SKKN những nội dung chính về lịch sử địa phương bình thuận từ 1858 đến năm 2000 dùng cho học sinh THPT - Pdf 30

Mục lục
A.Lý do chọn đề tài.
B.Khảo sát thực trạng.
C.Nội dung đề tài.
I.Bình Thuận từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1930.
1.Thực dân Pháp xâm lược và phong trào Cần Vương.
2.Những chuyển biến mới trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp.
3.Những phong trào đấu tranh đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng.
II.Bình Thuận từ trước cách mạng tháng tám đến 1954:
1.Đảng lãnh đạo nhân dân Bình Thuận tiến tới cách mạng tháng tám 1945
2.Nhân dân Bình Thuận kháng chiến chống Pháp xâm lược lần 2.
III.Bình Thuận từ 1954 đến 1975:
1.Chống chính sách khủng bố của Mỹ-Diệm tiến tới Đồng Khởi.
2.Nhân dân Bình Thuận phá tan các chiến lược chiến tranh của Mỹ-ngụy.
3.Tích cực tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975.
IV.Bình Thuận từ 1975 đến 2000:
1.Bình Thuận năm đầu sau giải phóng.
2.Bước đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên quê hương Bình Thuận
(1975-1985).
3.Bình Thuận thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam (1986-2000).
*Phụ lục ảnh.
*Phụ lục sơ đồ-bản đồ.
V.Giáo án lên lớp.
VI.Bài tập thực hành.
D.Biện pháp tiến hành.
1
ĐỀ TÀI
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
BÌNH THUẬN CẬN HIỆN ĐẠI

nhất giúp học sinh học tốt.
- Việc tìm tòi khám phá kiến thức, tiến tới tiếp thu lĩnh hội kiến thức phụ thuộc vào
năng lực, khả năng tổng hợp và tâm tư tình cảm của học sinh. Trong khi đó khả năng
tư duy phân tích của nhiều học sinh dân tộc thiểu số ở trường còn hạn chế.
- Trong nội dung đề tài này, tôi không đi sâu phân tích, cũng như trình bày tất cả
những vấn đề gì về lịch sử nói chung và lịch sử đấu tranh cách mạng nói riêng của
giai đoạn Cận - Hiện đại đến 2000, vì với thời lượng phân phối chương trình và khả
năng của học sinh phổ thông thì chưa thể làm được. Đối với giai đoạn lịch sử Cổ -
Trung đại, tôi nghiêng về lịch sử-văn hóa vì đây là giai đoạn phát triển của các tộc
người, gắn liền với việc giao lưu tiếp thu văn hóa lẫn nhau, tất nhiên là có các cuộc
chiến tranh nhưng đó không phải là nội dung trọng tâm. Trong giai đoạn lịch sử Cận -
2
Hiện đại thì khác, đây là giai đoạn nhân dân Việt Nam trong đó có Bình Thuận đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, nên nội dung chính sẽ là các cuộc khởi nghĩa, các trận
đánh…và sau 1975 đề tài sẽ tập trung vào nội dung xây dựng quê hương, những thành
tựu đạt được. Cũng nên thống nhất, dạy lịch sử địa phương là địa phương cấp tỉnh,
không dạy lịch sử địa phương riêng của một huyện nào đó vì thực tế các sự kiện liên
quan đến nhiều huyện và lan rộng trên địa bàn cả tỉnh. Do kiến thức đồng tâm nên đối
với đối tượng là học sinh THPT, phải yêu cầu cao hơn, chủ yếu là đưa ra các sự kiện,
các số liệu tiêu biểu để học sinh tự phân tích và rút ra kết luận. Kiến thức sẽ được xâu
chuỗi, kèm theo các sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh, các địa danh cũng phải đơn giản và chú
giải với thực tế địa đồ hiện nay của Tỉnh để học sinh dễ nắm bắt.
C.NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I.BÌNH THUẬN TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1930:
1.Thực dân Pháp xâm lược và Phong trào Cần Vương:
Từ giữa thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản tăng cường mở rộng thuộc địa, hầu hết
các nước Châu Á đều trở thành đối tượng để xâm lược. Năm 1858 lợi dụng tình hình
kinh tế xã hội Việt Nam khủng hoảng suy yếu, Pháp đã tấn công Đà Nẵng nhưng đã
vấp phải sự kháng cự kiên cường của nhân dân ta, đành phải lui vào chiếm Gia Định.
Năm 1865 Miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm, Phan Trung, quê ở Phan Thiết, lúc

