu các chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và địa phƣơng về bảo tồn di
tích và chính sách đối với cộng đồng tham gia bảo tồn di tích.
- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy và các hoạt động trong lĩnh vực quản lý
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Nghiên cứu khả năng tham dự của công chúng/cộng đồng nơi di tích tồn tại,
làm rõ vai trò của cộng đồng trong tiến trình bảo tồn di tích.
- Nghiên cứu quá trình CNH, ĐTH ở Bắc Ninh và những tác động của nó
đến quản lý di tích lịch sử văn hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: luận án chủ yếu tập trung vào hoạt động quản
lý di tích lịch sử văn hóa theo tinh thần nội dung của Luật di sản văn hóa năm 2001,
đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

8
- Phạm vi không gian: các di tích lịch sử văn hóa thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh
hiện nay. Trong đó, luận án sẽ tập trung đi sâu tìm hiểu một số điểm di tích, khu di
tích đạt hiệu quả trong công tác quản lý nhƣ đền Đô, chùa Bút Tháp, khu DTLN
đồng chí Nguyễn Văn Cừ…, và một số điểm còn nhiều hạn chế nhƣ đền Cổ Mễ,
khu di tích phòng tuyến sông Nhƣ Nguyệt…
- Phạm vi thời gian: từ năm 2001 khi Luật di sản văn hóa đƣợc ban hành cho
đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Quản lý văn hóa,
Sử học, Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

tƣợng. Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tiềm năng về di sản cũng nhƣ thực
trạng của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa hiện nay, định hƣớng hƣớng phát
triển của địa phƣơng, luận án sẽ phân tích những điều đó để thấy đƣợc những điểm
mạnh, những hạn chế, chỉ ra đƣợc những thuận lợi và thách thức trong hoạt động quản
lý di tích. Đó chính là cơ sở để tác giả luận án có thể bƣớc đầu đƣa ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích ở Bắc Ninh trong những điều kiện
phát triển hiện nay.
4.5. Phương pháp so sánh
Phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để so sánh giữa các mô hình quản lý tại địa
phƣơng để tìm ra đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu để khắc phục trong việc xây dựng
tổ chức bộ máy quản lý một cách hợp lý và có hiệu quả cao.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về DSVH, quản lý DSVH; các quan điểm và
cơ sở lý thuyết về quản lý di tích lịch sử văn hóa.
- Vận dụng cơ sở lý luận về quản lý DSVH vào một trƣờng hợp cụ thể: tìm hiểu
về thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Bắc Ninh.
- Đề tài nghiên cứu đặc điểm quản lý di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh
CNH, ĐTH ở nƣớc ta hiện nay từ trƣờng hợp cụ thể của Bắc Ninh.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Bƣớc đầu cung cấp thông tin, tƣ liệu về hệ thống các di tích lịch sử văn hóa
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh về các mặt: số lƣợng, phân loại, hiện trạng/tình trạng kỹ
thuật, sở hữu của các di tích.

10
- Làm rõ bức tranh tổng thể về thực trạng tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động
quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, bên cạnh đó nghiên cứu
những tác động của sự phát triển CNH, ĐTH đối với các di tích cũng nhƣ công tác
quản lý di tích. Từ thực trạng đƣa ra các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu
quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa, tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh

các hoạt động và con ngƣời [117]. Ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng, DSVH
không chỉ là một giá trị biểu tƣợng mà cần sống trong cộng đồng, trong xã hội tức là
phải đóng góp vào sự phát triển chung, DSVH phải phục vụ cho cộng đồng. G.J.
Ashworth và P.J. Larkham xem việc khai thác các giá trị của di sản nhƣ một ngành
công nghiệp do vậy việc quản lý cần có những phƣơng thức của một ngành công
nghiệp với cách thức quản lý phù hợp với những đặc điểm của các di sản [114]. Zhan
Chang Yuan trong giáo trình Quản lý công nghiệp văn hóa cũng đề cập việc quản
DSVH nhƣ một ngành công nghiệp cần chú ý tới chính sách, nguồn tài nguyên, nhân
lực thực hiện [120] Trong nhiều nghiên cứu, các tác giả đề cập tới hai vấn đề của
quản lý đó là bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Các nhà quản lý luôn phải đối mặt với
vấn đề cân bằng giữa hai lĩnh vực này cho hợp lý. Peter Howard cho rằng các nhà
quản lý luôn phải đặt ra câu hỏi: chúng ta cần bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai? Việc
bảo tồn nhằm gìn giữ lại tối đa những giá trị của di sản, làm cơ sở để khai thác, phát
huy các giá trị đó trong đời sống. Việc khai thác, phát huy giá trị là điều cần, làm cho
di sản thực sự trở thành một bộ phận của cuộc sống hiện tại. Tuy nhiên, các nghiên
cứu lƣu ý rằng việc khái thác cần quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững, tránh tình
trạng khai thác quá mức dẫn tới những ảnh hƣởng không tốt đến bản thân giá trị của

