Giải pháp giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

 VŨ THỊ PHƯỢNG
GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI
Ở HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH VĂN ĐÃN
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả
Vũ Thị Phượng
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình
và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Vũ Thị Phượng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
Danh mục hộp viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu đề tài 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Nội dung nghiên cứu 3

3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 40
4.1.1 Thực trạng khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 40
4.1.2 Thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh 54
4.1.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu kiện
về đất đai ở huyện Yên Khánh 74
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai giai
đoạn 2015 - 2020 82
4.2.1 Căn cứ đưa ra giải pháp 82
4.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai 84
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1 Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Diễn giải nội dung
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu
GCN : Giấy chứng nhận
GCNQSDĐ : GCNQSDĐ
GPMB : Giải phóng mặt bằng
KN : Khiếu nại
KKĐĐ : Khiếu kiện đất đai
LĐ : Lao động

4.4 Tổng hợp số vụ khiếu kiện về tranh chấp đất đai ở huyện Yên Khánh từ
năm 2011 – 2013 43
4.5 Nhóm chủ thể tham gia khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ
năm 2011 – 2013 45
4.6 Nguyên nhân phát sinh các vụ khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên
Khánh 50
4.7 Kết quả giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh từ năm
2011 – 2013 55
4.8 Ý kiến của người dân về nguyên nhân hoà giải chiếm tỷ lệ cao 57
4.9 Nguyên nhân hòa giải cơ sở không đạt được kết quả cao 63
4.10 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc giải quyết khiếu
kiện đất đai thông qua hòa giải 64
4.11 Đánh giá về công tác giải quyết khiếu kiện đất đai của cơ quan có thẩm
quyền ở huyện Yên Khánh 68
4.12 Ý kiến của cán bộ về những khó khăn trong công tác giải quyết khiếu
kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 70
4.13. Ý kiến của người dân, cán bộ về nguyên nhân công tác cấp GCNQSDĐ
chậm 72
4.14 Đánh giá của người dân về những hạn chế của đội ngũ cán bộ trực tiếp
giải quyết khiếu kiện đất đai ở huyện Yên Khánh 77
4.15 Ý kiến của người dân về công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến
pháp luật
81
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Tên biểu đồ Trang


4.4 Không ai chịu thừa nhận mình sai 49
4.5 Giá đền bù như thế thì chúng tôi làm sao chấp nhận được… 52
4.6 Ngày xưa, các quy định không như vậy… 53
4.7 Hoà giải khiếu kiện đất đai giúp giảm tải áp lực cho UBND huyện 61
4.8 Bao giờ có tiền thì kiện tiếp…. 65
4.9 Càng ngày, các khiếu kiện đất đai ngày càng phức tạp …. 66
4.10 Giải quyết khiếu kiện về đất đai rất mất thời gian… 73
4.11 Hiếm khi thấy Nhà nước xin lỗi dân… 73
4.12 Khó đến đâu, xin ý kiến đến đó… 75
4.13 Bức xúc lắm, nhưng cơ chế như vậy… 75
4.14 Giải quyết có tình, có lý thì khó lắm…. 78 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất
đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai là không có bất kỳ một ngành
sản xuất nào, không có quá trình lao động nào diễn ra và không có sự tồn tại của xã
hội loài người. Không những vậy, đất đai còn có vai trò rất quan trọng đi đôi với sự
phát triển của xã hội, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng
lớn trong khi đất đai lại có hạn, điều đó đã làm cho quan hệ giữa người với người và
với đất đai ngày càng trở nên phức tạp.
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm
gần đây tình hình khiếu kiện về đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp
về tính chất, nhất là ở những vùng đang đô thị hóa nhanh. Các dạng khiếu kiện về
đất đai phổ biến trong thực tế là: khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về