Thuận, Phan Thiết, Ông Ung Chiếm cho quân dàn trận từ Bến Lội đến Lại An đánh
trả. Sau ba ngày chiến đấu, nghĩa quân bị tổn thất nặng nên rút về Dương Xuân,
Phước Môn, ông Ung Chiếm bị địch bắn tại cây me làng Thiện Mỹ và bêu đầu ở chợ
Dinh (nay thuộc Phú Hài). Tháng 08/1886 các thủ lĩnh Phạm Đoan, Phùng Hàn,
Phùng Tố và đến tháng 09/1886 Nguyễn Văn Luận, Cao Hành (một thủ lĩnh của nghĩa
quân Bùi Đảng) bị Pháp bắt và đã hy sinh.
Tháng 9/1886 ngọn cờ Cần Vương kháng Pháp của nhân dân Bình Thuận
chấm dứt, tỉnh thành Bình Thuận và các phủ, huyện rơi vào tay giặc. Năm 1887 thực
dân Pháp đặt các cơ quan đại lý tại Bình Thuận, quản lý toàn bộ kinh tế xã hội với các
luật lệ khắt khe trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
2.Những chuyển biến mới trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chia nước ta làm ba kỳ với ba chế độ cai trị
khác nhau. Bình Thuận thuộc Trung Kỳ là “Xứ tự trị” nên chính quyền triều đình nhà
Nguyễn vẫn được Pháp duy trì. Ở huyện có tri huyện, dưới huyện có chánh tổng và
cấp xã có Ban lý hương. Đa số dân cư vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Mạnh
và gắn bó với Phật giáo. Năm 1885 nhà thờ Tân Lý được thành lập (thuộc giáo phận
Quy Nhơn) từ đó đạo Thiên Chúa chính thức thiết lập tại Bình Thuận. Một số trường
học Pháp-Việt cũng được xây dựng để truyền bá tư tưởng văn hóa Pháp và đào tạo tay
sai. Cơ quan đại lý (Délégue) của Pháp có bộ máy giúp việc chuyên môn ở các ngành
kinh tế, văn hóa, xã hội và có cả quân đội (lính khố xanh) để dùng khi đàn áp…thực
chất đây là bộ máy chính quyền.
Cường hào, địa chủ dựa vào Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Riêng
địa chủ ở Phan Thiết chiếm hơn 40% diện tích ruộng đất của Hàm Thuận như: Lục
Thị Đậu, Trần Gia Hòa. Địa chủ Trần Huỳnh Kỳ có gần 200 mẫu ruộng ở Tam Tân,
Bàu Dòi. Toàn bộ ruộng đất vùng Bắc Hàm Tân đều nằm trong tay những địa chủ Hộ
Cang, Cửu Dương. Hàng trăm, hàng nghàn mẫu ruộng đất với những giấy phép “khai
khẩn đồn điền” các sĩ quan, cố đạo, viên chức Pháp lần lượt kéo đến Bình Thuận.
Demonestrol lập đồn điền Tà Mon, Casset lập đồn điền ở Cây số 13-14 (Hàm Thuận
Nam). Nhà thờ Kim Ngọc cũng chiếm trên 100 ha ruộng đất, phát canh thu tô bóc lột
giáo dân.

sản-Tiểu tư sản, phần lớn họ chưa có địa vị ổn định nhưng có ý thức độc lập dân tộc.
Sau các phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp theo xu hướng Cần
Vương thất bại, tinh thần yêu nước của nhân dân Bình Thuận vẫn tiếp tục phát triển
nhưng chịu ảnh hưởng của tư tưởng mới dân chủ tư sản. Cụ nghè Trương Gia Mô
người xã Chí Công, khi còn làm quan ở Huế đã đưa ra 5 điều trần dâng lên Vua, nhằm
canh tân đất nước nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về quê bốc thuốc chữa
bệnh. Năm 1905 Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp là những
người đề xướng cuộc vận động Duy Tân đã có mặt tại Bình Thuận để tìm những
người cùng chí hướng, bàn tính việc thành lập các công ty, hiệp hội nhằm chấn hưng
công nghiệp bản xứ, tuyên truyền tư tưởng yêu nước, mở mang dân trí cho nhân dân.
Cụ Trương Gia Mô và hai người con của cụ Nguyễn Thông là Nguyễn Quý Anh,
Nguyễn Trọng Lội là những người rất sớm tán thành tư tưởng này. Từ 1906 đến 1908
Liên thành thương quán (công ty Liên Thành), Liên thành thư xã, Dục Thanh học hiệu
(Trường Dục Thanh) được thành lập tại Phan Thiết và lần lượt có cơ sở chi nhánh ở
Phan Rí – Hòa Đa và các địa phương khác trong cả tỉnh. Phong trào học chữ quốc
ngữ, đọc các sách báo tiến bộ diễn ra sôi nổi trong nhân dân làm thực dân Pháp lo sợ.
Năm 1909, Nguyễn Tất Thành từ Quy Nhơn vào làng Hà Thủy gặp cụ
Trương Gia Mô. Anh Thành được sắp xếp cho ở tại chùa Phước An (thuộc xã Chí
Công) một thời gian, sau đó cụ đưa anh Thành vào dạy học ở trường Dục Thanh
(Phan Thiết). Ngày 19/09/1910 cụ Trương Gia Mô cùng với anh Thành vào Sài Gòn
và từ đây Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước.
3.Những phong trào đấu tranh đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng:
5
Năm 1925, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên được Nguyễn Ái Quốc
thành lập tại Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ, tổ chức tuyên truyền
chủ nghĩa Mác Lê-nin vào trong nước. Năm 1928, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên có chủ trương đưa hội viên vào các nhà máy, đồn điền,…cùng lao động với công
nhân để vận động cách mạng. Tân Việt cách mạng Đảng một tổ chức yêu nước hoạt
động theo xu hướng cộng sản đã tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước của tỉnh
Bình Thuận.