12
các di sản đó. Brian Garrod, Alan Fayall trong nghiên cứu về quản lý di sản và du
lịch lại thừa nhận cần có sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác, nếu di sản không
đƣợc bảo vệ, giữ gìn thì sẽ bị mất, không còn gì để lại cho thế hệ mai sau [115]. “Khi
các nhà quản lý DSVH nghiên cứu, bàn thảo về kế hoạch bảo tồn, họ quan tâm nhiều
đến việc duy trì nguồn tài nguyên ở một mức độ bền vững” [116]. Arthur Perdersen
trong Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di sản thế giới đã đề ra
các phƣơng án quản lý di sản trƣớc sự tác động của du lịch cần khoanh vùng cho các
hoạt động tƣơng thích, giảm bớt số lƣợng khách vào một số khu vực, thậm chí đóng
cửa một số khu vực của di sản [113].
Trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới [105], UNESCO
cũng đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng kế hoạch quản lý các khu di

Thứ nhất, thiết lập cơ chế, chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp bảo
tồn, bảo tàng trong cả nƣớc; Thứ hai: cần có một hệ thống tổ chức thích hợp đủ khả
năng biến các chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc thành hiện thực; Thứ ba:
cần tổ chức để đƣa các hoạt động bảo tồn thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân. Từ
đó, tác giả đã đề ra 6 biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cƣờng việc thống nhất
quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực bảo tồn di tích: 1/Thể chế hóa bằng pháp luật các
chính sách, cơ chế của nhà nƣớc; 2/Quy hoạch toàn bộ các di tích đƣợc công nhận;
3/Phân cấp quản lý; 4/Xã hội hóa hoạt động bảo tồn; 5/Ƣu tiên đầu tƣ ngân sách;
6/Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ.
Trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH, tác giả Đặng
Văn Bài đã đƣa ra một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nƣớc đối với
DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm. Các nội dung bao gồm: Quản lý
nhà nƣớc bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy
giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết
định phân cấp quản lý ); Việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo
tồn - bảo tàng và đầu tƣ ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính
chất quyết định nhằm tăng cƣờng hiệu quả quản lý [4, tr.11- 13].
Hai tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trƣờng Tân trong
giáo trình Quản lý DSVH của Trƣờng Đại học Nội vụ Hà Nội [44], đã đƣa ra một số
nội dung nhƣ: 1/Khái niệm chung về quản lý và quản lý nhà nƣớc về DSVH;
2/Quan điểm phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nƣớc liên quan đến quản lý
DSVH dân tộc; 3/Nội dung cơ bản của quản lý nhà nƣớc về DSVH. Hai tác giả trên
cho đây là một số nội dung về nghiệp vụ quản lý DSVH mà thực chất đây là các

14
mặt hoạt động bảo tồn DSVH. Trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến
trình đổi mới và hội nhập quốc tế của hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn
(đồng chủ biên) đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa
ở nƣớc ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH. Ở lĩnh vực này, các tác giả đƣa ra
thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và DSVH phi vật thể. Nội dung

