SKKN đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử - Pdf 30

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài 10
2. Từ dư luận của báo chí về việc DHLS ở trường THPT 10
3. Từ việc Bộ GD – ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT 19
4. Từ chỉ đạo của các Sở GD – ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT 24
5. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu 30
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 32
7. Mức độ nghiên cứu đề tài 35
8. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 35
9. Cơ sở lí luận thực tiễn và PP nghiên cứu 35
9.1. Cơ sở lí luận thực tiễn
9.2. PP nghiên cứu
10.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 36
11. Kết cấu của đề tài 37
NỘI DUNG
Phần I. Nêu thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi khi thực hiện đề tài 38
1.1. Tình hình giảng dạy môn LS ở đơn vị
1.2. Tình hình trường, lớp, HS
1.3. Ưu điểm khi thực hiện đề tài
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài 40
Phần II. Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
1. Đối tượng học và việc thiết kế đa phương tiện DH 41
2. Khai thác, sử dụng internet góp phần tích cực hoá PPDH LS ở
trường THPT 42
3. Thiết kế và sử dụng GAĐT nhằm nâng cao chất lượng DHLS ở
trường THPT 46
3.1. Thực trạng việc thiết kế và sử dụng GAD8T trong môi trường DH đa
phương tiện
3.2. Nhận thức của GV đối với việc thiết kế và sử dụng GAĐT hiện nay

7.1. Những căn cứ cơ bản chỉ đạo việc đổi mới tự học SBT LS ở nhà của
HS
7.2. Nội dung đổi mới tự học SBT LS ở nhà của HS
7.2.1. Một số yêu cầu của việc đổi mới công tác chỉ đạo hoạt động tự học
SBT LS ở nhà của HS
7.2.2. Đổi mới nội dung tự học kết hợp SBT LS ở nhà của HS
7.2.3. Đổi mới PP tự học kết hợp SBT LS ở nhà của HS
8. Sử dụng sơ đồ trong GAĐT nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả
DHLS ở THPT 76
8.1. Vị trí, ý nghĩa của sơ đồ trong DHLS
8.2. Một số biện pháp sử dụng sơ đồ trong DHLS ở THPT
8.2.1. Sử dụng sơ đồ trong nghiên cứu kiến thức mới
8.2.2. Sử dụng sơ đồ trong ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức mới
8.2.3. Sử dụng sơ đồ trong kiểm tra, đánh giá
8.3. Sử dụng sơ đồ trong DHLS có giá trị tích cực, góp phần nâng cao
hiệu quả bài học và kích thích lòng say mê học tập của HS
9. Tạo biểu tượng các nhân vật LS để hình thành kiến thức LS cho HS
THPT 82
9.1. Đối với nhân vật LS ở nhóm một
9.2. Đối với nhân vật LS ở nhóm hai
9.3. Đối với nhân vật LS ở nhóm ba
10. Các biệp pháp GV giúp HS vượt qua “rào cản” trong đổi mới
DHLS ở THPT 87
2
10.1. Quan niệm về “rào cản” trong quá trình học tập theo cách tiếp cận
của “sư phạm tương tác”
10.2. Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của vùng limbic
10.2.1. Kích thích đa giác quan của HS
10.2.2. Tạo động lực học tập cho HS
10.3. Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của trạng thái T

Phần IV. Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN
1. Những nét cơ bản về CNTT&TT 112
2. Những lợi ích của CNTT&TT trong việc đổi mới PPDH LS 113
2.1. CNTT&TT giúp tăng cường hứng thú học tập ở HS
2.2. CNTT&TT giúp HS đáp ứng được nhu cầu của cá nhân
3
2.3. CNTT&TT giúp HS phát triển đa trí tuệ
2.4. CNTT&TT giúp khuyến khích tinh thần học tập kiến tạo
2.5. CNTT&TT là công cụ DH cho GV
3. CNTT&TT những thách thức với việc sử dụng trong lớp học 115
4. CNTT&TT ở Việt Nam và Bình Dương 116
5. Các trang về CNTT có thể tham khảo 118
6. Kho học liệu mở Việt Nam chính thức “mở cửa” 120
7. Hướng dẫn khai thác internet phục vụ DHLS 121
8. Giới thiệu giao diện một số website 127
Phần V. Đề xuất ứng dụng CNTT&TT kết hợp SBT để đổi
mới PPDH LS ở trường THPT
1. CNTT&TT hỗ trợ đổi mới PPDH LS ở THPT 129
2. Nguyên tắc ứng dụng CNTT&TT để đổi mới PPDH LS ở THPT.130
3. Cấu trúc của GAĐT hỗ trợ DHLS 131
4. Quy trình xây dựng GAĐT hỗ trợ DHLS 132
5. Ý nghĩa và những hạn chế của việc ứng dụng CNTT&TT trong việc
đổi mới PPDH LS 134
6. Đề xuất một số biện pháp chủ yếu giúp HS nắm vững kiến thức
trong DHLS ở THPT 135
6.1. Kết hợp lời nói của GV và HS với đồ dùng trực quan nhằm tạo biểu
tượng cụ thể, sinh động về sự kiện LS
6.2. Sử dụng tài liệu tham khảo kết hợp SBT với trao đổi thảo luận sẽ làm
sáng tỏ sự kiện của bài học LS
6.3. Sử dụng câu hỏi để tổ chức trao đổi thảo luận