“Nhân Đạo” và những tài liệu nói về Cách mạng Tháng Mười Nga, Công xã Pari,
Công xã Quảng Châu… Cơ sở in ấn được đặt tại làng Tùy Hòa (Hàm Đức). Cơ sở này
còn đảm nhận việc in những truyền đơn phục vụ cho các cuộc đấu tranh bằng hình
thức tuyên truyền, phát động rộng rãi.
Để kỷ niệm ngày 01/08 hàng năm, ngày “Nhân dân thế giới chống chiến
tranh đế quốc”, đêm 14 rạng 15/08/1931, giữa trời mưa gió các tổ chức Đảng trong
6
tỉnh nhất loạt hành động theo kế hoạch đã định. Từ Phan Thiết đến Đại Nẫm, Phú
Hội, Rạng, Mũi Né, trên quốc lộ 1, trên đường số 8 (QL 28) từ Phan Thiết đến Ma
Lâm và các làng Dân Thạnh, Vĩnh Hòa, Long Thạnh…, truyền đơn rải đầy các ngã và
băng ngữ treo ở một số nơi…trên cây me gần ga Ma Lâm, cây lim làng Dân Thạnh,
trước cổng đồn lính khố xanh Phan Thiết, nóc đình làng Thiện Khánh…cờ đỏ búa
liềm tung bay trong gió. Ngay trong ngăn kéo của viên công sứ Bình Thuận, viên tri
phủ Hàm Thuận cũng có truyền đơn cách mạng.
Lý hương các phường, các làng hoảng hốt, nổi trống mõ liên hồi về hoạt
động của Cộng sản. Khí thế cách mạng sôi động cả một vùng rộng lớn của tỉnh Bình
Thuận. Công sứ Pháp tại Bình Thuận gọi điện báo khẩn cấp ra Huế. Ngô Đình Diệm
lập tức được thăng chức Tuần Vũ Bình Thuận và ra lệnh lùng sục bắt bớ những người
bị nghi ngờ là yêu nước, tiến hành nhiều thủ đoạn thâm hiểm, khốc liệt… Nhiều đồng
chí lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong tỉnh bị bắt, bị kết án tù khổ sai, trong đó có
các đồng chí Hồ Quang Cảnh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Gia Tú, Nguyễn Tương, Trần
Hoành…Cuộc đấu tranh của Đảng gặp nhiều khó khăn, phong trào cách mạng tạm
thời lắng xuống.
II.BÌNH THUẬN TỪ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN 1954:
1.Đảng lãnh đạo nhân dân Bình Thuận tiến tới cách mạng tháng Tám 1945:
Sau thời gian bị khủng bố trắng, quần chúng cách mạng trong tỉnh cũng
dần dần ổn định trở lại. Năm 1934 – 1935 đồng chí Nguyễn Gia Tú, Trần Hoành
Nguyễn Tương và một số đồng chí khác ra khỏi tù, tiếp tục hoạt động. Tháng 07/1936
Ban chấp hành trung ương Đảng chỉ đạo “Cách mạng Đông Dương chưa thể trực tiếp
đánh đổ thực dân Pháp và làm cách mạng ruộng đất; chỉ đấu tranh chống Phát xít và

lửa, các đoàn tàu, đoàn xe của Nhật và cả khu chế biến hải sản của công ty Mít-su-bi-
shi tại Phan Thiết. Đêm 09/03/1945, Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền
Pháp, đưa Huỳnh Dư, một giáo học ở Quảng Nam lên làm tỉnh trưởng Bình Thuận và
thiết lập bộ máy tay sai thân Nhật ở các cấp. Tháng 04/1945 một số Đảng viên
Nguyễn Sắc Kim, Nguyễn Nhơn, Nguyễn Chúc,…về Bình Thuận hoạt động cùng với
đồng chí Nguyễn Tương. Ban vận động Việt Minh lâm thời tỉnh Bình Thuận được
thành lập.
Ngày 15/8/1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, chính phủ tay sai của Nhật ở
Việt Nam vô cùng hoang mang tạo điều kiện khách quan có lợi cho tổng khởi nghĩa
đã đến. Từ 16 – 17/8/1945 Đại hội quốc dân Tân Trào tán thành chủ trương khởi
nghĩa, cử Hồ Chí Minh làm chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng. Tại Bình Thuận, ngày
17/08/1945 cờ đỏ sao vàng được treo trước tòa Sứ của Pháp, trại lính bảo an và biểu
ngữ được treo trên cầu gỗ sông Cà Ty (Phan Thiết) với nội dung:
- Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.
- Tước vũ khí quân đội phát xít Nhật ở Đông Dương.
- Dựng chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời.
- Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Ngày 19/8 Hà Nội giành được chính quyền. 23/8 Huế giành được chính
quyền. Tin các tỉnh đã khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân dồn dập báo về.
Nhận thấy thời cơ đã đến, ngày 23/08/1945 Ban Việt Minh lâm thời tỉnh Bình Thuận
họp mở rộng tại phường Đức Nghĩa-Phan Thiết bàn việc tiếp quản các công sở của
địch. Sáng 24/08/1945 Tỉnh trưởng Huỳnh Dư trao ấn tín cho cách mạng. Ngày
25/08/1945 chính quyền cấp tỉnh đã hoàn toàn về tay nhân dân. Một bộ phận lính bảo
an tự nguyện tham gia Việt Minh và đứng vào hàng ngũ cách mạng. Tất cả các thứ
thuế bất công do chế độ thực dân đặt ra được tuyên bố xóa bỏ. Ngày 02/09/1945 trên
sân vận động Phan Thiết và các huyện, nhân dân trong tỉnh tổ chức mít tinh, diễu
hành mừng ngày Hồ Chủ Tịch đọc tuyên ngôn độc lập, tuyến bố thành lập Nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng hòa.
2.Nhân dân Bình Thuận kháng chiến chống Pháp xâm lược lần 2:
Tháng 09/1945 Mặt trận Việt Minh của tỉnh chính thức được thành lập do