các DSVH, trong đó có các di tích lịch sử - văn hóa. GS Hà Văn Tấn trong bài viết Bảo
vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước đã
nhận xét rằng: “Các di tích lịch sử - văn hóa đang trong tình trạng SOS khẩn cấp Nếu
chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ
bị mất đi, mà một dân tộc đánh mất đi di tích lịch sử văn hóa là một dân tộc đánh mất
trí nhớ…”[74, tr.44-54]. Ông phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng di tích bị
hủy hoại trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình ĐTH dồn dập với
yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di tích. Điều này do chúng ta bị động trƣớc quá trình đô
thị hóa, không nắm đƣợc các quy hoạch đô thị. Trong bài Tầm nhìn tương lai đối với
DSVH và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta của tác giả Nguyễn Quốc Hùng cũng đề
cập tới những tác động của CNH, ĐTH làm tổn hại tới hệ thống DSVH nói chung, di
tích lịch sử văn hóa nói riêng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự thiếu đồng bộ,
thiếu ý thức và thiếu quan tâm đến việc bảo tồn di sản của một số ngành, địa phƣơng
trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở vật chất… Tác giả bài viết
đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý,
bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong điều kiện CNH, ĐHT hiện nay [36, tr.4-5].
Đề tài nghiên cứu Bảo vệ DSVH trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và
hội nhập quốc tế [39] của Cục Di sản văn hóa do TS Nguyễn Thế Hùng làm chủ nhiệm
cũng đã đề cập tới những ảnh hƣởng của sự đổi mới, CNH, HĐH đến việc bảo vệ
DSVH. Đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực
DSVH vật thể và phi vật thể trên phạm vi cả nƣớc với những thành tựu đạt đƣợc cũng
nhƣ hạn chế trong hoạt động này. Tác giả đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm
đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhƣ: tăng cƣờng công tác quản
lý nhà nƣớc; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tƣ; xã hội hóa; đào tạo
nguồn lực con ngƣời; tăng cƣờng hợp tác quốc tế…Đối với trƣờng hợp cụ thể hơn,
chuyên luận Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bảo tồn DSVH tại các vùng đang
trong quá trình CNH, ĐTH ở đồng bằng sông Hồng [40] là công trình nghiên cứu khoa
học của TS Phạm Thị Thu Hƣơng. Chuyên luận nghiên cứu thực trạng bảo vệ DSVH

16


17
của quản lý lĩnh vực văn hóa nhƣ quản lý đời sống văn hóa ở cơ sở, môi trƣờng bảo tồn
DSVH, giao lƣu quốc tế… Tuy nhiên, đây là các cuốn sách mang tính đại cƣơng, nội
dung khá sơ lƣợc, giới thiệu về một số vấn đề quản lý các lĩnh vực văn hóa.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, những cuốn sách đã nêu trên, còn có
một số lƣợng khá lớn các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ Di sản
văn hóa, Văn hóa Nghệ thuật, Văn hóa học, Nghiên cứu văn hóa có nội dung bàn
luận về hai vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị DSVH ở nƣớc ta. Các bài viết này có
xu hƣớng đề cập cả những vấn đề lý luận cũng nhƣ thực tiễn của việc bảo tồn, phát
huy và vai trò của DSVH trong bối cảnh phát triển kinh tế, CNH, HĐH và hội nhập
quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, số lƣợng các bài viết thuộc dạng này khá lớn, do vậy
khó có thể bao quát hết toàn bộ quan điểm, nội dung của tất cả các bài viết đó.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh
- Giai đoạn trước năm 1945: các nghiên cứu về di tích ở Bắc Ninh ngày nay
- một phần của xứ Kinh Bắc xƣa có lẽ bắt đầu đƣợc đề cập đến trong một số cuốn
sử vào thời Lý - Trần nhƣ Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư… Đây là những
cuốn sử biên niên ghi chép lại toàn bộ những hoạt động chính của các triều đại theo
các năm, trong đó có những việc liên quan đến lễ nghi, tôn giáo nhƣ xây dựng chùa
chiền, đi lễ cầu Phật… của hoàng gia. Đại Việt sử lược hay Đại Việt sử ký toàn thư
có đôi dòng về việc “dựng tháp trên núi Tiên Du” “dựng chùa Đại Lãm sơn”…chứ
không mô tả cụ thể việc đó diễn ra nhƣ thế nào. Vào thời Lê, tình hình này cũng
diễn ra tƣơng tự, Dư địa chí của Nguyễn Trãi chỉ thoảng qua về non sông, cảnh vật
nơi đây… Sang đến thời Nguyễn, xuất hiện khá nhiều cuốn sách địa chí ghi chép về
các lĩnh vực trong đó có di tích, cổ tích ở nhiều địa phƣơng nhƣ cuốn Đại Nam nhất
thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có các nội dung về hiện trạng
thành trì, cổ tích, lăng mộ, đền miếu, chùa quán… hiện có trong toàn tỉnh Bắc Ninh.
Ở thời kỳ này còn phải kể tới cuốn sách địa chí do các tác giả là ngƣời địa phƣơng
hoặc khuyết danh viết về các mặt tự nhiên, con ngƣời, sản vật của xứ Kinh Bắc
trong đó có nhắc tới một số di tích ở đây, tiêu biểu nhƣ các cuốn: Bắc Ninh địa dư

vết chứng tỏ ngƣời Việt cổ đã từng có mặt ở đây khá sớm “con ngƣời đã bƣớc vào
khai phá chinh phục đồng bằng từ khá sớm, ít nhất là cách ngày nay 4000 năm” [70,
tr.31]. Các bài viết, công trình nghiên cứu về di tích khảo cổ ở Bắc Ninh có thể kể tới
nhƣ Đôi bờ Ngũ Huyện Khê của GS Trần Quốc Vƣợng đăng trên tạp chí Khảo cổ học