2. Từ dư luận của báo chí về việc dạy học lịch sử ở THPT
Trong thời gian gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đến văn đề giảng
dạy môn LS trong các trường học. Kết quả môn thi LS qua các kỳ thi là con số
báo động đến tất cả HS, đồng thời là nỗi lo của toàn xã hội trước sự hiểu biết
của giới trẻ về LS nước nhà.
(Sài Gòn Giải Phóng) - Làm thế nào không còn hàng ngàn bài thi sử
dưới điểm trung bình vào mùa thi đại học (ĐH) cũng như tại các cuộc thi
khác? Ngành giáo dục (GD) phải đổi mới ra sao để môn Sử trở nên hấp dẫn,
sinh động hơn? Ngày 31-7-2007, ngay sau khi Báo SGGP có bài “Điểm thi
môn Sử vào ĐH quá thấp : Hậu quả của đổi mới… nửa vời”, nhiều nhà giáo và
bạn đọc đã góp ý kiến tâm huyết. PGS.TS Phạm Xanh cho rằng hiện nay
chúng ta đang “đối xử” không công bằng giữa các môn học. Nếu như một tuần
có tới 5 đến 7 tiết Toán thì tại sao chỉ có một tiết học LS. Phải chăng vì môn
Sử là môn phụ? Và sự “đối xử” đó đã được phản ánh qua các kỳ thi tốt nghiệp
và đại học vùa qua khi điểm môn LS thấp tới mức “kinh hoàng”.
5
Theo PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - Chủ nhiệm Khoa LS Trường
ĐHKHXH&NV Hà Nội. Mỗi tuần có 1 đến 2 tiết sử thì đừng “đòi hỏi” các em
khi đi thi đạt điểm môn Sử cao như môn Toán, Lý, Hóa PGS Nguyễn Hải Kế
hiện đang làm cố vấn cho game show Theo dòng LS của Ban Khoa giáo - Đài
Truyền hình Việt Nam, có một một bạn trẻ của trường THPT Marie Curie đã
nói với ông: Em thích học Sử, em hiểu được vai trò của LS đối với việc hình
thành nhân cách con người. Nhưng bây giờ em phải học những môn để thi ĐH
nên không có nhiều thời gian cho môn LS. Nếu như em có học môn Sử nhiều
thì bố mẹ em sẽ cấm ngay bởi môn đó em không thi ĐH…
Đỗ Kim Chung (ĐH KHXH&NV TP.HCM): “Nếu xét ở khía cạnh để
nắm các cứ liệu thì điều đó đúng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng
thì sẽ rất dễ quên khi không nhắc đến nó thường xuyên. Khi kiểm tra, đánh giá
(KT – ĐG) kết quả DH, đề KT đều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyên
nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung của

biến của các em hiện nay là học vẹt chứ không biết hệ thống hóa kiến thức, sự
kiện, đương nhiên điểm sẽ thấp.
Chấn chỉnh ngay chương trình, sách giáo khoa là điều đã được nhiều nhà
giáo đề nghị trong những năm qua. Song song đó thầy cô nên hướng HS có PP
học tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất công
sức, thời gian mà không mang lại hiệu quả. Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3
năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn”.
Trong một chương trình giao lưu trên VTV2 với chủ đề: “Thế hệ trẻ với
di sản Cách mạng tháng Tám” khi phóng viên của chương trình phỏng vấn các
bạn trẻ ở Hà Nội về Nhà Hát lớn Hà Nội - nơi diễn ra cuộc biểu tình lớn nhất ở
Hà Nội diễn ra ngày 17/8/1945 và cuộc mít tinh Tuyên bố thành lập chính
quyền cách mạng ở Hà Nội ngày 19/8/1945, thì hầu hết các bạn trẻ được hỏi
không biết đến những sự kiện này, mặc dù các bạn đã nhiều lần đến Nhà Hát
lớn.
Phải chăng các bạn trẻ thờ ơ với LS của nước nhà? Tại sao các bạn trẻ
lại không để ý đến chính những di tích LS mà các bạn đã đến nhiều lần?
Theo PGS.TS Phạm Xanh - Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội thì lỗi
không hoàn toàn ở các bạn. Bởi ở di tích LS này chỉ có một tấm biển nhỏ ghi
vài dòng: “Nơi đây đã diễn ra một cuộc mít tinh trong Tổng khởi nghĩa tháng
Tám”. Với tấm biển nhỏ và những thông tin đó không thể thu hút được các bạn
trẻ là điều tất yếu.
Theo PGS. Phạm Xanh lỗi ở đây thuộc về những người làm văn hóa Hà
Nội. Với các di tích LS người ta chỉ gắn một tấm biển theo kiểu: Tại đây, ngày
này diễn ra sự kiện gì… Với cách làm như vậy thì những di tích này chỉ là di
tích “chết” và hậu quả của nó là các bạn trẻ ở Hà Nội chiều chiều vẫn đến Nhà
Hát lớn chơi nhưng chẳng mấy ai biết được nơi đây đã diễn ra những sự kiện
LS gì trong Cách mạng tháng Tám.
Học trong sách vở thì các sự kiện, con số khô cứng. Nhiều trường THPT
hiện nay thường tổ chức cho các HS đi tham quan bảo tàng với hy vọng việc
học sử sẽ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, có một thực tế là các buổi đi tham quan bảo

