BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ðỖ THỊ KIM CÚC
XÁC ðỊNH NHU CẦU BẢO HIỂM TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT
TRÊN ðỊA BÀN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ : 60.62.01.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ðÌNH THAO HÀ NỘI – 2014
tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn; Ban quản
lý ðào tạo – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; ñặc biệt là sự quan tâm, chỉ
dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS. Trần ðình Thao ñã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cá nhân trong các tổ
chức kinh tế,Phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập
tài liệu phục vụ cho luận văn.
Qua ñây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn ñối với gia ñình và bạn bè ñã
giúp ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
2.2.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về Bảo hiểm nông nghiệp 42
2.2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan ñến bảo hiểm nông nghiệp 44
PHẦN III ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 ðặc ñiểm ñịa bàn nghiên cứu 46
3.1.1 ðặc ñiểm tự nhiên của ñịa bàn nghiên cứu 46
3.1.2 ðiều kiện kinh tế-xã hội của ñịa bàn nghiên cứu 48
3.2 Phương pháp nghiên cứu 56
3.2.1 Khung phân tích 56
3.2.2 Phương pháp tạo dựng thị trường- ðánh giá ngẫu nhiên(Contingent
Valuation Method(CVM) [5] 57
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 63
3.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 64
3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 65
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu ñánh giá 66
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 68
4.1 Tình hình bảo hiểm nông nghiệp của huyện Văn Giang 68
4.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp và chính sách bảo hiểm 68
4.1.2 Tình hình bảo hiểm sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Giang 70
4.2 Tình hình bảo hiểm trong chăn nuôi lợn của huyện Văn Giang 71
4.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn thịt 71
4.2.2 Tình hình tham gia bảo hiểm của chăn hộ chăn nuôi 78
4.3 Xác ñịnh nhu cầu bảo hiểm 82
4.3.1 Nhu cầu tham gia bảo hiểm 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.3.2 Xác ñịnh mức ñóng bảo hiểm 82
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng ñến mức ñóng bảo hiểm 85
4.3.4 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng ñến nhu cầu tham gia
qua 3 năm (2011-2013) 69
4.2 Tình hình chăn nuôi lợn thịt của huyện qua 3 năm (2011-2013) 72
4.3 Mức thanh toán bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt 80
4.4 Kết quả WTP thu ñược sau ñiều tra 83
4.5 Số người ñồng ý và không ñồng ý trả tiền theo các mức chi trả
ñề xuất 84
4.6 Ảnh hưởng của giới ñến mức WTP 85
4.7 WTP theo trình ñộ học vấn 86
4.8 WTP theo quy mô chăn nuôi 87
4.9 WTP theo ñộ tuổi của người ñược hỏi 88
4.10 WTP theo số người trong hộ 89
4.11 WTP theo số lao ñộng trong hộ 90
4.12 WTP theo chi tiêu của hộ hàng tháng 90
4.13 WTP theo mức thu nhập hộ hàng tháng 91
4.14 WTP theo thu nhập ñể chi tiêu 91
4.15 WTP theo ñiều kiện sống 92
4.16 WTP theo những người ñã nghe về các vấn ñề dịch bệnh tại
huyện Văn Giang 93
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
4.17 WTP theo ñánh giá của những người ñược hỏi về dịch bệnh 94
4.18 WTP và ý kiến của người ñược phỏng vấn về phòng chống dịch
bệnh ở lợn thịt 94
4.19 WTP theo thái ñộ của người ñược hỏi về sự hy sinh thu nhập ñể
phòng ngừa dịch bệnh 95
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
3.3 Các bước tiến hành phương pháp tạo dựng thị trường 61
3.2 Khung phân tích 56
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia bảo hiểm của hộ
chăn nuôi 100Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I. MỞ ðẦU
1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Việt Nam là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lớn với hơn
70% dân số sống bằng nghề nông. Lao ñộng nông nghiệp chiếm trên 80% lao
ñộng nông thôn và trên 70% lao ñộng trong toàn xã hội. Nông nghiệp từ lâu
luôn ñóng một vai trò quan trọng ñối với nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nông
nghiệp không những ñảm bảo chiến lược an ninh lương thực, cung cấp
nguyên liệu cho các ngành kinh tế, tham gia xuất khẩu mà còn là thị trường
lao ñộng cho hàng chục triệu người Việt Nam. Trong tương lai kinh tế nông
nghiệp sẽ vẫn giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển công nghiệp hoá
hiện ñại hoá ñất nước.
