TÁC ĐỘNG của các yếu tố môi TRƯỜNG đến sự PHÂN bố RỪNG NGẬP mặn KHU dự TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP mặn cần GIỜ, THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH - Pdf 30


Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI

382 Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỰ PHÂN BỐ
RỪNG NGẬP MẶN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN
CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Xuân Tuấn
(1)
, Nguyễn Xuân Tùng
(2)

(1)
Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo, Tổng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ
TN&MT,
(2)
Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, Trường ĐHSPHN

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc trưng ở vùng cửa sông ven biển và đóng vai trò rất
quan trọng về kinh tế, xã hội, sinh thái và môi trường. Sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và
phân bố của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện môi trường nơi chúng sống. Bài báo này
trình bày những phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố địa hình, chế độ ngập và độ
mặn đến sự phân bố hệ thực vật ngập mặn, tại vùng rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ
Chí Minh.

1. Mở đầu
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc trưng ở vùng cửa sông ven biển và đóng vai
trò quan trọng cả về yếu tố kinh tế lẫn sinh thái cảnh quan và môi trường ở các vùng
đất ngập nước ven biển của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sự tồn tại, sinh trưởng,
phát triển và phân bố của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa hình địa mạo nơi

Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 383

tích mặt nước của huyện vào khoảng 21.000 ha chiếm gần 30% lãnh thổ. Rừng ngập
mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều (hai lần nước lớn và
hai lần nước ròng trong ngày). Biên độ trong thời kỳ triều cường từ 3 – 4 m, trong kỳ
triều kém từ 1,5 – 2 m. Hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng hai chân triều lệch
nhau. Biên độ triều có xu hướng giảm dần từ phía Nam tiếp giáp với Biển Đông. Biên
độ triều cực đại trong rừng ngập mặn từ 4,0 – 4,2 m, trong đó biên độ từ 3,6 – 4,1 m ở
vùng phía Nam và từ 2,8 – 3,3 m ở vùng phía Bắc Cần Giờ. Các bãi bồi được bồi tụ
dọc theo sông Nhà Bè, Ngã Bảy, sông Dừa tạo thành vòng cung bao bọc vùng đầm
lầy. Trầm tích chủ yếu là bột cát sét. Cao độ của các loại địa hình theo các mức ngập
có thể chia thành 5 dạng sau: 1) Ngập hai lần trong ngày (0.0 – 0.2m); 2) Ngập một lần
trong ngày (0.2 – 0.5m); 3) Ngập theo chu kỳ tháng (0.5 – 1.0m); 4) Ngập theo chu kỳ
năm (1.0 – 1.5m); 5) Ngập theo chu kỳ nhiều năm ( >1.5m). Các nhóm đất chính ở
huyện Cần Giờ bao gồm:
- Đất giồng cát ở dọc bờ biển có diện tích khoảng 680 ha, hầu như không bị
ngập, đất có phản ứng chua, nghèo hữu cơ, hàm lượng chất dinh dưỡng nghèo.
- Đất phù sa trên nền phèn tiềm tàng có lớp mùn tầng mặt khá cao, phân bố ở xã
Bình Khánh, xã Lý Nhơn. Ngoài ra, một phần đất phù sa ven sông có tầng loang lỗ đỏ
vàng, nhiễm mặn về mùa khô với độ cao trên dưới 2 m ở Bình Khánh.
- Đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn vào mùa khô ở phía nam xã Bình Khánh và xã
An Thới Đông, tầng sinh phèn xuất hiện nông, đất sét và thịt.
- Đất phèn mặn:
+ Vùng đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, nhiều mùn bã hữu cơ,
ngập mặn thường xuyên có diện tích 27.280 ha, phân bố tập trung ở lòng chảo giữa
huyện Cần Giờ. Đất sét và thịt chiếm từ 85% - 95%. Đất đang hình thành chưa ổn
định, nhão toàn phẫu diện, giàu mùn, đất mặn nhiều.
+ Vùng đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, nhiều bã hữu cơ. Ngập
mặn theo con nước có diện tích là 4.780 ha, phân bố chủ yếu vùng lòng chảo đầm lầy
ngập mặn, có độ cao khoảng 1 m. Đất sét và thịt chiếm 94% - 95%, tầng mặt đất chặt

điều kiện môi trường có độ mặn thay đổi và cao, vì vậy một số cây ngập mặn có cơ
chế điều chỉnh nồng độ muối trong cây để tồn tại và phát triển như [5]:

Bài tiết muối: như các loài Sú (Aegiceras spp.), Mắm (Avicennia spp,), Ôrô
(Acanthus spp.) có thể thích nghi với điều kiện này do bài tiết muối qua tuyến muối
trong lá.