19
số 16 năm 1974, Một Hà Bắc cổ trong lòng đất của các tác giả Trần Quốc Vƣợng,
Trần Đình Luyện, Nguyễn Ngọc Bích do Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản năm 1981…
Với GS Trần Quốc Vƣợng, có lẽ ông đã khá ƣu ái với mảnh đất xứ Bắc nên đã có
nhiều bài viết về vùng đất này. Trong cuốn Việt Nam một cái nhìn địa văn hóa - ông
dành tới 4 bài viết để bàn về các vấn đề nhƣ lịch sử hình thành, văn hóa, vai trò của
Hà Bắc - Bắc Ninh trong sự hình thành văn minh Việt cổ…
Bắc Ninh - Kinh Bắc từ lâu đã đƣợc coi là vùng đất văn hiến, có lịch sử lâu
đời. Ngày nay các yếu tố cấu thành nên các giá trị văn hiến ấy vẫn còn đƣợc bảo tồn
và tiếp tục lƣu truyền cho các thế hệ mai sau. Tác giả Trần Đình Luyện là ngƣời có
nhiều nghiên cứu về văn hóa Bắc Ninh. Ông đã cho xuất bản những cuốn sách nhƣ
Văn hiến Kinh Bắc (2 tập), Bảo tồn và phát huy DSVH Kinh Bắc [50] nhằm giới thiệu
về các DSVH của xứ Bắc nhƣ làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán và các di tích lịch
sử văn hóa. Nhìn chung, các cuốn sách này chủ yếu điểm qua một số di tích tiêu biểu
mà bấy lâu đã đƣợc nhiều ngƣời biết đến. Với số lƣợng di tích trên thực tế khá lớn thì
chƣa thấy hết đƣợc sự đa dạng và phong phú về các loại hình di tích của địa phƣơng.
Năm 2003, Bảo tàng Bắc Ninh cho xuất bản cuốn sách Các di tích lịch sử văn hóa
Bắc Ninh [60] do tác giả Lê Viết Nga chủ biên. Tập sách đã khảo sát, thống kê các di
tích lịch sử văn hóa theo địa giới hành chính huyện, thị hiện nay, trong đó dành nhiều
dung lƣợng giới thiệu chi tiết, đầy đủ các di tích lịch sử văn hóa đã đƣợc nhà nƣớc
xếp hạng. Đến năm 2013, cuốn sách này đã đƣợc tái bản lần thứ nhất có sửa chữa, bổ
sung. Năm 2009, BQL di tích Bắc Ninh cho xuất bản cuốn Các di tích tiêu biểu tỉnh
Bắc Ninh, tập 1 do Nguyễn Duy Nhất làm chủ biên [54]. Cuốn sách đã chọn gần 30
di tích tiêu biểu thuộc các loại hình lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ học do
vậy nội dung các phần viết đƣợc chuyên sâu hơn, cụ thể hơn về lịch sử hình thành,

gian từ năm 1955 đến năm 1980…
Sau khi tái lập tỉnh Bắc Ninh, đã xuất hiện nhiều hơn những bài viết về quản
lý di tích và đƣợc đăng trên một số tạp chí chuyên ngành, hội thảo khoa học. Năm
1997, khi đề cập tới việc qui hoạch tu bổ, tôn tạo khu di tích ở Đình Bảng, tác giả
Nguyễn Đức Thìn đã nêu ra thực trạng việc quản lý qui hoạch, tu bổ tôn tạo 12 di
tích lịch sử văn hóa (trong đó có 7 di tích liên quan đến nhà Lý), việc tuyên truyền
kêu gọi cộng đồng tham gia bảo vệ các di tích ở Đình Bảng. Tác giả bƣớc đầu đề
xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cụm di tích nói trên [77].