Tuy nhiên nông nghiệp luôn là lĩnh vực phải gánh chịu rất nhiều thiệt
hại nặng nề do thiên tai gây ra, mặt khác với phương thức sản xuất manh
mún, nhỏ lẻ quy mô hộ gia ñình, chủ yếu dựa vào sức lao ñộng, không sản
xuất theo kế hoạch mà theo tập quán ñã làm ảnh hưởng lớn ñến sự phát triển
bền vững. Những rủi ro này ñã tác ñộng không nhỏ ñến ñời sống của người
dân, nhất là dân cư sống trong khu vực nông thôn.
Trong những năm qua, công tác phòng ngừa, cứu trợ, khắc phục hậu
quả thiên tai, dịch bệnh nhìn chung ñã góp phần hỗ trợ cho người dân ổn ñịnh
ñời sống, khôi phục sản xuất. Nhưng do nguồn tài chính của xã hội và nhà
bảo hiểm nông nghiệp là rất thấp chỉ khoảng 1% tổng diện tích cây trồng;
0,24% số trâu-bò; 0,1% ñàn lợn và 0,04% số gia cầm ñược bảo hiểm. Theo
Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn thì tính từ khi triển khai
thí ñiểm bảo hiểm nông nghiệp ñến hết ngày 30-4-2013, cả nước có 234.235
hộ dân ñã tham gia ký hợp ñồng bảo hiểm nông nghiệp, trong ñó có 80,8% là
hộ nghèo. Tổng giá trị bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, thủy sản hơn 5,4 nghìn tỷ
ñồng, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc là 303,3 tỷ ñồng. Trong ñó, về vật
nuôi, tổng số vật nuôi tham gia bảo hiểm nông nghiệp là 623.131 con (trâu,
bò, lợn, gia cầm); tổng số hộ tham gia bảo hiểm là 29.163 hộ [25].
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Một trong những nguyên nhân dẫn ñến tỷ lệ tham gia bảo hiểm nông
nghiệp thấp là do rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn và thường
xuyên, mặt khác ñối tượng ñược bảo hiểm là những cơ thể sống chịu tác ñộng
mạnh của các yếu tố thiên nhiên dẫn ñến công tác quản lý rủi ro, ñánh giá rủi
ro và mức ñộ thiệt hại gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh ñó, còn do một số tác
nhân khác như: ñặc thù sản xuất nông nghiệp Việt Nam là nhỏ lẻ, manh mún,
tập quán sản xuất ; rủi ro ñạo ñức; thị trường tái bảo hiểm các nghiệp vụ
nông nghiệp còn gặp rất nhiều rào cản, khó khăn; thiếu kinh nghiệm; cơ chế
chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa ñủ mạnh ñể khuyến khích bảo hiểm
nông nghiệp…
Văn Giang là một huyện có ngành chăn nuôi rất phát triển ñặc biệt là chăn
nuôi lợn thịt, tuy nhiên trong những năm gần ñây, hoạt ñộng sản xuất kinh doanh
trong nông nghiệp của huyện gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, nhất là
ñối với ngành chăn nuôi. Chính vì vậy, nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp ngày
càng trở nên thiết thực hơn ñối với người chăn nuôi cả nước nói chung và người
chăn nuôi lợn thịt của huyện Văn Giang nói riêng.
Từ thực tế trên, các câu hỏi ñang ñặt cho các nhà quản lý của huyện Văn
tỉnh Hưng Yên.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Những lý luận cơ bản về cầu, nhu cầu, bảo hiểm, bảo hiểm nông
nghiệp của huyện là gì?
(2) Tình hình chăn nuôi lợn thịt của các hộ trên ñịa bàn huyện Văn
Giang như thế nào?
(3) Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp và xác ñịnh nhu cầu bảo hiểm
trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ trên ñịa bàn huyện như thế nào?