đã biết. Bởi thế, muốn HS yêu Sử, trước hết, mỗi đầu năm học, các nhà trường
nên dành thời gian nói chuyện về các nhân vật LS mà trường mang tên, hoặc
mở cuộc thi tìm hiểu về những đóng góp của nhân vật ấy để HS có cơ hội tiếp
cận thêm những thông tin mới.
Thứ ba, các phòng truyền thống của trường không nên chỉ dừng lại ở
việc lưu giữ, trưng bày những hình ảnh, thành tích hoạt động của thầy- trò các
thế hệ, mà còn là nơi ghi lại tên tuổi của các cựu GV, HS của trường đã anh
dũng hy sinh vì Tổ quốc, có nhiều đóng góp để xây dựng nhà trường. Nhớ ơn
các anh hùng, liệt sĩ, lớp thế hệ HS sẽ không chỉ thêm tự hào về ngôi trường
mình, mà còn ra sức học tập, rèn luyện, xứng đáng với những cống hiến của
cha anh.
Sáng kiến của TP Hồ Chí Minh trong việc treo những tấm pa-nô có
thông tin về những vị anh hùng trên các đường phố thời gian qua cũng là một
cách làm hay để các nhà trường tham khảo.
Đây là lần đầu tiên nội dung chính ba bản tuyên ngôn được tiếp xúc đến
người dân hết sức gần gũi và giản dị thông qua các tấm Pa-nô treo dọc các trục
đường chính. Đó là những áng văn bất hủ và hào hùng trong bài Nam quốc sơn
hà của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi và Bản Tuyên
ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình cách đây 62
năm.
Rất nhiều người dân TP.HCM đã khẳng định: Những câu trích trong tấm
pa-nô là rất thích hợp, phản ánh đúng tinh thần của bản tuyên ngôn đó. Nội
dung cơ bản của nó đã khẳng định chủ quyền dân tộc, cảnh cáo tất cả bọn
ngoại xâm dám đến xâm phạm chủ quyền của dân tộc ta , nhân dân ta.
Cùng với 3 bản Tuyên ngôn Độc lập là danh sách tóm tắt về tiểu sử của
tám mươi mốt nhân vật LS xếp theo thứ tự năm hy sinh hoặc năm mất, được
8
tính từ 2/9/1945 trở đi. Đó là những chiến sĩ cộng sản, nhân sĩ, chí sĩ, học giả
nhà văn hóa, nhà tu hành, bác sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…Tất cả họ đều đặt lợi ích dân
tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh tính mạng khi Tổ quốc lâm nguy.

Làm một cuộc cách mạng về vị trí môn lịch sử
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học Sử của HS rất cần thiết, có tác
dụng góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Muốn đổi mới cần xây
dựng và sử dụng các dạng sách bài tập (BT) LS trong dạy học có vai trò rất
quan trọng đối với quá trình, củng cố kiến thức LS cho HS. GV có thể sử dụng
các loại BT dưới dạng một câu hỏi tổng hợp, BT nhằm rèn kỹ năng thực hành,
hệ thống khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức, BT trắc nghiệm khách
quan. Để có những bài tập chất lượng đòi hỏi GV phải đầu tư suy nghĩ, tìm tòi,
sáng tạo. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá không chỉ là công việc của GV đứng
lớp mà còn là công việc của cấp quản lý. Bên cạnh đó, phải làm một cuộc cách
9
mạng trong quan niệm về vị trí môn LS từ cấp quản lý GD cao nhất đến ban
giám hiệu, cha mẹ HS và toàn xã hội. Cổ nhân từng dạy “lịch sử là cô giáo của
cuộc sống”, không có quan niệm đúng về môn học thì tất cả những đề xuất đổi
mới nội dung, PP, trong đó có hoạt động kiểm tra, đánh giá không thể đi vào
thực tiễn được.
ThS PHẠM PHÚC VĨNH, Bộ môn Lịch sử Trường ĐHSP Đồng Tháp:
Phải đổi mới cách tổ chức lớp học
Cách tổ chức lớp học phổ biến ở nhà trường phổ thông hiện nay còn
mang nặng tính áp đặt chủ quan, nó gián tiếp tạo nên sự bất bình đẳng đối với
HS trong quá trình dạy học. Trừ những HS có khả năng tương ứng với nội
dung và PPDH của GV trên lớp, số HS còn lại đang bị ép buộc phải tiếp nhận
những kiến thức hoặc quá cao, hoặc quá thấp so với khả năng của mình, làm
mất đi hứng thú, động lực học tập của một bộ phận khá lớn HS. Thực tế đó đòi
hỏi chúng ta phải làm sao để trong tất cả các môn học nói chung và môn LS
nói riêng, HS sẽ được học ở những lớp học có nội dung và PP phù hợp với khả
năng của mình? Chúng tôi cho rằng, để HS khá giỏi có điều kiện phát triển
năng khiếu của mình và các đối tượng HS khác có thể tiếp thu được những nội
dung bài học với PP thích hợp với khả năng của mình, các trường THPT nên tổ
chức lớp học theo từng môn học với nội dung, chương trình với PPDH được