21
Tác giả Nguyễn Bá Hòe thì bàn tới Việc quản lý, khai thác khu di tích lăng và đền
thờ Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ với vai trò của BQL địa phƣơng
cùng sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng. Trong khai thác các giá trị của di tích,
tác giả nhấn mạnh việc cần thiết phải quảng bá hình ảnh cho di tích, cải tạo cơ sở hạ
tầng cũng nhƣ môi trƣờng cảnh quan quanh khu vực của di tích [34, tr.36-38].
Tác giả Lê Viết Nga trong bài Về việc tu bổ, tôn tạo và phát huy tác dụng các
di tích của tỉnh Bắc Ninh [57, tr.57 - 58] đã nêu ra thực trạng bảo tồn di tích ở Bắc
Ninh với những ƣu điểm nhƣ tiến hành tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp cho đƣợc một
số di tích, việc thu hút sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ di tích những
vấn đề còn tồn tại nhƣ đốt vàng mã, mê tín dị đoan, kinh doanh lễ hội, hiện tƣợng
khoán trắng di tích, nhiều địa phƣơng chỉ lo sắm đồ thờ, làm tƣợng, không quan tâm
đến hiện trạng của di tích Theo tác giả, những hạn chế này xuất phát từ nhận thức
hữu khuynh về tín ngƣỡng văn hóa của một số lãnh đạo chuyên môn, chính quyền các
cấp. Với vai trò của nhà quản lý, tác giả đề ra một số phƣơng hƣớng cho hoạt động
quản lý, qui hoạch tu bổ tôn tạo cho các di tích ở giai đoạn tiếp theo. Sau đó 4 năm
(2001) tác giả lại có bài viết Công tác quản lý các di tích ở tỉnh Bắc Ninh [58] đề cập
một số thực trạng quản lý di tích trong các hoạt động nhƣ kiểm kê, tu bổ, tôn tạo,
chống xuống cấp và phát huy giá trị di tích từ hai cấp độ: cấp tỉnh và cấp huyện, thị
xã, phƣờng, thôn. Bài viết xuất phát từ kinh nghiệm của ngƣời trực tiếp làm công tác
quản lý đã cho thấy những thuận lợi trong hoạt động quản lý di tích trên địa bàn tỉnh

UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức năm 2013
cũng có một số tham luận đề cập tới công tác quản lý di tích ở Bắc Ninh, tiêu biểu
nhƣ tham luận Thực hiện Luật di sản văn hóa góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Văn Phong [99]. Tác giả
của bài viết đề cập tới một số vấn đề trong quản lý di tích nhƣ ban hành các văn bản
quản lý, xếp hạng di tích, bảo vệ di tích, công tác tu bổ, tôn tạo di tích Nhìn chung
đây là các vấn đề đƣợc đƣa ra qua thực tế quản lý trong một vài năm gần đây.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử văn
hóa có liên quan đến triều Lý ở Bắc Ninh do tác giả Trịnh Thị Minh Đức làm chủ
nhiệm [29] là công trình nghiên cứu về giá trị của các di tích, trong công trình cũng
đã nêu ra nhiều nội dung liên quan đến vấn đề quản lý nhà nƣớc về di tích, bởi lẽ
trong chƣơng 3 của đề tài, tác giả đã dành một dung lƣợng khá lớn đề cập tới những
giải pháp nhằm bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị các di tích có liên quan đến nhà

23
Lý. Trong các giải pháp này, tác giả đề cập trực tiếp tới việc nâng cao chất lƣợng
các hoạt động quản lý nhƣ về tu bổ, tôn tạo, kiểm tra và xử lý các vụ vi phạm di
tích, giải pháp về tƣ liệu hoá, về nguồn nhân lực, nâng cao chất lƣợng quản lý,
tuyên truyền phổ biến các văn bản của nhà nƣớc cho cộng đồng để cộng đồng tích
cực tham gia vào công tác bảo vệ di tích. Bàn tới các giải pháp về phát huy giá trị,
cần tăng cƣờng quảng bá cho các di tích, nâng cao chất lƣợng cơ sở hạ tầng, nguồn
nhân lực để phát triển du lịch. Đặc biệt tác giả đề cao việc tạo ra các sản phẩm du
lịch độc đáo chính từ các DSVH liên quan đến nhà Lý, điều này sẽ thu hút đƣợc
khách du lịch trong và ngoài nƣớc. Tuy chỉ dừng lại trong khuôn khổ các di tích liên
quan tới thời Lý nhƣng những đề xuất đó là những gợi mở thực tế và có khả năng
áp dụng vào thực tiễn đối với các di tích khác ở Bắc Ninh.
Qua phần tổng quan về các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan
đến nội dung luận án, NCS có một số nhận định bƣớc đầu nhƣ sau:
- Di sản văn hóa hiện nay là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
thể hiện qua nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới trên cả phƣơng diện lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status