là cầu Lê Hồng Phong). Đến tháng 02, Pháp mới chiếm xong Ma Lâm và Hàm Tân.
Các cơ quan lãnh đạo của tỉnh rút về căn cứ Tam Giác (Hàm Thuận Bắc).
Sau ngày 06/03/1946 địch chủ động gặp ta để bàn ký Hiệp định Sơ bộ ở địa
phương. Tuy nhiên Pháp đã bội ước và tiến hành tấn công chúng ta ở nhiều nơi. Để
phù hợp với tình hình mới ngày 25/06/1946 tỉnh thành lập trung đoàn 82. Ngày
20/12/1946 Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, trung ương Đảng
cử đồng chí Phạm Văn Đồng về Nam Trung Bộ để chỉ đạo, đối phó với địch trong
tình hình mới. Quân dân Bình Thuận liên tục tấn công địch, đánh 98 trận thu nhiều vũ
khí đạn dược. Tiêu biểu là trận đánh vào đồn Lầu Ông Hoàng ngày 14/06/1947. Ngoài
ra còn có các trận đánh khác ở Cầu Trại (Hàm Thuận), Xóm Lụa (Phú Long), Bàu Đá
(Tuy Phong), Thái An (Hòa Đa). Đây là thời điểm phong trào chiến tranh du kích của
tỉnh phát triển mạnh nhất, tiêu biểu là những chiến công của Cảm tử đội “Nguyễn
Thái Học” làm cho địch vô cùng khiếp sợ, cung cấp nhiều bài học cho những chặng
đường kháng chiến tiếp theo. Năm 1948, ta thành lập trung đoàn 812.
Năm 1949, Mặt trận Liên Việt, tỉnh Đoàn thanh niên và hội phụ nữ Cứu
Quốc được thành lập. Tháng 08/1949, đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất được
khai mạc, đồng chí Nguyễn Diêu được bầu làm Bí thư tỉnh ủy. Trong hai ngày 20-
21/01/1951 địch huy động cả tiểu đoàn đánh vào La Gàn, Cát Bay (Tuy Phong) giết
9
hại 178 người, bị thương 50 người, đốt 200 nóc nhà và giết hàng trăm trâu bò. Đây là
trận tàn sát dã man nhất Nam Trung Bộ. Ở Tam Giác (Hàm Thuận Bắc) chúng đánh
phá với cường độ chưa từng thấy, dân chúng phải sơ tán khắp nơi và có lúc dân số
4.000 người chỉ còn dưới 500 người. Địch chà đi xát lại ác liệt như vậy phong trào có
tổn thất, nhưng lực lượng ta vẫn đứng vững.
Căng Esepic từ năm 1946 là trường đào tạo sĩ quan ngụy, là căn cứ quân
sự khống chế Tây Nam Phan Thiết và vùng kháng chiến của Hàm Thuận. Ngày
28/12/1951 trung đoàn 812 đã bất ngờ tấn công diệt hơn 150 địch (trong đó có 1 tên
quan năm Pháp) thu 150 súng trường, 5 trung liên, 20 tiểu liên, 1 vô truyến điện,
hàng trăm thùng đạn, phá hủy 2 khẩu pháo và nhiều kho nguyên liệu. Ta phải huy
động 500 dân công mới mang hết số chiến lợi phẩm này về căn cứ.