giáo án
Tại sao HS đạt điểm thấp môn LS? Ngoài nguyên nhân do một bộ phận
không nhỏ HS vì yếu các môn khác nên phải chọn khối thi này, có lẽ ai cũng
nhận ra việc các em học nhưng không nhập tâm được bài học.
Quan niệm hiện nay của không ít phụ huynh, HS, thậm chí cả GV, là
học môn LS không có tương lai. Trong khi đó, người thầy chẳng dám “đi xa”
hơn những gì có trong sách, không thể phân tích cặn kẽ vì sợ “cháy” giáo án.
HS đang bị nhiễu loạn thông tin khi phải tiếp thu kiến thức qua phim ảnh, trên
mạng không chính xác. Nhiều em HS thổ lộ với tôi rằng: ngày tháng nhiều quá
nhớ không xuể, dễ lẫn lộn sự kiện này với sự kiện khác. Cách học phổ biến của
các em hiện nay là học vẹt chứ không biết hệ thống hóa kiến thức, sự kiện,
đương nhiên điểm sẽ thấp.
Chấn chỉnh ngay chương trình, SGK là điều đã được nhiều nhà giáo đề
nghị trong những năm qua. Song song đó thầy cô nên hướng học sinh có PP
học tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất công
sức, thời gian mà không mang lại hiệu quả. Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3
năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn.
(Hà Nội Mới 16/8/2007) - Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn
Lịch sử luôn khiến nhiều người trăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến
90% bài thi môn này dưới điểm trung bình. Rất nhiều lý do đã được đưa ra,
như nội dung chương trình, kiến thức trong SGK còn nặng về lý thuyết. Bởi
thế, GV cũng chỉ cố gắng truyền đạt đủ kiến thức quy định, không còn thời
gian để cùng học trò khám phá những cái hay của môn học. Thứ hai là do PP
đào tạo GVLS ở các trường sư phạm hiện nay quá cứng nhắc với những sự
kiện, con số mà ít chú ý đến việc liên hệ thực tiễn Và rất nhiều lý do khác.
3. Từ việc Bộ GD –ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT
11
Ngày 07/9/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có Công văn số
9584/BGDĐT-CNTT gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, cao
đẳng sư phạm, các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học

miễn phí. Trên cơ sở phần mềm quản lí trường học này, Cục CNTT sẽ cung
cấp các công cụ quản lý các cấp (Bộ, Sở, Phòng) để thống nhất cơ sở dữ liệu
về giáo dục phổ thông gồm giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, thi Bộ
GD&ĐT thống nhất quản lý nhà nước về cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin
12
quản lí giáo dục về một đầu mối là Cục CNTT để tránh chồng chéo gây lãng
phí và đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn hệ thống thông tin giáo dục.
Hàng năm, Cục CNTT có trách nhiệm cập nhật phần mềm theo yêu cầu
mới, thu thập và xử lý dữ liệu, cung cấp lại các thông tin cần thiết và hữu ích
phục vụ cho công tác quản lý của các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng).
Cục CNTT đã gửi đĩa CD chứa đầy đủ thông tin dữ liệu phân tích hai kì
thi tốt nghiệp THPT và kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng của từng trường,
từng hội đồng thi để các Sở tham khảo và phổ biến đến các trường, các lớp để
cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm, phục vụ cho cuộc vận động hai không.
4. Khai thác và sử dụng mã nguồn mở trong quản lý và giảng dạy
Khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước. Vì vậy Bộ cũng nghị
các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mở
trong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tác
quản lý :
a) Bộ phần mềm văn phòng Open Office www.OpenOffice.Org., do hãng
SUN phát triển, có thể tải về miễn phí tại địa chỉ trên.
Trong đó có các modun Soạn thảo văn bản (Writer), Bảng tính điện tử
(Spreasheet), Đồ họa (Draw), Trình chiếu (Presentation) và Cơ sở dữ liệu
(Base). Các modun này hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu sử dụng trong công tác
quản lý và giảng dạy, tương đương với Microsoft Office.
Các đơn vị có thể dùng bản Star Office, (là phiên bản thương mại của
Open Office), có thể tải về miễn phí
tại địa chỉ của Google.
Hiện nay toàn bộ các máy tính của các cơ quan Đảng đã được chuyển

