BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
I HM HÀ NI 2
& PHAN TH BÍCH THUT
NGH THUT T S C
TIU THUYT CÔI CÚT GIỮA CẢNH ĐỜI (1989) VÀ
CHUYỆN CỦA LÝ (2013)
Chuyên ngành: L luc
Mã s: 60 22 01 20
LUC S
NGÔN NG T NAM
ng dn khoa hc: PGS.TS. NGUYN NGC THIN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là kết quả quá
trình nghiên cứu của bản thân, không trùng khít với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đƣợc công bố trƣớc đó.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn có tham khảo và sử dụng các tƣ liệu
tham khảo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhƣng tất cả chỉ để gợi mở cho
tôi các ý tƣởng nghiên cứu. Khi sử dụng các trích đoạn, chúng tôi có chú thích
một cách cụ thể, rõ ràng.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
PH
MC LC
I. M U 1
1. Lý do ch tài 1
2. Lch s v 2
3. Mm v nghiên cu 4
ng và phm vi nghiên cu 5
u 5
a lu 5
7. Cu trúc ca lu 6
NI DUNG 7
1I K CHUYM NHÌN NGH
THUT 7
1.1. Khái nii k chuyn trong tác phm t s 7
1.2. Khái nim nhìn ngh thut 10
3.1. Ngôn ng 60
3.1.1. Ngôn ngữ người kể chuyện 60
3.1.2. Ngôn ngữ nhân vật: Đối thoại, độc thoại 65
3.2.3. Ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên 73
3.2. Giu 76
3.2.1. Giọng điệu của người kể chuyện 76
3.2.2. Giọng điệu của nhân vật 80
3.2.3. Giọng điệu thương cảm, phê phán và giễu nhại các thế lực xấu xa . 84
3.2.4. Giọng điệu triết lý 87
III. KT LUN 90
TÀI LIU THAM KHO 92
1
M U
1. Lý do ch tài
1.1. Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Ma Văn Kháng là một trong
những cây bút lớn. Với phƣơng châm sáng tác riêng của mình Ma Văn Kháng
viết nhiều thể loại nhƣng thành công hơn cả là ở hai thể loại: Truyện ngắn và
tiểu thuyết. Cho đến nay Ma Văn Kháng đã cho trình làng trên 200 truyện
ngắn và 17 tập tiểu thuyết, trong đó có những tiểu thuyết đƣợc dƣ luận hết sức
quan tâm nhƣ: Đồng bạc trắng hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn, Côi cút
giữa cảnh đời và gần đây nhất là tiểu thuyết Chuyện của Lý.
1.2. Ma Văn Kháng là nhà văn luôn luôn khắc khoải về số phận con
ngƣời. Trong sáng tác của ông ngƣời đọc bắt gặp ở đó những nhân vật chịu
nhiều thiệt thòi trong cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần nhƣng với những
phẩm chất tốt đẹp của mình họ vẫn vƣơn lên và khẳng định phẩm chất tốt đẹp
của mình, kiên quyết đấu tranh trƣớc cái xấu xa, thấp hèn.
Ở Côi cút giữa cảnh đời nhân vật bé Duy cho ta cho hình ảnh một sự
chống chọi để vƣợt lên bao đau khổ, bất công và đắng cay. Và chỗ dựa tinh
thần để bé Duy có thể vƣợt qua mọi khó khăn đó chính là bà nội, ngƣời đã
vào trình bày những bài nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời
và những tâm sự của chính tác giả khi viết Chuyện của Lý.
Trong đó có thể kể đến một số bài viết về Ma Văn Kháng nhƣ: Bài viết “
Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời” của GS. Phong Lê (Vẫn chuyện
văn và người, NXB Văn hóa - thông tin, tr 193 - 198). Bài viết cho ta thấy
đƣợc tài năng của ngòi bút Ma văn Kháng cũng nhƣ cảm nhận đƣợc giá trị
thực sự của cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời. Về mặt nội dung cuốn
tiểu thuyết giúp ngƣời đọc nhận thức đƣợc giá trị đích thực của mỗi đơn vị gia
đình đó là những đứa con chứ không phải là tiền bạc, vật chất. Cuốn tiểu
3
thuyết hấp dẫn ngƣời đọc bởi mạch văn truyền thống là chủ nghĩa nhân văn
và tình thƣơng yêu con ngƣời.