Giữ muối: Lượng muối dư được giữ trong không bào bài tiết muối rồi thải
qua lá rụng, như Mắm (Avicennia spp.), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhira), Cóc
vàng (Lumnitzera racemosa).

Cân bằng tiềm năng thẩm thấu: lũy trọng lượng phân tử carbonhydrat thấp
hơn thế năng thẩm thấu và như vậy cây có thể hấp thu nước từ môi trường mặn.

Loại trừ muối: Tính chất vật lý này nhằm ngăn cản muối vào trong xylem
của rễ bằng cơ chế bơm qua màng như Trang (Kandelia candel), Cóc vàng
(Lumnitzera racemosa), Sú (Aegiceras spp.).
Do sống trong môi trường khắc nghiệt, bị tác động của sóng và nền đất không
ổn định, tỉ lệ sống không cao nên cây rừng ngập mặn có các đặc điểm để tái sinh như
[4,6,8]:
• “Hiện tượng sinh con”. Một đặc điểm đặc biệt của các loài cây ngập mặn là có
hiện tượng sinh con. Hạt của các loài này nảy mầm sau khi chín và không có thời kỳ
nghỉ ngay ở trên cây mẹ, tạo ra cây con nối liền với quả gọi là trụ mầm. Kích thước và
độ dài của trụ mầm ở các loài cây khác nhau, nhưng đều có dạng thuôn, phần bụng hơi
phình to, sau nhọn dần, trù loài vẹt có hình trụ có cạnh đều, hơi nhọn hai đầu. Trụ dài
nên nó dễ dàng nổi trên mặt nước và phát tán, dễ cắm xuống đất và hướng ngọn lên
trên rồi phát triển rễ nhanh chóng. Các loài thuộc chi mắm và sú cũng còn có hiện
tượng sinh con kín, hạt cũng nảy mầm trên cây mẹ nhưng trụ mầm nằm kín trong vỏ
quả, không ló ra ngoài.
• Tính thích nghi của các loài không có trụ mầm: Như cây Cui (Heritiera

bồi, ngập nước triều sâu, một vài chỗ có thêm ít cây Đưng (Rhizophora mucronata).
- Quần xã Đước (Rhizophora apiculata) và Bần trắng (Sonneratia alba)
được hình thành trên đất bồi đã ổn định nhờ quần thể tiên phong, trong quần xã
còn có Xu ổi (Xylocarpus granatum) Trang (Kandelia candel). Các loài tham gia
Derris trifoliata, Aegiceras corniculatum. Quần xã này chiếm khoảng 1/10 diện tích
rừng ngập mặn.
- Quần xã R. apiculata và X. granatum trên đất có độ ngập 2 - 2,5 m. Đây
là loại quần xã phổ biến chiếm 25% diện tích.
- Quần xã R. apiculata và Ceriops decandra trên đất ngập triều cao 2,5 - 3,0 m.
- Quần xã Avicennia officinalis và Ceriops decandra trên đất ngập triều cao 2,5
- 3,0 m.
- Quần xã Excoecaria agalocha (Giá) và Phoenix paludosa (Chà là) trên đất
chỉ ngập khi triều cao 3,3 - 4,0 m. Các loài khác là X. molluccensis,C.tagal,
Acrostichumaureum (Ráng), Heritiera littoralis (Cui biển), Flagellaria indica (Mây
nước).
Nhóm thực vật nước lợ: phân bố dọc theo các mép sông có chiều rộng 5 –15
m. Có thể chia thành 4 vùng quần xã:
- Vùng có loài ngập nước triều 1 - 1,5 m với loài tiên phong là
Sonneratia caseolaris (Bần chua).
- Vùng ngập nước triều 1,5 - 2 m có quần xã Cryptocoryne ciliata (Mái dầm)
và Acanthus ebracteatus (Ô rô trắng) với loài Nypa fruticans (Dừa nước),
Cyperus malaccensis (Cói), D. heterophylla.
- Vùng ngập nước triều 2 – 3 m có quần xã Annona reticulata (Mãng
cầu) và Flagellaria indica (Mây nước). Các loài khác: Amoora cucullata,
Barringtonia catangula, Gardenia licida.
- Vùng ngập nước triều 3 – 4 m có quần xã Melastoma polyanthum (Mua),
Dalbergia candenatensis (Sưa biển). Các loài khác: Pandanus tectorius (Dứa
dại), Glochidion littorale (Bọt ếch) H. tiliaceus (Cui), Thespesia populnea (Tra
biển), Clerodendron inerme (Ngọc nữ biển), Pluchea indiaca (Lức).