nghệ làm bài giảng điện tử e Learning và chủ trì hội thảo khai thác thiết bị
CNTT, hội thi bài giảng điện tử, sử dụng CNTT trong đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy theo hướng tạo bài giảng e Learning, hội thảo và dạy
học online, áp dụng kết hợp với các thiết bị thí nghiệm đo lường điện tử.
7. Định hướng hoạt động thi đua về CNTT
Các hoạt động trên cùng với việc triển khai các hoạt động về CNTT
khác của các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
năm học về CNTT, trước mắt phấn đấu nhằm đạt được một số kết quả cụ thể
sau:
a) Mỗi Sở GD&ĐT có tên miền riêng của Sở để thiết lập website và hệ thống e
mail quản lý. (Việc tạo e mail theo tên miền của Sở hiện nay là hoàn toàn miễn
phí trên nền gmail, các Sở không cần đầu tư mua máy chủ và không mất nhân
lực bảo dưỡng hệ thống).
14
b) Mỗi cán bộ của Sở, mỗi học sinh THCS và THPT, mỗi giáo viên có một e
mail theo tên miền của Sở.
c) Các Sở có thể tạo trang web của Sở như là một trang của mạng giáo dục của
Bộ. Các Sở cần cử cán bộ chuyên trách cung cấp và cập nhật thông tin cho
trang web này.
d) Mỗi trường THPT có phòng máy tính (với số lượng ít nhất là 25 máy) có
nối mạng nội bộ và kết nối Internet băng thông rộng ADSL. Chúng ta tiến tới
đạt chỉ tiêu ít nhất 20 học sinh/máy.
đ) Đến cuối năm 2008, cố gắng phấn đấu tất cả các trường đều được kết nối
Internet băng thông rộng ADSL. Ở những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng núi
cao, cần sử dụng kết nối Internet băng thông rộng qua chảo vệ tinh VSAT-IP.
e) Công tác biên soạn bài giảng điện tử: Khuyến khích mỗi trường THPT,
THCS tạo mới nhiều thêm bài giảng điện tử của các môn học, đặc biệt cho cả
các môn khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa, Nhạc, Họa. Khuyến khích giáo
viên tham khảo các tài liệu, bài giảng điện tử của đồng nghiệp trong công tác
giảng dạy song cần phát huy tính tích cực học tập thông qua thảo luận nhóm,

niên. Khi bước vào toàn cầu hóa và WTO có nghĩa rằng thị trường thế giới
mở cửa bình đẳng, điều kiện xuất khẩu mạnh lên, đây là cơ hội. Lao động kết
tinh vào sản phẩm lớn. Toàn cầu hóa dẫn tới đặc diểm là cầu thế giới kích
thích sản xuất trong nước. Cơ chế này đã hoàn thành, nhưng theo theo điều
kiện của họ”, Phó Thủ tướng nói.
4. Từ chỉ đạo của các Sở GD - ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT
Trong khi đó, một số tỉnh khác lại cập nhật khá tốt nội dung của trang
giáo dục trong website của tỉnh. Trên website của UBND tỉnh Đồng Nai và
Ninh Thuận có rất nhiều thông tin được cập nhật. Chánh văn phòng Sở Giáo
dục - Đào tạo Ninh Thuận cho biết những thông tin mới về ngành giáo dục
được tải lên trang web đều đặn. Chúng tôi thử vào trang web của UBND tỉnh
Ninh Thuận và thấy có những tin như: Lãnh đạo tỉnh chúc mừng ngày Nhà
giáo Việt Nam 20.11; Xã hội tôn vinh người thầy đăng ngày 20.11; Ngành
giáo dục với công tác an toàn giao thông đăng ngày 20.10. Vào trang web của
tỉnh Đồng Nai ngày 1.11.2007, trong trang giáo dục thấy có lịch công tác của
Sở Giáo dục - Đào tạo cho đến hết ngày 3.11.
Còn có chi tiết từng ngày Ban giám đốc Sở làm việc với trường nào, ở
đâu, rất rõ ràng và cập nhật nhiều bài viết mới về giáo dục trong tỉnh. Ngày
30.11, vào trang giáo dục của website: hue.vnn.vn có những bài viết về giáo
dục mới nhất trong ngày cho dù lấy từ báo khác như bài: Chưa bao giờ giữ bí
mật về thu học phí; Lại chậm thiết bị dạy học ở nhiều địa phương Vào trang
"Sở giáo dục" trong website của UBND tỉnh Lào Cai, có những thông tin mới
được cập nhật trong Ngày nhà giáo Việt Nam; những mô hình hay, tấm gương
học sinh vượt khó được đăng trước đó vài ngày
Ngày 12.12.2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ đang đề nghị các
Sở GD – ĐT gửi danh sách học sinh để lập địa chỉ email với tên miền
@moet.edu.vn cho tất cả các trường tiểu học, THCS, THPT trước. ngày
15.1.2008.
16
Trong đó, ngay trong năm học 2007-2008 này, ưu tiên tạo ngay email