Ma Văn Kháng trƣớc khi là một nhà văn, ông là một nhà giáo. Vì vậy tiểu
thuyết của ông luôn đƣợc viết theo luận đề, ông để cho các nhân vật, các tình
tiết tự bộc lộ.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết “Nhà giáo- nhà văn Ma
Văn Kháng” có viết: “Qua các tập truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng
Trăng soi sân nhỏ (1995), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới
không có giấy giá thú(1989), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) Ma Văn Kháng
đã khắc họa những điển hình bất hủ (cả về mặt sáng và mặt tối xã hội ta trên
bước đường chuyển đổi cơ chế)”.
Mới đây nhất nhà phê bình văn học Nguyễn Ngọc Thiện đã có nhận xét
hết sức tinh tế: “Chuyện của Lý (2013)- cuốn tiểu thuyết thứ 17 của đời văn
Ma Văn Kháng, đã cùng với Côi cút giữa cảnh đời (1989) hợp thành bộ đôi
tiểu thuyết gia đình”. Ở đây tác giả đã khẳng định tài năng của ngòi bút Ma
Văn Kháng, khi ông đi sâu vào khám phá những miền hiện thực ở bên trong
con ngƣời: tâm thức, tâm linh con ngƣời và đặc biệt là đời sống tính dục của
con ngƣời.
Chuyện của Lý cuốn tiểu thuyết mới xuất bản nên chƣa có nhiều bài viết
3. Mm v nghiên cu
Từ những lí do trên, mục đích của luận văn nhằm làm rõ đặc sắc trong
nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn tài danh Ma Văn Kháng qua hai cuốn
tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời và Chuyện của Lý. Qua đó để khẳng định tài
năng, vị trí của ông trong đời sống văn học.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Dựa vào cơ sở lí thuyết tự sự học, luận văn của tôi
sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống những đặc sắc của nghệ thuật tự sự trong
5
tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời và Chuyện của Lý
4ng và phm vi nghiên cu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Côi cút giữa
cảnh đời và Chuyện của Lý của nhà văn Ma Văn Kháng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào 2 tiểu thuyết nói trên là
chính và hai tiểu thuyết của Ma Văn Kháng là tiểu thuyết vừa có yếu tố hƣ
cấu vừa có yếu tố tự truyện.
- So sánh 2 cuốn tiểu thuyết với truyện cổ tích ( thân phận của những đứa
con mồ côi) nhƣng có chí và trƣởng thành (nhân vật của Ma Văn Kháng mồ
côi nhƣng không phải mất cha mẹ và vì hoàn cảnh phải sống mồ côi).
5u
- Phƣơng pháp so sánh, tổng hợp.
- Phƣơng pháp nghiên cứu thi pháp học.
a lu
Từ việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự qua 2 tác phẩm: Côi cút giữa cảnh đời
và Chuyện của Lý giúp cho ngƣời đọc thấy đƣợc những đặc sắc của bút pháp
Ma Văn Kháng về:
+ Ngƣời kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật.
+ Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong hai tiểu thuyết Côi cút
giữa cảnh đời và Chuyện của Lý.
+ Ngôn ngữ và giọng điệu trong hai cuốn tiểu thuyết.
Trƣớc đây khái niệm này hầu nhƣ bị bỏ qua, ngƣời ta chỉ nghiên cứu nhân
vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ…vv, ngƣời kể chuyện trong văn
bản biến mất, gần nhƣ vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả. Những năm gần
đây, sự ý thức về chủ thể của văn học cùng với việc mở rộng tiếp thu các
thành tựu lý luận trên thế giới đã có những tác động mạnh mẽ đến ý thức của
những ngƣời nghiên cứu văn học.
Theo Pospelov thì ngƣời kể chuyện “người môi giới giữa các hiện tượng
được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa
các sự việc xảy ra” [64- Tr197]. Còn với Todozov thì ông tuyên bố: “người kể
chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng không thể
có trần thuật thiếu người kể chuyện. Người trần thuật không nói như các
nhân vật tham thoại mà kể chuyện. Như vậy, kết hơp trong mình cả nhân vật
và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn
8
đặc biệt” [63- Tr117].