10
chúng các xã Hàm Hiệp, Hàm Cường, Hàm Mỹ, Hàm Kiệm kéo về đồn Ngã Hai
(Hàm Mỹ) đưa kiến nghị đòi thi hành Hiệp định, địch bắn vào đoàn biểu tình làm 50
người chết và bị thương. Các nơi khác như Tánh Linh, Hòa Đa, Phan Lý, Hàm Tân
phong trào đấu tranh biểu tình của quần chúng cũng bị địch đàn áp, khủng bố.
Tháng 02/1955, Ngô Đình Diệm đề ra chính sách “Tố Cộng” nhằm tiêu
diệt tận gốc phong trào cách mạng ở miền Nam. Nhiều cán bộ kháng chiến và nhân
dân Bình Thuận bị tù đày, bị giết hại. Một số tên đầu hàng giặc (như Võ Xuân Viên)
làm tay sai chỉ điểm cho Diệm, gây tổn thất cho cách mạng. Biết Mỹ-Diệm không thi
hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 06/1955 tỉnh ủy Bình Thuận chuyển về khu Lê
Hồng Phong (Bắc Bình) để chỉ đạo phong trào. Tháng 12/1955, Tỉnh ủy Bình Thuận
mở Hội nghị tại Rừng Lớn (khu Lê Hồng Phong) và đã nhận định: “Ta chưa hướng
phong trào giữ đúng phương châm: có lý lẽ, có mức độ, đã để bộc lộ lực lượng”. Hội
nghị chủ trương: “tập hợp quần chúng bằng mọi hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp.
Lãnh đạo quần chúng đòi dân sinh dân chủ là chính, đồng thời chống địch khủng bố
trả thù những người kháng chiến cũ, đòi lập quan hệ bình thường giữa hai Miền và
tuyên truyền về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.
Một số tổ chức đoàn thể của ta như Hội Phụ Nữ Việt Nam tỉnh Bình
Thuận, Thanh Niên Lao Động, chuyển ra hoạt động hợp pháp và tạo được nhiều cơ sở
ở Bắc Bình, Hàm Thuận, Phan Thiết. Tháng 04/1957, địch triển khai thực hiện chính
sách dinh điền, lập khu trù mật, gom dân tại chỗ ở miền núi và chúng đưa dân các tỉnh
miền Trung lên khu vực Sông La Ngà lập các “khu dinh điền” nhằm đánh phá phong
trào cách mạng ở các tỉnh miền núi và Tây Nguyên. Nhiều thôn có đồng bào dân tộc
đã bỏ ra rừng, sống bất hợp tác với giặc làm cho âm mưu của chúng không thực hiện
được. Ngày 30/09/1957, 131 đồng chí của ta bị địch bắt ở Bình Thuận, đã bị đày ra
giam giữ tại Côn Đảo. Đây là chuyến tàu đầu tiên chở những người yêu nước Bình
Thuận bị địch kết án trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tháng 02/1959 nhân dân các dân tộc vùng núi Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận)
nổi dậy tấn công địch, không khí “Đồng Khởi” đã bắt đầu lan rộng ra toàn miền Nam.
Tháng 07/1959, tỉnh ủy Bình Thuận mở Hội nghị tại Ra Pú (Di Linh) bàn biện pháp

chiến lược,…làm chủ vùng tranh chấp ở đồng bằng,…xây dựng căn cứ ở vùng miền
núi”. Ở Thuận Phong quần chúng phá trên 5000 mét rào ấp chiến lược. Tại Phan
Thiết, Hàm Thuận phong trào cũng nổi dậy mạnh mẽ, buộc địch phải co lại. Ngày
04/08/1962 ta đánh Chi khu Hàm Tân, địch chết và bị thương 136 tên, bắt sống 11
tên, thu toàn bộ vũ khí. Ngày 05/08 một đại đội bảo an của địch chi viện cho Chi khu
Hàm Tân, cũng bị ta phục kích tấn công thiệt hại nặng. Đến cuối năm 1962, ta giữ
vững 9 xã căn cứ miền núi, 12 xã đồng bằng với hơn 9.000 dân.
Phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh tại Phan Thiết. Ngày
04/08/1962 hàng ngàn phật tử, học sinh, giáo chức,… biểu tình kéo đến dinh tỉnh
trưởng. Hòa Thượng Thích Minh Hương đã tự thiêu trước dinh tỉnh trưởng Bình
Thuận để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp phật tử. Tháng 11/1963 học
sinh trường Phan Bội Châu và trường trung học Bồ Đề (nay là Trường Tuyên Quang)
đã đập phá tượng Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và đòi chính quyền địch
sửa đổi chương trình giáo dục, thực hiện dân chủ trong nhà trường, không được bắt
học sinh đi quân dịch.
Năm 1964 địch lập “Biệt khu Bình Lâm” đóng tại Phan Thiết để điều hành
các cuộc hành quân càn quét từ Bình Thuận đến Lâm Đồng. Từ tháng 01 đến tháng
04/1964 địch mở 29 cuộc càn quét suốt dọc giáp ranh Bình Thuận-Lâm Đồng và cả
các xã giải phóng của Hàm Thuận. Địch dùng máy bay rải chất độc hóa học, bỏ thuốc
độc vào nguồn nước, thức ăn để giết hại đồng bào, chiến sỹ ta…làm cho ta gặp nhiều
khó khăn. Cuối năm 1965, ta vừa xây dựng lực lượng, vừa tiếp tục tấn công địch, phá
tan nhiều ấp chiến lược. Vùng giải phóng được mở rộng nối liền căn cứ Hoài Đức-
Tánh Linh với Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
“Chiến tranh đặc biệt” với âm mưu “Dùng người Việt trị người Việt”
thất bại, Mỹ chuyển sang “Chiến lược chiến tranh cục bộ” với lực lượng quân Mỹ
trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Tháng 11/1965 bộ phận tiền trạm
Thủy quân lục chiến của Mỹ đã đến Bình Thuận. Chúng thực hiện kế hoạch “Mùa
khô lần I” mở các đợt đánh phá vào Hoài Đức, Thuận Phong, Hàm Thuận, vùng ven
12
Phan Thiết nhằm đánh chiếm vùng giải phóng, tiếp tục dồn dân lập Ấp chiến lược.