máy, tuyệt đối không để máy tính ngừng sử dụng thời gian dài.
Các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), trung học phổ thông
(THPT), các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH), trung tâm giáo
17
dục thường xuyên (GDTX) đều phải có mạng nội bộ và kết nối Internet băng
thông rộng (ADSL). Trong đó phải bố trí máy tính làm việc và truy cập
Internet dành riêng cho giáo viên trong phòng bộ môn, phòng chờ lên lớp, thư
viện, hội trường, và một số phòng truy cập Internet riêng cho học sinh.
Các phòng GD&ĐT tham mưu, đề xuất với UBND quận, huyện đầu tư
kinh phí tăng cường cơ sở vật chất thiết bị CNTT cho các cơ sở giáo dục trực
thuộc, tập trung vào các nội dung:
- Đảm bảo đủ máy tính, thiết bị CNTT dạy môn Tin học cho học sinh
theo chương trình của Bộ GD&ĐT và phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong
quản lý, giảng dạy tại các trường học.
- Kết nối Internet băng thông rộng (ADSL), nối mạng nội bộ cho 100%
số trường THCS và một số trường Tiểu học, Mầm non trên địa bàn để giáo
viên được sử dụng, khai thác Internet đồng thời giúp cho việc trao đổi thông
tin trên mạng được thuận lợi.
Cùng với việc mua thiết bị (phần cứng), cần phải dành kinh phí và quan
tâm đầu tư trang bị phần mềm nhằm tin học hóa các hoạt động và nâng cao
hiệu quả sử dụng máy tính. Xây dựng, tuyển chọn, mua công cụ tạo và quản lí
bài giảng điện tử, các phần mềm dạy học, phần mềm thí nghiệm ảo và e-
Learning, các phần mềm quản lý trường học
Các đơn vị triển khai sử dụng các phần mềm dùng chung cần nghiên cứu
kỹ tính đồng bộ với dữ liệu chung, tính khả thi và báo cáo Sở để tổ chức thẩm
định theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên
Tuyên truyền, phổ biến Luật Công nghệ thông tin, Nghị định 64 của
Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các

phần mềm dùng chung trong học kỳ I cho các trường có nhu cầu và đủ điều
kiện đáp ứng.
Các đơn vị trường học đã nối mạng nội bộ phải thực hiện triển khai các
ứng dụng trên mạng: xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, chia sẻ thông tin,
tăng cường giao dịch qua mạng giữa các bộ phận, tổ, khoa, phòng,
Bố trí sắp xếp các máy tính truy cập Internet thuận tiện cho cán bộ, viên
chức, nhân viên trong đơn vị được truy cập Internet miễn phí nhằm khai thác,
trao đổi thông tin nâng cao nhận thức và phục vụ chuyên môn công tác.
Các phòng GD&ĐT quận, huyện cần tổ chức sử dụng các phần mềm
quản lý đồng bộ từ Phòng đến cơ sở trực thuộc giúp cho việc thống kê, báo cáo
thống nhất, thuận tiện; thực hiện quản lý chặt chẽ kết quả giáo dục hàng năm
của học sinh cấp THCS phục vụ cho việc thi và xét tuyển THPT thông qua
phần mềm quản lý từ Sở đến các trường.
Khuyến khích các đơn vị trường học xây dựng và duy trì trang thông tin
điện tử (website) và dịch vụ trực tuyến qua mạng internet, mạng điện thoại trao
đổi thông tin giữa gia đình học sinh với nhà trường. Trong quá trình thực hiện
cần đảm bảo nguyên tắc bảo vệ và bí mật thông tin cá nhân. Các trường Trung
cấp chuyên nghiệp phải có website nhằm cung cấp, trao đổi thông tin và quảng
bá rộng rãi ngành nghề đào tạo.
2- Triển khai rộng rãi việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, xây dựng
kho học liệu điện tử trong từng trường học, từng quận huyện và toàn
thành phố.
Các đơn vị, trường học phải tổ chức và tạo điều kiện cao nhất cho giáo
viên tất cả các bộ môn sử dụng phương tiện kỹ thuật số, sử dụng phần mềm
máy tính hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy và học tập. Các trường Trung cấp
chuyên nghiệp cần trang bị hoặc tự xây dựng các phần mềm học tập bộ môn
theo đặc thù môn học.
Có biện pháp khuyến khích cả về tinh thần và vật chất giúp giáo viên tự
xây dựng bài giảng điện tử và các phần mềm giảng dạy bộ môn. Phát động thi
đua, tổ chức các cuộc thi cho giáo viên xây dựng bài giảng điện tử, bài giảng