Cũng đƣa ra khái niệm về ngƣời kể chuyện nhƣng trong quan niệm của
W.Kayser, ngƣời kể chuyện là một khái niệm mang tính chất cực kì hình
thức: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác
phẩm văn học. Ở nghệ thuật, không bao giờ người kể chuyện là vị trí tác giả
hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [64-
196].
Ngƣời kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác
giả trong tác phẩm. Khác với ngƣời kể chuyện trong thực tế đời sống là những
con ngƣời cụ thể, hữu hình, có hình hài, điệu bộ Thì đến ngƣời kể chuyện
trong tác phẩm tự sự, tất cả những yếu tố hữu hình cụ thể này đều đƣợc
chuyển vào trong văn bản thông qua các thủ pháp nghệ thuật.
Trong một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều ngƣời kể chuyện. Hình
tƣợng ngƣời kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá
bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trƣờng xã hội cho cái nhìn tác giả,
của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm ta có thể phân loại thành: ngƣời kể
chuyện ở ngôi thứ nhất và ngƣời kể chuyện ở ngôi thứ ba, cá biệt có trƣờng
hợp ngƣời kể chuyện vừa ở ngôi thứ nhất vừa ở ngôi thứ ba.
Ngƣời kể chuyện ở ngôi thứ nhất xuất hiện một cách trực tiếp xƣng “tôi”
hoặc “chúng tôi”, ngƣời kể chuyện đứng ở vị trí bên trong nhƣ một chủ thể,
đƣợc tự do quan sát luận bàn, có điều kiện đi sâu vào tìm hiểu khám phá thế
giới hiện thực trong tác phẩm. Ngƣời kể chuyện ở ngôi này có thể mang quan
điểm của tác giả nhƣng không phải lúc nào cũng trùng khít với tác giả. Lời kể
bộc lộ tính chủ quan và mang sắc thái cảm xúc cao độ.
10
Ngƣời kể chuyện ở ngôi thứ ba làm cho câu chuyện hoàn toàn mang tính
khách quan, ngƣời kể chuyện biết hết mọi chuyện.
Tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong hai cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời
và Chuyện của Lý , chúng tôi nhận thấy nét đặc sắc trong sáng tác của ông đó
là cách xây dựng nhân vật ngƣời kể chuyện. Với khuôn khổ của luận văn,
chúng tôi đi sâu tìm hiểu 3 yếu tố chi phối ngƣời kể chuyện là ngôi kể, điểm
nhìn và giong điệu ngƣời kể chuyện.
1.2. Khái nim nhìn ngh thut
Điểm nhìn nghệ thuật là một phƣơng diện quan trọng trong nghệ thuật tự
sự. Điểm nhìn đƣợc hiểu là vị trí, cự ly của ngƣời trần thuật lựa chọn để quan
sát, nhận thức và đánh giá hiện thực trong tác phẩm.
Ở Âu Mĩ, theo K.Wales, trong nghiên cứu văn học và thi pháp học, “điểm
nhìn” là một trong những thuật ngữ đƣợc bàn cãi nhiều nhất trong thế kỉ XX
với nhiều cách hiểu khác nhau và những tên gọi khác nhau: “phối cảnh” hay
“góc nhìn” [63- Tr86]
Nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật là một thao tác hƣớng tới việc tìm hiểu
phƣơng thức tiếp cận của nhà văn với hiện thực cũng nhƣ cách thức nhà văn
lựa chọn, xác lập triển khai mô hình tổ chức tác phẩm. Đối với văn bản nghệ
thuật (thơ, truyện, kí) thì một mặt, tổ chức văn bản đƣợc sáng tạo tự do và sử
qua các mối quan hệ: Ngƣời kể và cốt truyện, ngƣời kể và nhân vật, ngƣời kể
và lời kể, ngƣời kể và ngƣời đọc hàm ẩn Từ những quan hệ do suy ý của
ngƣời đọc, ta có thể phát hiện ở một tác phẩm nào đó một hay một số điểm
nhìn nghệ thuật của tác giả. Có thể thấy điều này ở cách thay đổi tên tác
phẩm. Chẳng hạn truyện Chí Phèo của Nam Cao có những tên gọi khác nhau:
Cái lò gạch cũ, Đôi lứa xứng đôi và cuối cùng là Chí Phèo . Gọi Đôi lứa xứng
12
đôi là hƣớng về cốt truyện, một truyện tình làm thay đổi số phận của bao
nhiêu nhân vật, goi là Cái lò gạch cũ , có ý gợi ra cái nơi sinh ra Chí Phèo, và
cuối cùng gọi hẳn Chí Phèo , vừa hƣớng tới nhân vật trung tâm lại vừa gợi ra
một hiện tƣợng xã hội, “hiện tƣợng Chí Phèo”. Điểm nhìn nghệ thuật có thể
nhận biết qua sự nhận biết của ngƣời đọc.