0,0-0,5m
0,5-1m
1-1,5m
1,5-2m
> 2m

Ngập triều theo quy luật ổn định,
rừng ngập mặn phát triển mạnhĐất
Phù sa
chưa ổn
định, chưa
xuất hiện
lắng đọng
Bồi tích
phù sa
thành bùn
lỏng

Phù sa
đang hình
thành cố
định

Bùn đang

Giá, Chà
là, Ráng,
Lức
So sánh sự phân bố của các loài thực vật RNM huyện Cần Giờ với các yếu tố
môi trường cho thấy có sự liên quan mật thiết, trong đó các yếu tố chủ đạo bao gồm:
tính chất thể nền; độ cao địa hình và mức độ ngập triều; độ mặn [3]. Loài có mật độ
cây chiếm nhiều nhất là loài Đước và có phạm vi phân bố rất rộng trong vùng ngập
mặn, loài này thích hợp ở độ mặn đất 30-35‰ và vùng có tần suất ngập triều trung
bình cao. Loài Mắm phân bố ở độ mặn khá rộng, tập trung ở độ mặn cao từ 30-
38,5‰; phân bố nhiều ở độ mặn thấp từ 19,8 -38‰. Loài Giá phân bố nhiều ở độ
mặn 30-35,8‰, Dừa nước 28,5 - 33,5‰, Giá phân bố ở tần suất ngập triều từ 4 - 8
ngày/tháng. Cóc trắng phân bố ở vùng có độ mặn cao 30-40‰, ngập triều cao. Bần
trắng phân bố ở 30-40‰. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự phân bố của cây ngập
mặn còn phụ thuộc vào thể nền như đối với loài Chà là gặp phân bố ở độ mặn 30-
35‰, với độ ngập triều cao>=2m và dạng đất gần thuần thục đến thuần thục. Hoặc đối
với loài Dà quánh phân bố thích hợp trong phạm vị độ mặn đất từ 30 –39‰, có tần
suất ngập triều từ 3- 7 ngày/tháng. Loài Dà vôi từ 30-35‰ và phân bố nhiều ở độ ngập
từ trung bình đến trung bình cao.
Kết luận
Cần giờ có Hệ thực vật rừng ngập mặn phong phú, có 159 loài thuộc 76 họ,
trong đó loài cây thực sự ngập mặn là 36 loài thuộc 15 họ. Các yếu tố về độ mặn, độ
ngập và thể nền có tác động trực tiếp đến đa dạng và sự phân bố thực vật rừng ngập
mặn ở Cần Giờ. Sự thay đổi các yếu tố này có thể dẫn đến sự mất ổn định của hệ thực
vật, làm giảm chất lượng “sức khỏe” rừng ngập mặn ở Khu dữ trữ sinh quyển Cần
Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, bên cạnh phát triển kinh tế cần đảm bảo sự ổn
định của các yếu tố môi trường trong khu vực cử sông Đồng Nai – Sài Gòn.

Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI

Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 387

(1)
, Nguyen Xuan Tung
(2)

(1)
Research Institute for the Management of Seas and Islands, MONRE;

(2)
Mangrove Ecosystem Research Center, HNUE

Mangroves are ecosystems in coastal estuaries and plays a very important role in the
economic, social, ecological and environmental landscape. The survival, growth,
development and distribution of them heavily dependent on the geomorphic terrain conditions
where they live. This paper present the analyses, assessments of effects environmental factors
including topography, tidal flooding level and salinity regimes on mangrove distribution in
Can Gio Mangrove Biosphere Reserve, Ho Chi Minh City.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status