tỉnh và cả nước, huyện Yên Khánh đã có những bước phát triển đáng kể ở hầu hết
các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế, những
vấn đề bất cập xảy ra trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện
cũng diến biến ngày càng phức tạp.
Sau khi có Luật đất đai năm 2003, việc giải quyết khiếu kiện đất đai ở
huyện Yên Khánh có nhiều chuyển biến tích cực, đi vào nề nếp. Các vụ khiếu kiện
kéo dài giảm rõ rệt, công tác giải phóng mặt bằng các công trình được đảm bảo
tiến độ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các khiếu kiện đất đai vẫn còn nhiều
bất cập, tình khiếu kiện diễn ra ngày càng tăng, nhiều sai phạm trong giải quyết
khiếu kiện đặc biệt là khiếu kiện về tranh chấp đất đai chưa được khắc phục, hiệu
quả giải quyết chưa cao, nhiều vụ việc vẫn còn tồn đọng,
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Giải pháp
giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình".
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên
Khánh, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện
về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về khiếu kiện về đất đai.
- Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu kiện về đất đai ở huyện Yên Khánh, tỉnh
Ninh Bình.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu kiện đất đai
trên địa bàn huyện Yên Khánh;
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện về đất đai
ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Tập trung nghiên cứu điểm tại 3 xã và 1 thị trấn.
Bao gồm: xã Khánh Hòa, xã Khánh Phú, xã Khánh Hồng và Thị trấn Yên Ninh.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013. Số liệu điều tra
tại 4 điểm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào năm 2013. Phần giải pháp định hướng
đến năm 2020.
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8/2013 đến tháng 10/2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

2. CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI

2.1 Một số lý luận về khiếu kiện, giải quyết khiếu kiện về đất đai
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khiếu kiện
Thực tế, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa rõ ràng về
khái niệm khiếu kiện là gì. Thuật ngữ khiếu kiện được ghi nhận ở Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, theo đó, “Khiếu kiện” là một từ ghép để
nói lên quyền của cá nhân, tổ chức ở nước ta có quyền khiếu nại và khởi kiện về
một quyết định hành chính hay hành vi hành chính nào đó mà người khiếu kiện cho
rằng trái pháp luật, xâm hại hoặc đe dọa đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thông qua việc sử dụng thuật ngữ này tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính năm 1996 và việc sử dụng của các nhà nghiên cứu thì nó được hiểu
theo hai cách:
Thứ nhất, theo nghĩa hẹp thì “khiếu kiện” được hiểu là việc cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị
cá nhân, tổ chức khác xâm phạm. Với ý nghĩa này thì khái niệm khiếu kiện đồng
nhất với khái niệm khởi kiện. (Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, 2000)
Thứ hai, theo nghĩa rộng, “khiếu kiện” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức
khiếu nại đến cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa

quyền (Nhà nước) với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất.
Thứ ba, nội dung của khiếu kiện về đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt
động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong
phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử
dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không
đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai đã trở thành
một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật
cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là
việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua
các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử
dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh
việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

Thứ tư, khiếu kiện về đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như:
Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết
trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội.
2.1.3 Phân loại khiếu kiện về đất đai
Phân loại khiếu kiện là việc làm cần thiết để hiểu rõ các loại khiếu kiện, là
cách thức để tìm kiếm sự trùng lập, chồng chéo của từng loại khiếu kiện, đảm bảo
cho quá trình nghiên cứu tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh, cơ sở
khách quan cho việc xác định mô hình giải quyết khiếu kiện tương ứng, trách sự
chồng chéo, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu
kiện. Việc phân loại có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau:
Theo chủ thể giải quyết khiếu kiện về đất đai bao gồm hai loại: khiếu nại
đến các cơ quan hành chính Nhà nước (UBND các cấp) và khởi kiện tại Tòa án có
thẩm quyền;