Các trường THPT, THCN, các trung tâm GDKTTH, GDTX và các
trường THCS có điều kiện, cần tổ chức cho học sinh sử dụng Internet trong
trường học (trong phòng máy, thư viện, văn phòng đoàn, đội, ) đồng thời định
hướng và quản lý chặt chẽ việc khai thác thông tin trên mạng.
5. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu
“Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở trường
THPT” là việc làm cấp bách và cần thiết. DHLS là một hoạt động mang tính
đặc thù, một quá trình sư phạm phức tạp, HS không thể từ “trực quan sinh
động” (nhìn quá khứ), mà phải đi từ cung cấp sự kiện để tạo ra biểu tượng LS,
hình thành khái niệm, rồi mới nêu được quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm và
20
vận dụng vào thực tiễn. Việc cung cấp sự kiện LS cho HS càng cụ thể, giàu
hình ảnh bao nhiêu thì các em càng hứng thú học tập và hiểu biết LS bấy
nhiêu. Công việc nầy thường gặp rất nhiều khó khăn, nhưng ngày nay nhờ vào
CNTT&TT, GV có thể dễ dàng giúp HS đi “từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng”, hiểu dúng bản chất của sự kiện, hiện tượng LS, từ đó có tư tưởng
tình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện ở các em. CNTT&TT có tác dụng
tích cực góp phần vào đổi mới PPDH bộ môn hiện nay. Theo các chuyên gia
GD, nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống thì 90% trí thức của HS được tiếp
nhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt
mỏi, giảm sự chú ý; nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông
qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (huy động cùng một lúc nhiều giác
quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của HS đạt hơn 90%. Tuy nhiên để nhanh
chóng đưa CNTT&TT vào đổi mới PPDH LS ở trường THPT, chúng ta phải
có sự chuẩn bị về xây dựng cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị hiện đại, đào
tạo con người, sau đó mới triển khai thực hiện.
Hiện nay nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất. Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại mà khoảng cách về
không gian được rút ngắn hơn. Xu thế toàn cầu hóa yêu cầu con người phải
thay đổi nhịp sống của mình thì mới nắm bắt kịp những thay đổi nhanh chóng

6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Bộ môn LS ở trường THPT có ưu thế đặc biệt trong việc phát triển con
người toàn diện vừa có tri thức khoa học, có tư tưởng đạo đức đúng đắn, đậm
đà bản sắc dân tộc, vừa có khả năng tự lập. linh hoạt, sáng tạo … trong cuộc
sống. Song muốn phát huy được ưu thế nầy, trước hết, HS phải nắm vững kiến
thức LS. Vậy làm thế nào để HS nắm vững kiến thức trong DHLS ở trường
THPT?
Căn cứ vào mục tiêu bộ môn LS ở trường THPT, đặc trưng của hiện
thực LS, đặc điểm nhận thức của HS và yêu cầu đổi mới GD hiện nay theo chỉ
đạo của Bộ GD – ĐT “Ứng dụng CNTT&TT để đổi mới PPDH ở trường
THPT” hiện nay, chúng ta thấy rằng, việc giúp HS nắm vững kiến thức là vấn
đề hết sức cần thiết. Song trước hết cần thống nhất khái niệm “nắm vững kiến
thức” của HS. Xung quanh khái niệm nầy, các nhà GD, tâm lí và GDLS đã đề
cập đến nhiều khía cạnh. Các nhà GD Xô Viết trước đây khẳng định : cũng như
bất kì một người nào, HS không bao giờ nắm vững thực sự kiến thức, nếu
người ta đem đến cho các em dưới dạng “chuẩn bị sẵn”. Không chỉ đơn thuần
học thuộc, hoặc nói theo lối cũ “nghiền môn LS” … mà chỉ có thể nghiên cứu
chúng mà thôi. Hoặc : “Kiến thức chẳng qua là một dạng nhất định của những
mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ não các bán cầu đại não do ảnh hưởng
của những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể đang
nhận thức” (Khalamop. Phát huy tính tích cực của HS như thế nào? NXB
GD. Hà Nội.1979, tr,19). Bách khoa toàn thư SP của Liên Xô cho rằng : Nắm
vững kiến thức trong DH là một hệ thống thông tin xác định bao gồm khả
năng: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Nhà tâm lí học người Mĩ Bloom khi nói
về lĩnh vực nhận thức trong đánh giá kết quả học tập đã nêu lên các mức độ :
biết (nhận biết, nhớ lại), hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, thông
qua 6 mức độ này để đánh giá HS nắm vững kiến thức hay không. Trong thực
tế 6 mức độ này cũng đều thể hiện : biết, hiểu, ứng dụng. Các nhà tâm lí học
Việt Nam cho rằng, nắm vững kiến thức là một hoạt động nhận thức tích cực
và tự giác của HS, đưa các em từ chỗ chưa biết đến hiểu sâu sắc, nhớ những kĩ