Theo Iulotman, vấn đề điểm nhìn văn bản bao giờ cũng là vấn đề quan hệ
giữa ngƣời sáng tạo và sản phẩm sáng tạo “Nó không chỉ là điểm nhìn thuần
túy quang học nhƣ khái niệm tiêu cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm
lập trƣờng tƣ tƣởng tâm lí con ngƣời” [64 - Tr191]. Điểm nhìn đem lại cho văn
bản định hƣớng nhất định về chủ thể và vị trí tác giả. Việc chuyển đổi điểm
nhìn trần thuật giúp nhà văn sắp xếp bố cục, phát triển nội dung của truyện gắn
với tƣ tƣởng của nhà văn.
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, Nhà văn muốn
phản ánh đƣợc thế giới ấy thì phải chọn cho mình một chỗ đứng, một điểm
nhìn để từ đó quan sát, chiêm nghiệm. Điểm nhìn chi phối cách tƣ duy, sự
nhậy bén và chiều sâu tƣ tƣởng của nhà văn với cuộc đời. Marcel Poust đã
cho rằng: “Vấn đề quan trọng nhất của phong cách là điểm nhìn. Điểm nhìn
chi phối cảm hứng sáng tác và bộc lộ cá tính sáng tạo của nhà văn. Chọn đƣợc
điểm nhìn thích hợp nhà văn sẽ tạo đƣợc cho mình ấn tƣợng riêng, độc đáo
trong từng trang viết, làm nên phong cách không thể trộn lẫn với ai”.
Trong tác phẩm tự sự nhà văn có thể tiến hành trần thuật theo quan điểm
của mình, hoặc theo quan điểm của một trong các số nhân vật, hoặc kết hợp
ng, ngƣời viết cùng một lúc tổ chức nhiều điểm nhìn,
mỗi điển nhìn thể hiện những quan niệm khác nhau, những cách đánh giá hiện
14
thực khác nhau. Nhà văn không chỉ trao cho nhân vật một điểm nhìn mà cùng
lúc có nhiều nhân vật nhiều điểm nhìn trần thuật. Vận dụng các điểm nhìn
trần thuật góp phần tạo nên tính sinh động, hấp dẫn cho ngƣời đọc.
1.3. m nhìn ngh thut trong 2 tác phm Côi cút giữa cảnh đời và
Chuyện của Lý
Điểm nhìn nghệ thuật, là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn
thế nữa la một cấu trúc tiềm ẩn đƣợc ngƣời đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý
từ các mối quan hệ phức tạp giữa ngƣời kể và văn bản, giữa văn bản và ngƣời
đọc văn bản, giữa ngƣời kể và ngƣời đọc hàm ẩn. Nhƣ Letxing đã từng nói
“Văn học là tấm gƣơng phản chiếu thời đại”, là nơi gửi gắm cái nhìn và chiều
sâu tƣ tƣởng của nhà văn về cuộc đời. Cho nên sự phong phú về điểm nhìn là
chìa khóa mở nhiều cánh cửa để đi sâu phản ánh hiện thực đời sống ở nhiều
góc cạnh khác nhau.