(4) Những yếu tố nào ảnh hưởng ñến nhu cầu tham gia bảo hiểm trong
chăn nuôi lợn thịt của các hộ trên ñịa bàn huyện?
(5) Giải pháp nào cần ñưa ra ñể thúc ñẩy, thu hút sự tham gia bảo hiểm
nông nghiệp trong chăn nuôi lợn thịt trên ñịa bàn huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên trong thời gian tới?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
1.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 ðối tượng nghiên cứu
* ðối tượng nghiên cứu:
- Các hoạt ñộng có liên quan ñến quá trình chăn nuôi lợn thịt và nhu
cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ trên ñịa bàn huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên.
* ðối tượng ñiều tra:
- Các trang trại, hộ chăn nuôi lợn thịt trên ñịa bàn huyện Văn Giang,
tỉnh Hưng Yên;
- Công ty bảo hiểm và các cơ quan chức năng có liên quan trên ñịa bàn
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên;
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp
chỉ ra rằng ở một mức giá cụ thể nào ñó thì số lượng hàng hóa dịch vụ mà
những người tiêu dùng trên thị trường sẽ mua vào là bao nhiêu.
Người mua hay người tiêu dùng chỉ có cầu về một hàng hoá nào ñó khi
anh ta có ñủ khả năng tài chính ñể trả cho việc mua hàng. Cũng chính vì thế,
cầu không chỉ biểu hiện ở một số yếu tố là lượng hàng hoá mà người mua
mua ñược, mà còn ở yếu tố thứ hai là giá của hàng hoá ñó. Trong khi cầu là cả
mối quan hệ giữa lượng cầu và giá, thể hiện hành vi hoặc sự phản ứng của
người mua ñối với sự thay ñổi của giá cả, thì lượng cầu chỉ là một lượng cụ
thể về yêu cầu tại một mức giá nhất ñịnh, nó không phản ánh ñược hành vi
của người tiêu dùng.
b.Cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu cá nhân: Là ứng xử của một cá nhân khi muốn mua một hàng hoá
hay dịch vụ nào ñó.
Cầu thị trường: Là tổng lượng hàng hoá và dịch vụ mà mọi người sẵn
sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian
nhất ñịnh. Cầu thị trường là tổng các nhu cầu cá nhân về một hàng hóa hay
một dịch vụ cụ thể.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Cầu thị trường bao gồm tổng cầu cá nhân trên thị trường. Về mặt khái
niệm, ñường cầu thị trường ñược xác ñịnh bằng cách cộng theo phương nằm
ngang tất cả các ñường cầu cá nhân.
c.Quy luật cầu
Một ñiểm chung của các ñường cầu thị trường là có xu hướng nghiêng
xuống dưới và phía bên phải. Nghĩa là khi giá của hàng hoá và dịch vụ giảm
thì lượng cầu tăng lên. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch này giữa giá và lượng cầu
của hàng hoá là rất phổ biến. Các nhà kinh tế gọi ñây là quy luật cầu.
P
Lượng cầu
Giá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
d.Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu:
Có một số yếu tố cơ bản mà khi cho một trong các yếu tố này thay ñổi,
cầu về hàng hoá, dịch vụ sẽ thay ñổi theo. Các nhân tố này gồm:
- Thu nhập của người tiêu dùng (Income): Thu nhập ảnh hưởng trực
tiếp ñến khả năng thanh toán của người tiêu dùng. ðối với ña số các hàng hoá
thông thường, thu nhập có ảnh hưởng cùng chiều với cầu về hàng hoá ñó, tức
là khi thu nhập tăng lên, cầu về hàng hoá thông thường cũng tăng lên và
ngược lại. Với một số các hàng hóa ñặc biệt hoặc hàng hoá thứ cấp, thu nhập
có ảnh hưởng ngược chiều với cầu.
- Giá của các hàng hoá, dịch vụ có liên quan (Price of Related Goods):
Hàng hoá có liên quan bao gồm hai loại là hàng bổ sung và hàng thay thế.