chư hầu, bắn cháy 5 xe, bảo vệ được dân và các cơ quan của ta. Tại Bàu Ốc, ngày
08/11/1967 ta cũng diệt gần 700 tên, phá hủy 47 xe quân sự và bắn rơi 4 máy bay.
Tháng 12/1967 Quân ủy khu VI hạ quyết tâm: “ phối hợp chung với toàn
miền trong cuộc tấn công và nổi dậy sắp đến, Quân khu tập trung đánh dứt điểm hai
thị xã lớn là Phan Thiết và Đà Lạt”. Tại Phan Thiết cơ quan chỉ huy tiền phương
được thành lập, hơn 70 tấn vũ khí, thuốc men, lương thực, thực phẩm được đưa vào
ém sát vùng ven thị xã. Đêm 30 tết Mậu Thân 1968 quân ta đã làm chủ nhiều đô thị ở
miền Nam. Ở Bình Thuận do nhận nhiệm vụ chậm nên yếu tố bất ngờ không còn,
mùng 3 tết (01/02/1968) ta bắt đầu nổ súng tấn công Phan Thiết. Sau một ngày chiến
đấu ta làm chủ 2/3 đồn địch, trong đó có những địa điểm trọng yếu của địch như: đồn
Trinh Tường, Chi khu Châu Thành, Căng ESEPIC, Cổng chữ Y. Sau 3 đợt tấn công ta
đã làm chủ được nhiều khu vực và giải thoát cho hơn 700 cán bộ, đồng bào ta bị giam
13
giữ tại Lao Xá. Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng, tiêu biểu là Trung đội trưởng Từ
Văn Tư, mặc dù bị gãy hai chân, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu, động viên anh em cho
đến lúc hy sinh: “Nếu có chết hãy quay đầu về hướng giặc mà chết”, trở thành tấm
gương sáng cho đồng đội noi theo. Trong năm 1968, ta đã đánh 1.026 trận, tấn công
hầu hết các mục tiêu quân sự quan trọng của địch, tiêu diệt 14.276 địch (có nhiều tên
Mỹ), phá hủy 175 xe quân sự, 5 khẩu pháo, bắn hạ 77 máy bay, thu 250 súng các loại.
Không thắng ta sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968,
Mỹ chấp nhận đàm phán với ta ở PaRi. Nhưng với bản chất ngoan cố Mỹ tiếp tục tiến
hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với chương trình bình định nông thôn là
“trụ cột” là “xương sống”. Địch tăng cường hệ thống phòng thủ các thị trấn, thị xã,
các trụ lộ giao thông với hệ thống lô cốt, đồn bót (vành đai bao quanh Phan Thiết dài
trên 5.000 mét). Chúng còn tăng cường cho Bình Thuận một Chiến đoàn thiết giáp
gồm có 120 xe tăng và xe bọc thép, đưa Sư đoàn 23 của ngụy về đứng chân và hoạt
động tại Sông Mao.
Ngày 22/02/1969 ta tấn công vào Căng ESEPIC phá hủy nhiều phương tiện
chiến tranh của Mỹ, quân tiếp viện từ Sông Mao vào cũng bị ta chặn đánh. Địch dùng
máy bay bắn phá. Du kích xã Cà Lon (nay là Phan Sơn) là ngọn cờ đầu cho phong