Với quan điểm như trên, việc giúp HS nắm vững kiến thức có vai trò rất
quan trọng trong DHLS ở trường THPT. Nó là yếu tố cơ sở đầu tiên của mục
đích học tập bộ môn. Chỉ có nắm vững kiến thức LS, HS mới nảy sinh tư tưởng
tình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện con người các em. Không giúp HS
nắm vững kiến thức LS thì không thực hiện được mục tiêu môn học.
Thực tiễn DHLS ở trường THPT hiện nay đã có bước tiến, nhưng vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu GD đặt ra. Một thực tế đang diễn ra là thế hệ trẻ
biết, hiểu rất mơ hồ về LS, không chỉ LS thế giới mà cả LS dân tộc. Điều này
được phản ánh phần nào qua kết quả các kì thi vào đại học. Theo thống kê của
VietNamnet, kì thi đại học năm 2005 có gần 56,5% số bài thi bị điểm 1 trở
xuống, năm 2006 điểm trung gình các bài thi LS là 1,96, thấp nhất trong các
môn, đặc biệt là kì thi TN THPT năm 2007.
Thực tế này còn được phản ánh trong các trò chơi đại chúng trên truyền
hình “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Rung chuông vàng” của Đài truyền
hình VTV Hà Nội … Các câu hỏi về LS hết sức đơn giản, thậm chí còn rất gần
với chúng ta hiện nay, nhưng những người chơi trẻ tuổi thường trả lời sai hoặc
không trả lời được. Thực tế đáng buồn đó đã khẳng định một điều là HS không
nắm vững kiến thức LS. Các em mới dừng ở biết, hiểu mơ hồ, vì vậy dễ quên
và trong bài thi có những sai sót tưởng chừng không thể có. Lí luận và thực tiễn
trên đặt ra một vấn đề nóng bỏng là phải nâng cao chất lượng DHLS để đáp
ứng mục tiêu môn học. Muốn làm được điều này, trước hết và cấp thiết phải
23
làm cho HS nắm vững kiến thức trong quá trình học tập. Đây là yêu cầu tối cần
thiết, đầu tiên trong DHLS.
Thành tựu của CNTT&TT đã và đang được ứng dụng rộng khắp trong
nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động, trong đó có HĐ DHLS. Đây là một trong các
điều kiện quan trọng để đối mới PPDH; là nhân tố đảm bảo cho HĐ DHLS đạt
hiệu quả; là cơ sở quan trọng để hình thành những phẩm chất và năng lực, hình
thành nhân cách người GV trong thời đại mới - thời đại của khoa học kĩ thuật.
7. Mức độ nghiên cứu đề tài

kĩ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị
của Đảng, Chính phủ, Bộ GD – ĐT đã thể hiện rõ điều nầy (Nghị quyết trung
ương 2 Khoá VIII, Chỉ thị số 29 của Bộ GD – ĐT ngày 30/7/2001/CT). Đặc
biệt Chiến lược phát triển GD –ĐT 2001 – 2010 của Bộ GD – ĐT đã yêu cầu
ngành GD phải từng bước phát triển GD dựa trên CNTT, vì : “CNTT và đa
24
phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD, trong
chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về
PP dạy và học”.
9.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các PP phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa so sánh, nghiên cứu
kết quả điều tra xã hội học…kết hợp lý luận với thực tiễn ứng dụng
CNTT&TT trong PPDH LS. Đặc biệt là nghiên cứu qua các bài giảng, các đề
tài nghiên cứu về đổi mới nội dung và PPDH LS ở trường THPT của các
trường ĐHSP, Viện nghiên cứu xã hội, khảo sát chất lượng dạy học môn LS ở
các trường THPT để định hướng làm sáng tỏ hơn các luận điểm khoa học mà
đề tài quan tâm đang giải quyết. Kết hợp với thực tế qua quá trình giảng dạy
chương trình thay sách lịch sử lớp 10 và 11 và những vấn đề có thể đề xuất
những biện pháp khả thi vận dụng vào nội dung đề tài đang nghiên cứu giải
quyết.
10. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Đối với cấp lãnh đạo quốc gia
Bộ GD&ĐT đã có các công văn chỉ đạo hướng dẫn cho ngành GD triển
khai thực hiện : “Bộ GD&ĐT lấy năm học 2008-2009 là “Năm học công nghệ
thông tin”, trong năm học 2007-2008 toàn ngành cần chuẩn bị thật tốt các
nguồn lực nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực về ứng dụng CNTT trong quản
lý và giảng dạy. Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; mở rộng việc đưa
Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường; đổi mới nhận thức và nâng cao
kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; thực hiện đồng bộ
việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động, trọng tâm vào công tác giảng dạy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status