Hai hàng hóa ñược gọi là thay thế khi người ta có thể sử dụng hàng hóa
này thay thế cho hàng hóa kia và ngược lại mà không làm thay ñổi giá trị sử
dụng của chúng. Khi giá hàng hóa này tăng làm giảm cầu hàng hóa kia.
Hai hàng hóa ñược gọi là bổ sung khi sử dụng hàng hóa này thì phải
kèm theo hàng hóa kia. Khi giá hàng hóa này tăng làm giảm cầu hàng hóa kia.
- Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng(Tastes and Preferences): Sở
thích, thị hiếu có ảnh hưởng lớn ñến cầu của người tiêu dùng vì nó phản ảnh
sự ưu tiên của người tiêu dùng cho việc mua hàng hoá. Mỗi cộng ñồng có tiêu
chuẩn và tập quán riêng về ăn uống, tiêu dùng. Vì thế, cầu về một hàng hoá,
dịch vụ nào ñó rất khác nhau tuỳ theo thị hiếu, tập quán tiêu dùng của người
tiêu dùng.
con người cảm nhận ñược”. ðây là trạng thái ñặc biệt của con người, xuất
hiện khi con người tồn tại, sự thiếu hụt ñó ñòi hỏi phải ñược thoả mãn, bù
ñắp. Nhu cầu thường rất ña dạng tuỳ thuộc vào từng cá nhân, xã hội và ñiều
kiện sống. Trên thực tế, mỗi cá nhân ñều phải làm cái gì ñó ñể cân bằng trạng
thái tâm lý của mình: ăn, uống, hít thở không khí, mua sắm quần áo, hay ñi
chơi với bạn bè,… ñó chính là nhu cầu.
Nhu cầu có thể hết sức ña dạng, muôn hình muôn vẻ. ðó có thể là nhu
cầu về mặt vật chất (tiền bạc, của cải,…) hoặc nhu cầu về mặt tinh thần (giải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
trí, thư giãn,…). [19]
* Theo Abraham H.Maslow:
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người ñược chia làm hai nhóm
chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) [18].
Nhu cầu cơ bản liên quan ñến các yếu tố thể lý của con người như mong
muốn có ñủ thức ăn, nước uống, ñược ngủ nghỉ, Những nhu cầu cơ bản này
ñều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không ñược ñáp ứng ñủ
những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại ñược nên họ sẽ ñấu tranh ñể có ñược và
tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên ñược gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự ñòi hỏi công bằng,
an tâm, vui vẻ, ñịa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,…
Các nhu cầu cơ bản thường ñược ưu tiên chú ý trước so với những nhu
cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống, họ sẽ không
quan tâm ñến các nhu cầu về vẻ ñẹp, sự tôn trọng, (ñồ thị 2.2: Tháp nhu cầu). ðồ thị 2.2: Tháp nhu cầu
- Tầng thứ tư: Nhu cầu ñược quý trọng, kính mến (esteem) - cần có
cảm giác ñược tôn trọng, kinh mến, ñược tin tưởng.
- Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) -
muốn sáng tạo, ñược thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có
ñược và ñược công nhận là thành ñạt.
* Theo Thonon Armand: Nhu cầu là toàn bộ mong muốn của con người
ñể có thể có một số của cải vật chất hay dịch vụ ñể làm bớt khó khăn của họ
hay tăng phúc lợi cho cuộc sống của họ [3]. Theo cách chia của ông nhu cầu
của con người có thể ñược chia làm hai loại: Thứ nhất là nhu cầu về sinh lý,
thứ hai là nhu cầu về xã hội.
2.1.3 Thặng dư người tiêu dùng và mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay)
* Thặng dư người tiêu dùng
Thặng dư người tiêu dùng khi tiêu dùng một ñơn vị hàng hóa nào ñó
(CS) là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích cận biên của người tiêu
dùng (MU) với chi phí thực tế ñã trả (MC) cho ñơn vị hàng hóa ñó.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Nếu so sánh ñường cầu và ñường lợi ích cận biên ta thấy giữa chúng có
sự tương ñồng. ðiều ñó có nghĩa là, ñằng sau ñường cầu chứa ñựng lợi ích
cận biên giảm dần của người tiêu dùng hay chính quy luật lợi ích cận biên
giảm dần ñã làm cho ñường cầu dốc xuống dưới (MU = D).