Bình Thuận để giám sát việc thực hiện Hiệp định PaRi. Tuy nhiên địch vẫn tiếp tục
đánh phá vào các vùng giải phóng của ta. Trong năm 1973, ta đánh 800 trận, loại khỏi
vòng chiến 2.472 tên địch, thu nhiều vũ khí.
Năm 1974, ta đẩy mạnh đấu tranh chính trị. Ở Tuy Phong 100% học sinh
bãi khóa không đến trường. Công tác binh vận đạt nhiều kết quả vì hầu hết anh em
đều bị cưỡng bức vào binh lính chống lại cách mạng. Nhờ thông qua tuyên truyền về
chính sách của ta, một số binh lính giác ngộ tốt đã trở thành cơ sở nội tuyến phục vụ
đắc lực cho nhiều trận đánh đồn, diệt ác có kết quả. Ở vùng giải phóng ta còn tăng gia
sản xuất và chú trọng phát triền văn hóa, giáo dục, y tế. Đối với địch chúng tiếp tục di
dân ở miền Trung vào, tiến hành lấn chiếm bình định (san ủi ruộng đất của bà con địa
phương) nhiều vùng ở Hoài Đức, Tánh Linh, Hàm Tân.
Hoài Đức, Tánh Linh là địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với
cả ta và địch, vì ai làm chủ được vùng này sẽ chia cắt được Đông Nam Bộ và Tây
Nguyên, xác lập bàn đạp tấn công Sài Gòn từ hướng Đông. Chính vì thế đêm ngày 09
rạng sáng ngày 10/12/1974 ta nổ súng đồng loạt tấn công giải phóng Hoài Đức-Tánh
Linh. Sau 3 tiếng chiến đấu, tiểu đoàn 200C của ta đã làm chủ cao điểm Lồ Ồ, chi khu
Tánh Linh rơi vào tình thế bị uy hiếp hết sức nghiêm trọng. Cùng thời gian này tiểu
đoàn 812 đã chiếm hết các mục tiêu quan trọng như: Đồi Giang, Xã Dú, Huy Khiêm
bao quanh Chi khu Quận lỵ Hoài Đức, đồng thời ta diệt luôn Chi khu Sùng Nhơn hỗ
trợ cho đồng bào nổi dậy làm chủ. 12 giờ trưa ngày 24/12/1974 Chi khu Tánh Linh
được giải phóng. Từ ngày 03 đến ngày 09/01/1975 ta bao vây và tấn công Chi khu
Hoài Đức nhưng do địch còn mạnh nên ta chưa giải phóng được, tuy nhiên toàn bộ
vùng nông thôn đã được giải phóng. Chiến thắng này góp phần vào chuyển biến tình
hình, tạo tiền đề cho cuộc tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn quê hương.
Ngày 16/03/1975 trung đoàn 812 cùng bộ đội địa phương tiếp tục tấn
công Chi khu Hoài Đức. Sau 3 ngày chiến đấu ta đã chiếm được một số mục tiêu
vòng ngoài. Sáng 20/03/1975 có sự hỗ trợ của pháo binh, ta đã giải phóng Chi khu
Hoài Đức và ngày 23/03/1975 huyện Hoài Đức được hoàn toàn giải phóng.
Ngày 24/03/1975 Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng, 27/03/1975 ta giải
phóng Lâm Đồng và ngày 01/04 bọn địch ở Đà Lạt đã tháo chạy về Phan Rang. Ngày

hóa thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân đều thiếu thốn nghiêm trọng. Hơn 300.000
đồng bào từ các khu tập trung, Ấp chiến lược trở về làng cũ thiếu nơi ăn, chốn ở, việc
làm. Các đảng phái phản động, ngụy quân, ngụy quyền vẫn ngấm ngầm hoạt động
chống phá cách mạng.
Trước những khó khăn đó Trung ương đã chi viện cho Bình Thuận một
khối lượng lớn nguyên vật liệu, nhu yếu phẩm và cán bộ khoa học kỹ thuật để ta
nhanh chóng ổn định tình hình. Ta tiến hành cải tạo những ngụy quân, ngụy quyền đã
ra trình diện và phần đông đã được cho về quê cũ làm ăn sinh sống. Đối với nông dân
ta thực hiện “người cày có ruộng”, tịch thu ruộng đất của số điền chủ, tư sản mại bản,
cầm đầu ngụy quân ngụy quyền chia cho nông dân nghèo. Chỉ tính 4 huyện: Hàm
Thuận, Thuận Phong, Phan Lý, Hòa Đa ta đã thu hồi 4.693 ha ruộng đất chia cho
8.090 hộ nông dân với 58.574 nhân khẩu. Các đập nước Đá Dựng (Hàm Tân), Cây
Xoài (Tánh Linh), Trà Tân (Hoài Đức), Cà Tót (Hàm Thuận), Vĩnh Hảo (Tuy Phong)
đều được sửa chữa nâng cấp để phục vụ nước tưới cho những vùng khô hạn. Các làng
nghề đánh cá, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp cũng được khôi phục giúp cho nhân dân
nhiều nơi vượt qua cảnh thiếu đói, thất nghiệp, thiếu việc làm.
Từ ngày 10/09 đến 30/10/1975 ta tiến hành hai đợt cải tạo XHCN tấn
công vào giai cấp tư sản mại bản có quyền lợi gắn chặt với đế quốc. Nhà nước thu giữ
một số cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà hàng, kho tàng, phương tiện lưu thông, vàng
bạc, kim loại quý. Các nhu yếu phẩm đều do nhà nước thống nhất quản lý và phân
phối.
Những ngày lễ lớn ta tổ chức triển lãm hình ảnh tuyên truyền về cuộc đời
hoạt động của Bác Hồ, thành tích xây dựng XHCN ở miền Bắc, thành tích kháng
chiến chống Mỹ ở miền Nam, đông đảo quần chúng đến xem và hưởng ứng. Văn hóa
16
của chế độ cũ, các hủ tục lạc hậu bị ngăn cấm, xóa bỏ. Các trường học được mở cửa,
tạo điều kiện cho con em sớm được đến trường. năm học mới đầu tiên 1975-1976 cấp
I có 38.619 học sinh, cấp II có 5.382 học sinh. Công tác chữa bệnh ở các cơ sở y tế
cũng đã được khôi phục. Nhìn chung Bình Thuận, Bình Tuy đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ tiếp quản, ổn định kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng sau giải phóng.