người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và
xử phạt thì ngoan cố khiếu nại. Bên cạnh đó, cũng có phần trách nhiệm của các cơ
quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết như ra quyết định xử phạt sai đối
tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng, việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót
hoặc sai pháp luật, việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật, việc ra quyết
định quá nhẹ hoặc quá nặng hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan;
- Khiếu kiện về tranh chấp đất đai: Đây là loại khiếu kiện chiếm tỷ lệ lớn
nhất hiện nay tại các địa phương. Dạng này liên quan nhiều đến việc sử dụng đất đai
của các hộ, gia đình, cá nhân. Trên thực tế, thường xuất hiện các dạng tranh chấp về
đất đai phổ biến sau:
 Tranh chấp về quyền sử dụng đất:
Đây là loại tranh chấp luôn có sự tham gia của hai hay nhiều bên. Các bên
tranh chấp với nhau về quyền quản lý và quyền sử dụng đất. Trong loại tranh chấp
này có thể chia nhỏ thành các dạng tranh chấp sau:
(1)Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa
những vùng đất được phép sử dụng và quản lý.
Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới sử dụng hoặc
do các bên không xác định được với nhau, nó thường xảy ra với các trường hợp đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

đai được chuyển nhượng qua tay nhiều người hoặc do sai sót từ phía cơ quan nhà
nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ);
(2) Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ
thừa kế
Đây có thể là trường hợp người có quyền sử dụng đất chết không để lại di
chúc và những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về
việc phân chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các qui định của pháp luật
thừa kế nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp hoặc cũng có thể người có quyền sử
dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền sử dụng đất nhưng di

nhất, đặc biệt là các tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
 Tranh chấp về mục đích sử dụng đất
Các tranh chấp này hiện nay cũng diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là tranh chấp
trong nhóm đất nông nghiệp, đó là tranh chấp giữa đất trồng lúa và đất nuôi tôm, giữa
đất trồng cây hàng năm với đất trồng cây lâu năm, giữa đất nông nghiệp với đất thổ
cư… trong quá trình phân bổ và qui hoạch sử dụng đất
Các KKĐĐ trên đây phát sinh giữa những chủ thể sau:
Thứ nhất, phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau (bao gồm giữa
hộ gia đình, cá nhân với nhau giữa hộ gia đình, cá nhân với tổ chức; giữa tổ chức
với tổ chức) liên quan đến quyền và nghĩa vụ sử dụng đất.
Thứ hai, phát sinh giữa những người sử dụng đất với cơ quan nhà nước (cơ
quan công quyền) liên quan đến việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai;
2.1.4 Nguyên nhân phát sinh khiếu kiện về đất đai
Mỗi khiếu kiện về đất đai đều có nguyên nhân, tuy tính chất, mức độ, phạm
vi khác nhau nhưng nhìn chung các khiếu kiện về đất đai đều gây ra những hậu quả
làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Do đó, cần phải tìm ra nguyên nhân để đề xuất
những biện pháp hiệu quả nhằm giải quyết, ngăn ngừa và hạn chế tối đa những
tranh chấp có thể xảy ra. Từ thực tế của hiện tượng khiếu kiện về đất đai có thể chỉ
ra một số nguyên nhân chủ yếu sau:
 Nguyên nhân khách quan
Do sự thay đổi cơ chế quản lý đất đai theo cơ chế thị trường làm cho đất đai
ngày càng trở nên có giá. Mặt khác, do sự gia tăng dân số trong khi diện tích đất có
hạn; do sửa đổi Luật cư trú với các điều kiện nới lỏng cho phép công dân được tự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

do cư trú; khuyến khích, tạo điều kiện cho người nước ngoài, Việt kiều được mua
nhà tại Việt Nam đã làm góp phần phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai.
 Nguyên nhân chủ quan

tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn yếu và chưa nghiêm túc. Việc giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất… ở nhiều điều phương vẫn thể hiện sự tùy tiện, việc lơi lỏng trong
thanh kiểm tra về đất đai, việc chậm trễ trong cấp GCNQSDĐ là lý do của rất nhiều
KKĐĐ nảy sinh và lan rộng. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công
chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai còn thiếu gương mẫu, tùy tiện trong
quản lý, vi phạm chế độ quản lý và sử dụng đất đai.
Thứ tư, do công tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai còn dựa vào
cảm tính chủ quan, nể nang, chưa đúng pháp luật và thiếu công bằng;
Công tác xét xử các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án còn
bộc lộ những hạn chế, lúng túng nhất định khi áp dụng pháp luật về đất đai, pháp
luật dân sự, đường lối chính sách của Nhà nước về đất đai trong từng giai đoạn lịch
sử dẫn đến một số bản án, quyết định của Tòa án còn chưa thật sự chính xác thiếu
khách quan. Chất lượng xét xử của Tòa án trong một số vụ chưa cao, có vụ án phải
xét xử đi xét xử lại nhiều lần, kéo dài; có những vụ án có sai lầm trong áp dụng
pháp luật, cấp trên phải sửa đổi hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới. .
Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở các địa phương
nhìn chung hiệu quả chưa cao, thiếu kịp thời, chưa dứt điểm còn để tồn đọng nhiều
đơn thư chưa giải quyết.
Thứ năm, do việc thực thi chính sách pháp luật đất đai nói chung và pháp
luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng còn
nhiều tồn tại, thiếu sót;
Thứ sáu, công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật chưa thực sự
được coi trọng, vẫn mang nặng tính hình thức, chưa hiệu quả.
Tuy nhiên, việc khiếu kiện ở mỗi địa phương khác nhau còn có những
nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử
dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để xây dựng được những giải
pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp.
2.1.5 Các nguyên tắc giải quyết khiếu kiện về đất đai
Giải quyết KKĐĐ là mong muốn của các bên khiếu kiện vì nó ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi của họ đồng thời cũng là trách nhiệm của Nhà nước bởi Nhà

các bên. Nếu lợi ích của người sử dụng đất không được bảo đảm thì việc giải quyết
khiếu kiện cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn. Do đó khi giải quyết cần
phải hài hòa lợi ích kinh tế của các bên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Mặt khác nguyên tắc này cũng đòi hỏi khi giải quyết khiếu kiện, cần khuyến
khích các bên tự hòa giải, thương lượng với nhau, nhất là các khiếu kiện về TCĐĐ.
Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, tiết kiệm thời
gian và làm giảm áp lực lên các cơ quan giải quyết cấp trên.
3) Nguyên tắc giải quyết KKĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế, xã
hội, gắn việc giải quyết KKĐĐ với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở
nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vì KKĐĐ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nên khi giải quyết tốt
KKĐĐ sẽ góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội được ổn định, phát triển sản
xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống nhân dân. Khi giải quyết khiếu kiện cần căn cứ
vào hiện trạng sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng đất ổn định lâu dài.
Mặt khác, vì giải quyết KKĐĐ là một nội dung của QLNN do đó mà các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết khiếu kiện phải chú ý gắn liền với việc tổ
chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với
quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế vì thế cũng cần chú ý đến
đặc điểm của từng vùng để có hướng giải quyết phù hợp.
2.1.6 Những tác động của khiếu kiện về đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội
Hiện nay, KKĐĐ diễn ra phổ biến với số lượng ngày càng tăng, tính chất,
mức độ càng phức tạp và phạm vi ngày càng rộng. Điều này đã gây áp lực lớn đến
các mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Về phương diện chính trị: các KKĐĐ phát sinh nếu không giải quyết kịp
thời, triệt để thì có thể gây mất lòng tin trong nhân dân từ đó làm giảm hiệu quả
trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của

chấp đất đai.
Theo Luật Đất đai năm 2003 quy định các KKĐĐ được giải quyết theo các
phương thức sau: (1) Hoà giải; (2) Giải quyết bởi cơ quan hành chính; (3) Giải
quyết thông qua Toà án.
Về hoà giải KKĐĐ: Theo Quy định của Luật đất đai năm 2003 và Điều 159
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, hoà giải KKĐĐ được thực hiện
theo ba bước sau đây:
(1) Các bên tự thương lượng
(2) Hoà giải cơ sở
(3) Hoà giải tại UBND cấp xã nơi có KKĐĐ

Trích đoạn Giải quyết có tình, có lý thì khó lắm Họ và tên:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status