ðồ thị 2.3: Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư người tiêu dùng
Trong ñó: P là giá hàng hóa
Q là khối lượng hàng hóa trên thị trường
P*, Q* là giá và khối lượng hàng hóa cân bằng trên thị trường
Tại A là mức giá P
A
một ñơn vị hàng hóa ñược gọi là chi phí cận biên MC. Trên thị trường giá một
ñơn vị hàng hóa là P, có nghĩa là P = MC. Người tiêu dùng sẽ quyết ñịnh mức
tiêu dùng hợp lý khi có sự so sánh giữa lợi ích tăng thêm và chi phí tăng thêm
khi dùng thêm một ñơn vị hàng hóa hay mức tiêu dùng tối ưu ở Q* ñể ñạt
ñược tổng lợi ích tối ña (tính ñến chi phí bỏ ra) của người tiêu dùng hàng hóa
là ñiểm có thỏa mãn ñiều kiện:
Q* tại MU = MC = P* (ñiểm B)
* Mức sẵn lòng chi trả (WTP) – Thước ño giá trị kinh tế
Thực chất mức sẵn lòng chi trả chính là biểu hiện sở thích người tiêu
dùng của khách hàng. Thông thường, khách hàng thông qua giá thị trường
(MP) ñể thanh toán hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng. Nhưng có nhiều
trường hợp tự nguyện chấp nhận chỉ cao hơn giá trị thị trường ñể ñược tiêu
dùng và mức này cũng khác nhau.
Mức sẵn lòng chi trả chính là thước ño của sự thỏa mãn và mức sẵn
lòng chi trả cho mỗi ñơn vị thêm là giảm xuống khi khối lượng tiêu dùng tăng
thêm. ðây chính là quy luật về ñộ thỏa dụng cận biên giảm dần. Do vậy,
ñường cầu ñược mô tả giống như ñường “sẵn lòng chi trả” và mức sẵn lòng
chi trả cũng ñược coi như thước ño của lợi ích, ñường cầu là cơ sở xác ñịnh
lợi ích cho xã hội từ việc tiêu dùng một loại hàng hóa nhất ñịnh.
Mối quan hệ này ñược thể hiện như sau:
WTP = MP + CS
Trong ñó: WTP là mức sẵn lòng chi trả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
MP là chi phí theo giá thị trường
CS là thặng dư người tiêu dùng
Trong thị trường hàng hóa X, thì giá thị trường ở mức cân bằng ñối với
hàng hóa X ñược xác ñịnh bởi quan hệ cung cầu là P* và áp dụng cho tất cả mọi
- Một số từ ñiển khác ñưa ra các khái niệm tương tự như: “Rủi ro là sự
bất trắc gây ra mất mát, hư hại” hay “Rủi ro là yếu tố liên quan ñến nguy
hiểm, sự khó khăn ñiều không chắc chắn”
- Trong kinh doanh, tác giả Hồ Diệu cho rằng “Rủi ro là sự tổn thất
về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
hoặc ”Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác ñộng xấu ñến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp”.
Như vậy theo trường phái truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại,
mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan ñến nguy hiểm, khó khăn,
hoặc ñiều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”.
• Theo phái trung hoà
- Rủi ro là sự bất trắc có thể ño lường ñược (Frank Knight)
- Rủi ro là là sự bất trắc có thể liên quan ñến việc xuất hiện những biến
cố không mong ñợi (Allan Willentt).
- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể ño lường ñược bằng
xác suất (Irving Preffer).
- Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết ñến.
- Rủi ro là sự biến ñộng tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện
trong hầu hết mọi hoạt ñộng của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự
ñoán ñược chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn ñịnh.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành ñộng dẫn ñến khả năng ñược
hoặc mất không thể ñoán trước ñược (C.Arthur Willam, Jr Smith).
Như vậy rủi ro là “sự bất trắc có thể ño lường ñược…” Rủi ro vừa
mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang ñến những tổn
thất, mất mát nguy hiểm… cho con người, nhưng ñồng thời cũng có thể dẫn