Về giáo dục, ta ưu tiên xóa nạn mù chữ nên phong trào học bổ túc văn
hóa trong các cơ quan, đơn vị vũ trang phát triển mạnh. Các huyện thị đã có trường
cấp III, một số nơi có trường Mẫu giáo. Toàn tỉnh trung bình cứ 4 người dân thì có 1
người đi học.
Trong lúc ta đẩy mạnh cải tạo XHCN một cách toàn diện và triệt để thì
các thế lực phản động phản ứng ngày càng gay gắt quyết liệt. Bọn phản động trong
người Hoa, trong Thiên Chúa giáo và phản động Fulro… lập các tổ chức chống phá
cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị thời cơ lật đổ chính quyền. Ta đã
17
tổ chức nhiều đợt truy quét, xóa sổ tiểu đoàn Fulro do Huỳnh Ngọc Sắng cầm đầu,
xóa sổ “Mặt trận phục quốc cứu nguy dân tộc” ở Lương Sơn và một số tổ chức phản
động khác ở Phan Thiết, Hàm Tân…an ninh chính trị được giữ vững, nhân dân tin
theo chính quyền cách mạng.
Từ ngày 16 đến 23/10/1979 Đại hội Đảng Bộ tỉnh Thuận Hải lần thứ II
được triệu tập, đề ra phương hướng nhiệm vụ trong hai năm 1980-1981 “giải quyết
vững chắc vấn đề lương thực thực phẩm, Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các
ngành kinh tế, bảo đảm trật tự an ninh quốc phòng”.
Từ ngày 03 đến 07/03/1983 Đại hội Đảng Bộ tỉnh Thuận Hải lần thứ III
được tổ chức. Trong năm 1985 hàng hóa khan hiếm, đồng tiền mất giá trị sử dụng, thị
trường rối loạn, phân phối lưu thông và xuất nhập khẩu không được quản lý làm ảnh
hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân. Kinh tế quan liêu bao cấp trở nên
không phù hợp nữa, đổi mới trở thành một yêu cầu bức thiết để vượt qua khó khăn,
xây dựng xã hội phồn vinh hạnh phúc.
3.Bình Thuận thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Việt Nam 1986-2000:
Từ ngày 13 đến 18/10/1986 Đại hội Đảng Bộ tỉnh Thuận Hải lần thứ IV
đã khẳng định “…nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện ba chương trình kinh tế nhằm giải
quyết một cách căn bản nhu cầu lương thực, hàng tiêu dùng thiết yếu, tăng nhanh
kim ngạch xuất khẩu…”. Triển khai thực hiện nghị quyết 10 của Bộ chính trị và nghị
quyết 05 của tỉnh ủy, từ 1988 ta đã thực hiện cơ chế khoán mới (khoán 10) giao ruộng

không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Hoạt động kinh tế đối ngoại
bước đầu có chuyển biến, nhất là trên lĩnh vực gọi vốn đầu tư nước ngoài. Năm 1996
Bình Thuận có 10 dự án với tổng số vốn là 44,31 triệu USD.
Văn hóa-Giáo dục-Y tế được tiếp tục phát triển theo hướng xã hội hóa.
Trường Dân Tộc Nội trú được thành lập vào năm 1993 tạo nhiều cơ hội cho con em
các đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện đến trường, góp phần nâng cao trình độ
dân trí, phát triển kinh tế xã hội ở vùng sâu vùng xa. Diện đói nghèo thu hẹp dần,
giảm từ 32,4% xuống còn 25,6%, số hộ giàu tăng lên. Cuộc vận động đền ơn đáp
nghĩa, xây nhà tình nghĩa, tình thương, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, các hoạt
động nhân đạo từ thiện… được toàn dân hưởng ứng đem lại hiệu quả thiết thực. Các
công trình văn hóa (tháp PôShanInu, Dinh vạn thủy tú,…) được trùng tu tôn tạo. Các
lễ hội của đồng bào Chăm, đồng bào Hoa được sưu tầm bảo tồn.
Bước vào đầu thế kỷ XXI, Bình Thuận trở thành “thủ đô” ReSort của
Việt Nam. Mũi Né Phan Thiết có tên trên bản đồ du lịch thế giới, giúp cho ngành
“công nghiệp không khói” của Bình Thuận phát triển mạnh, thu hút số lượng lớn nhân
công lao động. Khu công nghiệp Phan Thiết ngày càng phát triển. Thủy điện Hàm
Thuận-Đa Mi, thủy điện Đại Ninh liên tiếp được xây dựng. Ngành công nghiệp khai
thác dầu khí như mỏ Sư tử vàng, Sư tử đen ngoài khơi Bình Thuận bước đầu đem lại
nguồn thu ngân sách lớn cho tỉnh. Cây thanh long Bình Thuận xuất khẩu qua Mỹ và
thị trường Châu Âu tạo cơ hội cho Bình Thuận vươn xa, khẳng định đường lối đổi
mới của Đảng là đúng đắn, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.
*****
19

Nguyễn Thông (1827-1884)
Căn cứ La Bá (Tuy Phong)
Mộ Lãnh binh Nguyễn Văn Luận (Trái), Mộ Phạm Đoan (Phải)
20
Ga xe lửa Phan Thiết năm 1903
Cầu Quan và tháp nước Phan Thiết thời Pháp thuộc

Xe lửa quân sự Pháp bị ta đánh lật trên đoạn đường
Phan Thiết-Mương Mán năm 1953
25

Trích đoạn V.GIÁO ÁN LÊN LỚP: VI.BÀI TẬP THỰC HÀNH:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status