Ma Văn Kháng, một nhà văn cần mẫn, say mê với nghề. Với sức sáng tạo
không mệt mỏi, đến nay ông đã cho ra đời một khối lƣợng tác phẩm văn học
tƣơng đối lớn và có giá trị ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận
và bút kí phê bình Riêng ở thể loại tiểu thuyết đến nay Ma Văn Kháng đã
cho ra đời 16 cuốn tiểu thuyết, trong đó có ba cuốn nằm trong cụm tác phẩm
đƣợc Giải thƣởng Hồ Chí Minh năm 2012. Đó là: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa
cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn. Cuốn Mùa lá rụng trong vườn đƣợc giải
thƣởng Hội nhà văn năm 1986. Cùng với cuốn Đồng bạc trắng hoa xòe và tập
truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, cuốn này nằm trong cụm 3 tác phẩm đƣợc nhà
nƣớc về VHNT đợt I năm 2001. Mới đây nhất cuốn tiểu thuyết Chuyện của
Lý đƣợc xuất bản năm 2013 đƣợc giải thƣởng VHNT năm 2013 của hội
VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Đặc biệt coi trọng vị trí của tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của ngƣời
16
ngƣời kể chuyện dẫn dắt ngƣời đọc vào trạng thái tâm tình, khiến học có cảm
giác đƣợc thấy cuộc sống qua tâm hồn ngƣời trong cuộc nên những gì họ nói,
họ biết đều rất tin cậy, đáng nhớ. Điểm nhìn bên trong giúp ngƣời đọc dễ
dàng tái hiện các quá trình trong tâm hồn nhân vật.
Tìm hiểu về điểm nhìn trong 2 cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời và
Chuyện của Lý chúng tôi nhận thấy trong cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh
đời tác giả sử dụng điểm nhìn bên trong là chủ yếu, đến tiểu thuyết Chuyện
của Lý điểm nhìn bên ngoài là chủ yếu. Tuy nhiên trong cả hai cuốn tiểu
thuyết này có cả sự luân phiên điểm nhìn.
Côi cút giữa cảnh đời không khai thác những tình huống phiêu lƣu, mạo
hiểm kích thích tính hiếu kì, không đề cập đến những lời giáo huấn, không lơ
lửng bay trong những giấc mộng cao xa, không quẩn quanh phản ánh những
sinh hoạt tẻ nhạt, thuận chiều. Cuốn sách đặt con ngƣời vào dòng đời đƣơng
đại trong một hiện thực gay gắt và không ít buồn phiền đau đớn.Côi cút giữa
cảnh đời bắt đầu bằng lời kể của Duy tuổi mƣời lăm, lứa tuổi đủ độ chín để
suy ngẫm về những hồi ức “Thật tình tôi không hiểu rằng đời mình sẽ ra sao,
nếu như cách đây mười năm, khi tôi lên năm tuổi tôi không có bà nội tôi”. [29
- Tr5]
Gắn với điểm nhìn bên trong, ngƣời kể chuyện chuyển điểm nhìn vào bên
trong nhân vật để tái hiện sinh động thế giới tâm hồn của họ. Côi cút giữa
cảnh đời đƣợc kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật xƣng “tôi” là cậu bé Duy, là nhân
vật đƣợc chứng kiến từ đầu đến cuối những biến cố trong cuộc sống của các
nhân vật khác trong truyện. Duy kể lại những biến cố trong cuộc sống, những
biến cố khiến cho tuổi thơ của em và gia đình rơi vào bế tắc. Mở đầu câu
chuyện là một tiếng kếu não lòng: “Thụy ơi, thật không ai như con đâu , con
ạ!
17
chƣa biết đầu đuôi thế nào Duy đã cảm nhận thấy nỗi đau lại chồng chất nỗi
đau, “Bước vào nhà, tôi nhận ra bà tôi với nét mặt hết sức buồn bã, đang ngồi
cạnh một phụ nữ trẻ mới đẻ còn đỏ hỏn. Người phụ nữ xanh xao, tóc xõa, mắt
ậng nước. Thấy tôi vào, cô liền ngẩng lên. Tình ruột thịt là cái gi đó rất tự
nhiên. Qua ánh mắt giao hòa, tôi nhận ngay ra mối quan hệ máu mủ giữa
người nọ và tôi. Đồng thời, tôi bỗng gai người vì linh cảm thấy đã xảy ra điều
gì đó như một hiểm họa bất thường [29 - Tr 134].
Hai thứ tóc trên đầu, bỗng nhiên phải gồng mình gánh vác thay con cái,
nuôi nấng hai đứa trẻ có cha có mẹ mà thành ra côi cút, ngẫm cảnh đời cơ cực
thảm thƣơng. Bắt đầu từ đây cuộc sống của ba bà cháu mới thật là cùng quẫn.
Cái Thảm ốm hết trận này đến trận khác, có những lúc tƣởng nhƣ nó không
thể sống nổi nữa. Nhờ sự đùm bọc thƣơng yêu của những ngƣời hàng xóm tốt
bụng cái Thảm cũng qua đƣợc những cơn nguy kịch của đói khát và bệnh tật.
Đến ba tuổi nó mới hết ốm đau và dần khôn lớn. Giống nhƣ Duy, Thảm thành
đứa trẻ nhạy cảm và lớn hơn nhiều so với tuổi. Bằng việc sử dụng điểm nhìn
bên trong tác giả đã tái hiện một cách sinh động sự cô đơn, khốn khố của ba
bà cháu trong những tháng ngày khốn khổ.
Trong sáng tạo nghệ thuật điểm nhìn là yếu tố hàng đầu, điểm nhìn bên
trong cho phép trần thuật qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái
hiện các quá trình trong tâm hồn nhân vật. Với Côi cút giữa cảnh đời Ma Văn
Kháng đã rất thành công khi sử dụng điểm nhìn bên trong để đi sâu vào khám
phá hiện thực đời sống khi đất nƣớc vẫn chƣa tắt lửa chiến tranh ở các vùng
biên giới.Chọn lấy số phận của ba bà cháu Duy giữa bao xô đẩy của cảnh đời,
tiểu thuyết đã bóc trần bản chất cơ hội, hãnh tiến của một bộ phận ngƣời sau
chiến tranh, của những kẻ vọt lên giàu có nhờ buôn bán và làm ăn phi pháp,
đồng thời lên tiếng cảnh báo sự suy đồi về nhân cách của thế hệ trẻ trƣớc sức
19
mạnh tàn phá của đồng tiền và sự dung dƣỡng của cha mẹ. Bên cạnh cảm
hứng phê phán là cái nhìn cảm thƣơng trân trọng những con ngƣời biết vƣợt
1.3.2. Điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn nghệ thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo
nghệ thuật. Có đƣợc điểm nhìn, ngƣời kể chuyện dễ dàng giao tiếp với bạn
đọc và ngƣời tiếp nhận, có thể khám phá ra những tầng nghĩa hàm ẩn trong
tác phẩm. Nếu nhƣ điểm nhìn bên trong giúp cho câu chuyện đƣợc kể mang
đậm tính chủ quan thì điểm nhìn bên ngoài thể hiện tính khách quan tối đa
cho trần thuật. Nó giúp nhà văn bao quát nhiều phƣơng diện và góc độ của
hiện thực cuộc sống hơn. Ngƣời kể chuyện ẩn đi để câu chuyện đƣợc kể đạt
mức độ khách quan cao nhất. Cuốn tiểu thuyết Chuyện của Lý ngƣời kể đã
thuật lại những sự kiện khách quan: “Mẹ Nhu và Lý về ở với bà Pham, ông
Thòn bên Thôn Một Thèn Phàng, cách thôn trung tâm của xã Thèn Phàng,
nơi cơ quan huyện ủy sơ tán một con suối tên là suối lớn. Chả có tiền công xá
gì đâu! Mà nếu có lương thì mẹ Nhu đang là cô giáo nay hạ xuống bậc cấp
dưỡng thì lấy đâu mà trả.” [36 - Tr9]
Với điểm nhìn bên ngoài có khoảng cách với đối tƣợng trần thuật, Ma
Văn Kháng đã cho ngƣời đọc thấy đƣợc hoàn cảnh sống của hai mẹ con Lý.
Ngƣời kể chuyện đứng từ bên ngoài dẫn dắt ngƣời đọc vào không khí truyện,
hình dung ra toàn bộ câu chuyện: “Nói cho đúng thì cái Lý có cất tiếng khóc
vừa lúc lọt lòng mẹ Nhu thật! Khóc to là khác!Khổ! Mẹ nó trở dạ lúc nửa
đêm. Ông Thòn vác cây súng kíp chạy sang. Húi! Con bé này cầm tinh con
hổ, mà là hổ đêm, hổ đi kiếm mồi, rồi là gan cóc tía lắm đây! Bà Pham vội
đeo dao bao, ra sau rừng vạch lá đi lấy thêm cây thuốc trợ sức cho đàn bà đẻ.
Cơ quan huyện ủy sơ tán mỗi người một căn nhà, một góc rừng, chẳng ai biết.